Subscribe:Posts Comments

You Are Here: Home » Các tài liệu khác » Các nhân đức, một nghệ thuật sống

Phần Ba

CÁC BẢN ĐỨC

Chương 13

ĐỨC CAN ĐẢM

Các bản đức của thời đại chúng ta là: công bằng, trung tín, tự trọng và khôn ngoan. Tôi đã nghiên cứu chúng cách riêng rẽ trong các chương trước. Ba bản đức đầu tiên mời gọi chúng ta đối xử với mỗi người cách công bình; chúng thúc giục chúng ta thắt chặt các mối quan hệ và gìn giữ chúng đồng thời vẫn có lòng tự trọng. Còn về đức khôn ngoan, nó giúp chúng ta khám phá những gì mà đức công bằng, đức trung tín và đức tự trọng có thể tương xứng trong hoàn cảnh cụ thể. Nhưng hai nhân đức khác, can đảm và tiết độ, cũng được đòi hỏi nếu chúng ta muốn hành động cách đức hạnh. Đó là những nhân đức dụng cụ, tức là chúng hữu dụng cho việc chúng ta trở nên công bằng, trung tín, tự trọng và khôn ngoan.

MỘT SỰ CAN ĐẢM ĐƯỢC BÉN RỄ SÂU TRÊN NHỮNG XÁC TÍN

Một tối nọ khi cha tôi, sĩ quan cảnh sát, đang đi làm việc thì mẹ tôi đã đánh thức tôi dậy để nói với tôi rằng bà tin là đã nghe thấy có ai đó trong hầm rượu. Bà còn nói thêm là bà nghĩ rằng đúng là có một tiếng rắc trong nhà. Nhưng, để biết rõ ràng đích xác, bà đã hỏi tôi liệu tôi có vui lòng đi xuống với bà để xem mọi thứ đều tốt đẹp hay không. Tôi đáp: “Dĩ nhiên”, nhưng lúc đó tôi sợ. khi từ hầm rượu trở về, bà đã cám ơn tôi và nói với tôi rằng tôi can đảm. Nhận xét đó đối với tôi có vẻ kỳ lạ vì tôi đã sợ: nếu tôi can đảm, thì làm sao mà tôi có thể sợ được? Khi tôi cho bà biết những thắc mắc của tôi, thì bà đã trả lời tôi rằng can đảm không muốn nói là “không sợ”, nhưng đúng hơn là “tiếp tục làm những gì mà ta phải làm, bất chấp sự sợ hãi”.

Trong thời gian thơ ấu của tôi ở Brooklyn, tôi đã liên kết “can đảm” và “chịu đựng giỏi”. Đối với tôi lúc đó, can đảm hệ tại việc không cho thấy sự sợ hãi của mình, nói cách khác không phải là một kẻ nhút nhát. Tôi nghĩ, người ta thường lẫn lộn sự vắng mặt sợ hãi và lòng can đảm; người ta nghĩ đến G. Gordon Liddy[29] đặt tay trên một ngọn lửa. Nhưng suy nghĩ của mẹ tôi đã lôi kéo sự chú ý của tôi đến một khía cạnh hoàn toàn khác.

Về sau, tôi đã bắt đầu nhận xét rằng một số người đã làm những gì họ phải làm ngay cả khi họ sợ hãi. Vào thời đó, có những nữ tu biểu tình ở Selma. Dù lúc đó thật khó hiểu tại sao họ không đến lớp dạy học thì hơn, nhưng tôi vẫn nghĩ rằng họ can đảm. Vì người ta lăng nhục họ, người ta chửi bới họ. Tôi đã tự nhủ rằng ở Brooklyn, người ta hẳn đã không dám. Khi các nữ tu đi đến Selma[30], họ hoàn toàn ý thức rằng họ sẽ có những vấn đề. Tuy nhiên, tôi đã cảm thấy rằng họ làm những gì mà họ phải làm, bởi vì, trên những tấm biển và trên các khuôn mặt của họ, người ta có thể đoán thấy rằng họ có những xác tín.

Khi tôi xem phóng sự trên truyền hình, với những vòi rồng chữa cháy và những con chó lao vào những Người Da Đen đang diễu hành vì các quyền dân sự, thì tôi đã hiểu sự can đảm của họ. Họ đã biết rằng rằng người ta sắp làm hại họ, thế mà họ vẫn đi đến đó. Những người này bắt đầu chinh phục tôi về tầm quan trọng của lối hành xử của họ.

CAN ĐẢM KHÔNG NAO NÚNG

Nhiều năm về sau, tôi xem một cảnh tương tự trong phim “Gandhi”: người ta bước đi trước mặt cảnh sát dù biết rằng họ có thể bị đánh bể đầu; không ai trong họ tìm cách gây gỗ và mọi người đều sợ, tôi chắc như vậy; tuy nhiên, họ không nao núng chống lại những người mạnh hơn họ.

Những xác tín dùng làm điểm neo cho người nào muốn hiểu đức can đảm. Những người can đảm vẫn trung tín với những xác tín của mình, thậm chí trước mối đe doạ hay thất bại. Những xác tín không chỉ là việc của các anh hùng của đức công bằng. Người miền núi hay nhà thám hiểm hay người đi biển là can đảm không phải vì họ chiến đấu chống lại sự sợ hãi của mình và chế ngự nó, nhưng bởi vì, đối diện với nghịch cảnh, họ theo đuổi con đường của mình; họ tiếp tục với niềm xác tín không hề lay chuyển rằng họ phải kết thúc hành trình của mình. Họ kiên quyết. Sự kiện tha thiết với những xác tín của mình xem ra như là điều kiện của sự can đảm.

Không nao núng chắc chắn là một lối ẩn dụ đẹp của sự từ chối đầu hàng. Rosa Parks[31] đã không nao núng khi bà chiếm chỗ ở phần trước xe buýt. Thomas More[32] đã không nao núng khi, đang ở trong tù, ông đã từ chối trung thành với vua. Người này và người kia đã bén rễ sâu trong những xác tín của họ và họ đã kháng cự hơn là nhượng bộ cho một sự sợ hãi rất tự nhiên.

CAN ĐẢM XÊ DỊCH

Một lối ẩn dụ khác là lối ẩn dụ về một người xông vào một tòa nhà hỏa hoạn để giải cứu một nạn nhân, hay bảo vệ một người chống lại kẻ tấn công, hay bay đến cứu người khác. Ở đây, đức can đảm không hệ tại việc không nao núng, nhưng đúng hơn là xê dịch để đối mặt với sự cấp bách.

Chúng ta đừng đánh giá thấp tầm quan trọng của một chuyển động như thế. Aristote nhắc nhở chúng ta rằng luân lý tính của một nhân vị được biểu lộ nơi những phản ứng tự phát của người đó. Khi có cấp bách, ta có thể thấy tốt hơn ai can đảm và ai hèn nhát: khi ta hành động mà không có thời gian suy nghĩ, thì các bản năng xuất hiện hèn hạ hay tốt hơn dưới ngày thường của chúng. Cho dầu sự cấp bách là ngoại lệ, nhưng nó phơi bày một khung cảnh mà ta có thể gọi là thích đáng để hiểu sự can đảm luân lý là gì. Trong hai trường hợp, tinh hoa của đức can đảm là cứu giúp người khác đang lâm nguy.

Nếu ta suy nghĩ đến điều đó, thì có nhiều sự giống nhau giữa việc không nao núng và bay đến cứu người khác:

-          Trong hai trường hợp, nghịch cảnh trở nên đe dọa – dù đó là sự áp bức chủng tộc, vũ lực hung tợn, một cơn bão hay một cuộc hỏa hoạn.

-          Trong sự khó khăn, người nam hay người nữ can đảm đấu tranh để ngăn chặn hoàn cảnh xấu đi, dù đó là đang theo đuổi diễn biến hành động của họ hay đang xê dịch nhanh chóng.

-          Trong hai trường hợp, người can đảm xác tín rằng bản thân người ấy có thể ngăn chặn hoàn cảnh xấu đi; nếu không, người ấy hẳn sẽ thiếu khôn ngoan. Chẳng hạn, nếu những người đình công đã phải chịu những cú đánh vào đầu hay những cuộc tấn công của vòi rồng chữa cháy mà không có hy vọng nào lôi kéo sự chú ý đến sự bất công của những kẻ áp bức họ, thì những hành vi của họ có thể được coi là vô trách nhiệm. Cũng thế, nếu đã có một khả năng xảy ra rất lớn là người cứu nạn vẫn yếu kém (handicapé) tiếp theo sau mưu tính cứu nạn của mình, thì, trên thực tế, người ấy hẳn sẽ chỉ làm cho hoàn cảnh xấu đi mà thôi.

-          Trong tất cả các trường hợp cứu nạn (và cũng thường khi nó hệ tại việc không nao núng), người can đảm liên đới với người dễ bị tổn thương, dù người này bị kẹt cứng trong một tòa nhà hỏa hoạn hay phải bị phục tùng cho một chế độ đàn áp. Trong hai trường hợp, nó hệ tại việc cân nhắc nguy cơ mà ta tự chuốc lấy, đối diện với những gì sẽ xảy đến nếu ta tránh hành động.

Hai thái độ này, không nao núng hay cứu giúp, theo tôi, là hai khía cạnh bổ túc của cùng một thực tại: người can đảm không chịu coi thường một cá nhân hay một nguyên tắc đang lâm nguy. Đức can đảm là nhân đức của người không chịu từ bỏ khi đối mặt với mối đe dọa.

SỰ CAN ĐẢM Ở ĐỒI CAN-VÊ

Dưới ánh sáng của định nghĩa này, ta khám phá ra rằng đó là vấn đề can đảm trong Thánh Kinh. Sự can đảm của Chúa Kitô trong vườn Ôliu không chỉ xuất hiện trong sự sẵn lòng chấp nhận Thập giá của Ngài nhưng còn trong sự kiện rằng Ngài chấp nhận nó chính là để không bỏ kế hoạch của Cha Ngài là cứu độ chúng ta. Trong cuộc Nhập thể của Ngài, cuộc Thương khó và cái chết của Ngài, Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ cuối cùng. Sự can đảm của Ngài được phản ánh nơi sự can đảm của Đức Maria Mẹ của Ngài, trong sự can đảm của môn đệ Gioan, của Maria Mađalêna và của những phụ nữ khác không nao núng, đứng thẳng dưới chân thập giá, và không bỏ rơi Chúa Giêsu như các môn đệ khác. Sự can đảm được biểu lộ ở đồi Can-vê là một tột đỉnh trong lịch sử nhân loại.

Bởi thế, thật chẳng ngạc nhiên việc các binh lính khám phá ra khuôn mặt can đảm nơi thập giá của Chúa Giêsu, như câu nói này của Gioan diễn tả: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu này…” Khuôn mặt can đảm không được khám phá trong sự sợ hãi được chế ngự, nhưng là trong nhân tính được đảm nhận cho đến cùng, ngay cả khi nó bị đe dọa. Người lính ra đi chiến đấu để bảo vệ đất nước của mình: sự can đảm của anh ta hệ tại không chịu bỏ mặc đất nước của mình trong trong cơn hoạn nạn. Nhưng trong vòng cuộc chiến, đang khi người ta yêu cầu anh không nao núng và bảo vệ quê hương của mình dối diện với nghịch cảnh, thì cũng đôi khi anh được mời gọi cứu những mạng sống con người. Người lính can đảm trở nên một vị anh hùng khi anh cứu giúp một thường dân hay một người lính khác bị mắc lại đằng sau. Đức anh dũng trong thời chiến, đó là câu chuyện những người phòng thủ can đảm bị bắt trong các chiến dịch giải cứu. Sự can đảm trong cuộc chiến không phải là chống lại sự sợ hãi, đó là giải cứu các mạng sống.

TRỞ NÊN CAN ĐẢM HƠN

Làm thế nào trở nên can đảm hơn? Để trả lời cho câu hỏi này, cần phải nghĩ đến những cuộc tập luyện của các binh lính mà, như các cảnh sát, đòi hỏi sự can đảm, phẩm chất chủ yếu của một ơn gọi gìn giữ hòa bình, ở nước ngoài hay trên lãnh thổ quốc gia. Hai thái độ của đức can đảm được kết hợp ở đây: không nao núng, đảm bảo sự phòng vệ và ra đi chiến đấu nếu cần.

Ý muốn đứng ở hàng đầu để bảo vệ quốc gia rõ ràng biểu lộ sự can đảm của người lính. Nhưng điều này không thúc đẩy anh ta tìm kiếm sự liều mạng, đối đầu hay nguy hiểm. Người lính can đảm không phải là kẻ xúi giục xung đột, anh ta phản ứng lại trước một đe dọa. Đức can đảm luôn luôn là một thái độ đáp trả mà không đón trước những phiền phức, nhưng muốn bảo vệ, che chở hay giải cứu khi ai đó hay điều gì đó đang đe dọa.

Ý hướng bảo vệ trở thành nhân đức khi đức khôn ngoanđức liên đới đến trợ giúp và hoàn thiện nó. Các binh lính can đảm được luyện tập đức khôn ngoan, được chuẩn bị và thức tỉnh để đương đầu với những khó khăn và đe dọa. Người ta phát triển trí tuệ thực tiễn của họ để họ có thể lượng giá các nguy hiểm, những hậu quả cũng như khả năng xảy ra của chúng. Nhân đức can đảm phải đi đôi với một ý thức về sự viễn kiến và việc làm chủ các nhân tố nguy hiểm.

Trong khi tập luyện, người lính cũng được huấn luyện đức liên đới. Nhân đức này dạy cho người lính không coi mình là trung tâm của các chiến dịch:  dù muốn hay không, anh ta luôn thuộc về một đội quân, một đại đội, một tiểu đoàn. Người lính không chế ngự sự đe dọa một mình: chính những đội quân gánh vác điều đó, trong chừng mực chúng hình thành nên cùng một thực thể. Các quân nhân nuôi dưỡng một tinh thần nhóm lớn lao và họ nhấn mạnh đến tính nghiêm trọng khi trốn tránh điều đó. Họ ghi khắc vào tâm trí người lính sự xác tín rằng chính khi cùng nhau mà người ta thành đạt.

Sự sẵn sàng đương đầu với sự đe dọa trở thành nhân đức với điều kiện là đức khôn ngoan và đức liên đới đến hoàn thiện nó. Đó là lý do vì sao các quân nhân dè chừng người lính nào phô trương một sự gan dạ thái quá. Vì tính kiêu căng, cũng như sự không an toàn, là thiếu khôn ngoan và nguy hiểm như sự nhút nhát. Trong một cuộc xung đột, sự gan dạ của người lính được biến thành anh hùng khi cán cân nghiêng về sự liên đới hơn là sự khôn ngoan và người lính cứu giúp một đồng đội hay một thường dân bị bỏ mặc nguy hiểm lại đằng sau. Đức anh hùng vào thời chiến tranh, đó là khi những người bảo vệ can đảm cứu giúp đang khi mà những cơ may không ở về phía họ. Tuy nhiên, đức anh hùng và sự thiếu khôn ngoan khác biệt chính bởi sự kiện rằng người anh hùng nói chung là người đã đạt được cách sâu xa ý thức về sự khôn ngoan. Nơi người lính can đảm, đức khôn ngoan và đức liên đới thông thường đi đôi với nhau.

CÓ TƯ THẾ SẴN SÀNG

Không kể những trò chơi chiến tranh giả, thì thật khó mà tưởng tượng ra những hoàn cảnh có thể củng cố đức can đảm. Nhân đức này không thủ đắc được nhờ những tập luyện đã được lập trình trước; và khác với các nhân đức như trung tín, công bằng hay tiết độ, không có những thủ tục đồng nhất để đạt được đức can đảm. Theo thánh Tôma, nó là một nhân đức phản ứng, vì nó chỉ hành động khi đối mặt với sự đe dọa.

Những gì chúng ta có thể làm, đó là vun trồng nghệ thuật có tư thế sẵn sàng. Vì lục đích này, chúng ta có thể học tập lẫn nhau để kháng cự. Như đối với các quân nhân, những tập tuyện như thế nhắm tăng cường sự liên đới gắn bó chúng ta với nhau. Trong mục đích này, đức công bằngđức trung tín là những nhân đức dệt nên đức liên đới. Một mặt, chúng cho phép chúng ta phát triển ý thức về sự bình đẳng đối với tất cả mọi người, mặt khác đào sâu các mối quan hệ của chúng ta với gia đình chúng ta, bạn bè chúng ta và những người thân của chúng ta. Chúng giúp chúng ta không nao núng và giúp đỡ chúng ta trong những lúc mà cám dỗ hèn nhát nổi lên khi đối diện với nguy hiểm.

Nhưng đôi khi chúng ta phải làm cho gia tăng ý thức về giá trị riêng của chúng ta để ý thức tự vệ chống lại một số đe dọa. Ý thức đó được bén rễ sâu trong đức tự trọng. Người nào đã gặp hiểm nguy, nạn nhân của những hăm dọa hay bị làm nhục bởi những kẻ tàn nhẫn, sẽ tìm lại được sức mạnh đòi hỏi phẩm giá của mình nhờ sự nâng đỡ của các bạn bè đích thực của mình, những người sẽ giúp người ấy không ngồi yên nếu những đối xử tồi tệ lại tái diễn. Người nào đấu tranh chống lại chứng nghiện rượu hay chống lại một số hành xử cưỡng bức, nếu người ấy đã có kinh nghiệm nhiều lần về việc để cho phẩm giá của mình thoái hóa hay đầu hàng trước sự sợ hãi, thì người ấy phải chiếm lấy chính mình lại, bằng cách không nao núng và không chịu buông thả.

Can đảm là một từ mà nguồn gốc của nó đến từ tiếng Latinh “cor”, có nghĩa là quả tim. Như tên của nó chỉ rõ, nó tăng lên khi nhân loại bén rễ sâu xa hơn trong sự công bằng, lòng trung tín và lòng tự trọng. Nó hoạt động mỗi lần người nào vững vàng không nao núng, mỗi lần người nào ra tay cứu giúp và mỗi lần, vì giữ gìn giấc ngủ của những ai đang ngủ, người nào đó rình rập những tiếng động đáng ngờ và yên lặng đi xuống cầu thang để đảm bảo rằng mọi sự tốt đẹp. Dù nó được thực hành bởi một người lính đảm bảo sự phòng vệ cho đất nước của mình, bởi một người mẹ bảo vệ cho con cái hay bởi một nữ tu đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, thì nó đều cho thấy khuôn mặt của nó từ khi người nào đó yêu mến nhân loại đủ để bảo vệ nhân loại đó.


[29] G. Gordon Liddy  là viên cảnh sát xuất sắc của FBI. Ông đã trở thành trợ tá của tổng thống Nixon. (Chú thích của người dịch bản tiếng Pháp).

[30] Nằm ở Alabama, thành phố Selma đã là nơi xảy ra nhiều cuộc biểu tình của Phong Trào Quyền Dân Sự (Civil Rights Movement) ở Hoa Kỳ phản đối chính sách tách biệt chủng tộc trong suốt những năm 1960; phong trào Freedom Ride vào năm 1961 hay phong trào March against Fear: chẳng hạn, nó hệ tại việc bất tuân quy định của các Bang phía Nam ngăn cản những người Mỹ Da Đen đi cùng những chuyến xe buýt hay tàu hỏa như những Người Da Trắng. (Chú thích của người dịch bản tiếng Pháp).

[31] Rosa Parks, mệt mỏi bởi một ngày làm việc dài, đã từ chối nhường chỗ cho một Người Da Trắng trên xe buýt, ngày 1/12/1955. Do vụ việc này, bà đã bị bắt và bị xét xử. Điều này đã dẫn đến việc tẩy chay toàn bộ các chuyến xe buýt ở Montgomery trong vòng 381 ngày. Vào tháng Mười Một năm 1956, Tòa Án Tối Cao đã tuyên bố rằng việc tách biệt chủng tộc nơi các phương tiện giao thông là trái với Hiến Pháp. Rosa Parks là một hình ảnh lớn của cuộc chiến đấu chống lại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc ở Hoa Kỳ. (Chú thích của người dịch bản tiếng Pháp).

[32] Là chính trị gia người Anh và là người theo khuynh hướng nhân bản thuyết (1478-1535), Thomas More đã không tán thành cuộc ly dị của vua Henri VIII; ông đã bị bỏ tù và bị hành quyết. Ông cũng được biết đến như là tác giả của cuốn L’Utopie (Không Tưởng). (Chú thích của người dịch bản tiếng Pháp).

© 2011 Đại Chủng viện Vinh Thanh · Subscribe:PostsComments · Designed by Theme Junkie · Powered by WordPress