Công Đồng Chalcedonia (451):
“CHỈ MỘT NGÔI VỊ TRONG HAI BẢN TÍNH”
Vào mỗi Thánh lễ Chúa Nhật hàng tuần, các Kitô hữu chúng ta luôn tuyên xưng rằng: “Tôi tin kính Một Đức Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa Cha, sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời [...] Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng Đức Trinh Nữ Maria và đã làm người”[1]. Nhưng thử hỏi có được mấy người trong chúng ta thấy cảm động và lấy làm lạ trước các chân lý đó, hoặc tự hỏi xem những chân lý đó muốn nói lên điều gì, đến từ đâu, nó có ý nghĩa gì đối với cuộc sống của tôi, của anh, của bạn, của gia đình, của cộng đồng, của toàn thể Giáo Hội, hay của thế giới. Nói cách nôm na là chúng ta phần lớn đã hoàn toàn tin nhận cách “đơn sơ” rằng Đức Giêsu Kiô thực sự là Thiên Chúa đã làm người, không cần gì phải bàn cải, và đôi khi không muốn tìm hiểu thêm làm gì cho nhọc đầu mệt trí, chỉ cần có đức tin vững mạnh để sống đạo một cách “đàng hoàng” là được. Biết đâu càng tìm hiểu lại càng sinh ra rối đạo!?
Nói vậy cũng có cái hay là giúp cảnh tỉnh sự ‘vượt rào’ quá trớn của lý trí khi đòi nắm bắt mọi sự. Tuy nhiên, nếu cứ hoàn toàn theo kiểu lý luận như thế liệu có ổn hay không? Có chăng một “đức tin vững mạnh” lại mâu thuẫn với nỗ lực tìm kiếm của lý trí tự nhiên như là ân huệ khởi đầu của Thiên Chúa? Có chăng một đức tin vững mạnh vào Thiên Chúa, vào Đức Giêsu Kitô, mà lại không có có chút hiểu biết nào về Ngài, hay chỉ biết một vài chân lý sơ đẳng, rồi tin cho mạnh là được? Nhưng nào ai có thể có được đức tin vững mạnh và lòng mến nồng nàn, mà lại thiếu hiểu biết, bởi “bất tri thì vô mộ”. Đành rằng đức tin quả là một ân huệ hoàn toàn nhưng không của Thiên Chúa ban, nhưng nhiệm vụ của chúng ta, những người đã có đức tin, cũng phải không ngừng đào sâu, để ngày một hiểu biết và yêu mến Chúa Kitô nhiều hơn. Ít ra chúng ta cần tìm hiểu xem lời tuyên tín nền tảng của đức tin Kitô giáo: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”(Mt 16,16), mà thánh Phêrô đại diện cho Giáo Hội long trọng tuyên xưng tại Cêsarê Philiphê, đã được Giáo Hội thời sơ khai trình bày và minh giải như thế nào.
Giáo lý Hội Thánh Công giáo khẳng định rằng: “Biến cố độc nhất vô nhị là sự kiện Nhập Thể của Con Thiên Chúa. Điều đó không có nghĩa là Chúa Giêsu Kitô một phần là Thiên Chúa, một phần là người; cũng không có nghĩa Người là kết quả của một sự pha trộn lẫn lộn giữa hai bản tính thần linh và nhân loại. Người đã thật sự làm người, mà vẫn thật sự là Thiên Chúa. Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật. Hội Thánh đã phải bảo vệ và làm sáng tỏ chân lý đức tin này trong suốt những thế kỉ đầu tiên, trước các lạc thuyết đã làm sai lạc chân lý đó”[2].
Công đồng chung đầu tiên họp tại Nicêa năm 325, tuyên xưng trong Tín biểu của mình rằng: “Con Thiên Chúa được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Đức Chúa Cha” (tiếng Hy lạp là homoousion), và Hội Thánh đã kết án Arius là người đã khẳng định rằng: “Con Thiên Chúa đã xuất phát từ hư vô” và “có một bản thể hay yếu tính khác với Chúa Cha”[3], kém hơn Chúa Cha, Con không bằng Cha.
Trong những cuộc tranh luận sau Công đồng Nicêa, người ta tập chú đến cách thức bản tính Thiên Chúa và bản tính nhân loại kết hợp với nhau nơi Đức Kitô. Liên quan đến khía cạnh này của mầu nhiệm, chúng ta nhận thấy có hai lạc thuyết chính nằm ở hai thế đối cực nhau: một bên thì tìm cách lý giải sự duy nhất của Đức Kitô nhưng lại đi tới chổ không phân định một cách tương xứng giữa hai bản tính nơi Ngài(monophisme); còn bên kia thì theo hướng ngược lại, tức quá nhấn mạnh đến sự phân biệt giữa hai bản tính đến độ chối bỏ luôn sự duy nhất của Đức Kitô (Nestorius). Sự xuất hiện của các lạc thuyết này chính là lý do và cơ hội để Huấn Quyền của Giáo Hội đang khi phi bác các lạc thuyết, thì cũng đồng thời minh định đức tin chân thực bằng một hệ thống thuật ngữ ngày càng chính xác hơn.
Và Công đồng Chalcedonia năm 451 là một trong những đại Công đồng của Giáo Hội thời sơ khai đưa ra được một bản định tín với những thuật ngữ chính xác, nhằm minh giải mầu nhiệm ngôi hiệp nơi Đức Giêsu Kitô với công thức cơ bản: “chỉ một ngôi vị trong hai bản tính”.
Trong bài này chúng ta cố gắng tìm hiểu xem Công đồng Chalcedonia đã minh giải công thức định tín nền tảng đó như thế nào, qua việc tìm hiểu bối cảnh lịch sử của Công đồng và nhất là qua phân tích và tìm hiểu toàn bộ bản định tín của Công đồng, cũng như trả lời một số vấn nạn liên quan đến Công đồng Chalcedonia.
Sau đây là dàn bài tổng quát:
I. Bối cảnh lịch sử
II. Nội dung Công đồng Chalcedonia
1. Công thức định tín của Công đồng Chalcedonia
2. Giải thích công thức định tín Chalcedonia
III. Giải đáp một số vấn đề liên quan đến Công đồng Chalcedonia
***************
NỘI DUNG
I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ[4]
Cũng như các Công đồng trước, sau khi Công đồng Êphêsô(381) kết thúc, một vấn nạn mới về Kitô học lại xuất hiện, đó là cơn khủng hoảng nhất tính, được khởi xướng bởi Eutyches, và không lâu sau đó trở thành lạc thuyết nhất tính(monophisme). Và một lần nữa Giáo Hội lại phải lao vào chống trả bằng cách triệu tập một công đồng mới. Đó là Công đồng Chalcedonia.
Mặc dù đã có sự chấp thuận về bản “định ước hiệp nhất” năm 433, nhưng sự căng thẳng giữa hai trường phải Alexandria và Antiokia vẫn còn âm ỉ trong thâm tâm của nhiều người. Về phía Alexandria, những người cùng ủng hộ thánh Cyrillo vẫn chưa thống nhất được về vấn đề từ ngữ, chẳng hạn giữa từ physis và hypostasis; đang khi ở Antiokia mối oán hận về vụ Nestorius bị kết án vẫn còn đó. Cuộc tranh cãi lại diễn ra một lần nữa vào năm 448. Mặc dù kịch liệt phản ứng chống lại Nestorius, nhưng Eutyches, bề trên của một đan viện ở Constantinople, đã đi quá xa – mà có lẽ do quá khích nên mới sinh ra nông nổi này – là ông đã từ chối “công thức hoà giải” năm 433 và chủ trương nhất tính thuyết.
“Giáo thuyết” của Eutyches hệ tại ở một sự trung thành một cách máy móc với công thức của thánh Cyrillo: “một bản tính duy nhất của Ngôi Lời nhập thể”, mà ý nghĩa của chúng đã bị Eutyches vo tròn bóp méo một cách sai lạc. Khẳng định quan trọng nhất mà Eutyches không muốn bỏ đi: “Tôi tuyên xưng Đức Chúa chúng ta trước ngôi hiệp có hai bản tính, nhưng sau ngôi hiệp chỉ còn một bản tính”. Theo ông sau khi ngôi hiệp thì bản tính nhân loại bị tan biến trong bản tính thần linh như thể một giọt giấm bị tan hoà trong biển cả mật ong. Theo quan niệm này của Eutyches, ông ta cho rằng việc Đức Giêsu đau khổ chỉ mang tính hình thức, giả vờ thôi, chứ thực chất Ngài không đau khổ. Và rốt cuộc, ông cũng cho công cuộc cứu độ của Chúa Kiô tan theo mây khói.
Điều này không thể chấp nhận được đối với trường phái Antiokia. Theo trường phái này, nhân tính toàn vẹn của Đức Kitô đóng một vai trò hết sức quan trọng trong nhiệm cục cứu độ, bởi vì “chỉ có những gì Con Thiên Chúa đảm nhận thì mới được cứu độ”.
Cuộc tranh luận này mang một tầm quan trọng rất lớn, cho nên Giáo Hội đã có phản ứng ngay: Thượng Hội Đồng các giám mục tại Constantinople dưới sự chủ toạ của Thượng phụ Flavianus, đã lên án và cách chức Eutyches. Ông từ chối không tuân phục, tìm đến nương náu nơi Dioscorius, người kế vị thánh Cyrrilo tại Alexandria. Được hoàng đế Theodosius II bênh vực, Eutyches và các đồng bạn bêu xấu Flavianus, và xin hoàng đế triệu tập Công đồng.
Đứng trước tình thế này, thượng phụ Flavianus báo tin cho Đức Giáo Hoàng Leo I, và Ngài đã viết một “Tomus” (năm 449), để dạy rõ rõ Đức Kitô có hai bản tính trọn vẹn.
Vào tháng 8 năm 449, các Giám mục tập trung về Êphêsô để nhóm họp Công đồng dưới sự chủ toạ của Dioscorius. Các Ngài dự định sẽ đọc lá thư của Đức Giáo Hoàng Leo I gữi cho Thượng phụ Flavianus. Thế nhưng Eutyches cùng các đồng bạn được Hoàng đế Theodosius nâng đỡ, tổ chức một vụ bạo động bằng vũ lực, cho lính tới khủng bố và buộc 135 Giám mục phải hồi quyền cho Eutyches, kết án Flavianus và bắt ngài phải đi đày và không lâu sau đó ngài đã qua đời, và lá thư của Đức Giáo Hoàng cũng bị huỷ bỏ luôn. Công đồng này do đó được gọi là “mẻ cướp Êphêsô”. Một trong những đại diện của Đức Giáo Hoàng thoát nạn chạy về Roma báo tin. Sau đó Đức Leo I yêu cầu triệu tập công đồng, nhưng chỉ uổng công. Và phải chờ khi hoàng đế Theodosius II qua đời rồi, một đại Công đồng mới được triệu tập tại Chalcedonia vào năm 451. Công đồng trước hết được triệu tập tại Nicêa, sau mới dời về Chalcedonia để cho hoàng đế Marciano có thể tham dự. Có rất nhiều nghị phụ Đông Phương tham dự. Về phía Giáo Hội Tây Phương có 3 vị đại diện của Đức Giáo Hoàng Leo I là Pascasino, Lucenzio và Bonifacio.
II. NỘI DUNG ĐỊNH TÍN CỦA CÔNG ĐỒNG CHALCEDONIA[5]
1. Công thức định tín của Công đồng Chalcedonia
Công đồng Chalcedonia trong cơ bản làm rõ dự duy nhất và sự phân biệt trong mầu nhiệm Đức Kitô. Công đồng đã soạn một văn kiện chính thức, được coi như là lời tuyên xưng đức tin chính thống. Sau đây là nội dung đầy đủ của công thức định tín của Công đồng Chalcedonia:
“Theo sau các Thánh Giáo Phụ, chúng tôi đồng thanh dạy phải tuyên xưng Một Chúa Con Duy Nhất là Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, hoàn hảo trong thần tính và cũng hoàn hảo trong nhân tính; là Thiên Chúa thật và là người thật, gồm có một linh hồn có lý trí và một thân xác; đồng bản thể với Đức Chúa Cha theo thần tính, đồng bản thể với chúng ta theo nhân tính, “giống chúng ta về mọi phương diện, ngoại trừ tội lỗi’ (Dt 4, 15). Sinh bởi Đức Chúa Cha theo thần tính từ trước muôn đời, và trong những thời sau cùng này, vì chúng ta và để cứu độ chúng ta, Người được sinh ra theo nhân tính bởi Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa.
Cùng một Đấng duy nhất là Đức Kitô, là Chúa, là Con Một, phải được nhìn nhận trong hai bản tính một cách không lẫn lộn, không thay đổi, không phân chia, không tách biệt, sự khác biệt giữa hai bản tính không hề bị mất đi do việc kết hợp, nhưng các đặc điểm của mỗi bản tính đã được bảo tồn khi kết hợp với nhau trong một Ngôi Vị và một Đấng duy nhất.
Chúng tôi dạy phải tuyên xưng điều đó. Trước hết theo những điều các tiên tri đã nói về Người, theo điều chính Đức Kitô đã dạy, và theo như lời tuyên tín cha ông truyền lại”(GLCG, 467; x. Chacedonia: DS 301-302 ).
2. Giải thích công thức định tín Chalcedonia
a. Nhận xét
Đọc lại toàn bộ bản văn chúng ta có thể thấy rằng thực ra các nghị phụ đã không muốn đề xuất một điều gì mới, mà chỉ quyết dồn tất cả sức lực cho việc minh giải đức tin Công đồng Nicêa.
Trước hết, không bắt đầu bằng câu “Chúng tôi Tin”, công thức đã bắt đầu với mệnh đề “Chúng tôi Dạy”. Xét theo phương diện chuyên môn đây là tín điều (dogma) đầu tiên trong lịch sử đức tin Kitô giáo. Văn bản không đề cập gì đến lịch sử cứu độ, nhưng gồm toàn những mệnh đề trừu tượng: vấn đề căn bản ở đây là chân lý.
Công thức cố ý nhấn mạnh đến chủ thể: “chính cùng một vị ấy”. Vấn đề căn bản là sự hiệp nhất nơi bản thân Đức Kitô, tức muốn nói Ngài là một Ngôi Vị duy nhất. Và điều mới mẻ ở đây là cách cắt nghĩa sự hiệp nhất ấy: Đức Kitô là Một trong hai bản tính, chứ không phải từ hai bản tính; thành ngữ “từ hai bản tính”(ex dýo phýsis) có thể dễ dẫn đến lạc thuyết nhất tính luận. Nguyên nhân sâu xa nhất chính là bức thư hiệp thông mà Gioan ở Antiokia đã biên soạn sau vụ tranh cải ở Êphêsô. Nếu Cyrillo đã ôn hoà hơn, thì có lẽ đã không có Công đồng Chalcedonia.
Đà tiến triển khởi sự ở Nicêa đã kết thúc ở Chalcedonia: thuật ngữ gốc triết đã du nhập vào thần học. Đó là việc không thể nào tránh được. Lý do vì một đàng cần phải hội nhập vào văn hoá trong bối cảnh cụ thể, mặt khác trí thức cần dùng đến những công cụ tri thức để tìm hiểu và giải thích các vấn đề, kể cả các mầu nhiệm mạc khải; triết lý là nguồn phát sinh các phạm trù, khái niệm,… như những phương tiện cần thiết cho việc hiểu biết và thông tin.
b. Ý nghĩa
Định tín mà Công đồng Chalcedonia chủ yếu nhắm đến là công thức: “một ngôi vị trong hai bản tính”. Chúng ta đều dễ nhận thấy Công đồng Chalcedinia khởi đi từ sự duy nhất của chủ thể (hypostasis), của ngôi vị (prosopon) đến sự phân biệt giữa hai bản tính(thần tính và nhân tính) nơi Đức Kitô.
Tính duy nhất được Công đồng nhấn mạnh và nêu bật qua việc nhắc đi nhắc lại nhóm từ “Cùng Một Đấng ấy”. Còn hai bản tính thì được trình bày bằng một loạt tính từ hay các nhóm từ đối ngẫu:
Toàn vẹn trong thiên tính - - toàn vẹn trong nhân tính
Thiên Chúa thật - - con người thật
được sinh ra bởi Chúa Cha - - được sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria
trước thời gian - – trong những ngày cuối cùng
Công thức gồm 3 phần:
- Phần I (“Theo sau … Mẹ Thiên Chúa”): Tổng hợp giáo lý các công đồng trước
- Phần II (“cùng Một Đấng duy nhất … một Đấng duy nhất”): Phần đóng góp của Công đồng
- Phần III (“Chúng tôi dạy…cha ông truyền lại”): kết luận, cho thấy Giáo Lý của Công đồng được đặt trên nền tảng Thánh Kinh và Thánh Truyền.
Phần I: Tổng hợp giáo lý từ các Công đồng trước
i. “Thiên Chúa thật và con người thật” là thành ngữ thánh Irênê dùng để chống lại các lạc giáo ảo thân thuyết, ngộ đạo và phe Do Thái hoá
ii. “Toàn vẹn trong thiên tính, toàn vẹn trong nhân tính” là lời tuyên tín của Nicêa và Constantinople I dùng để kết án Arius và Nestorius. Muốn nói rõ thêm về hai đặc tính này, Công đồng đã dùng nhóm từ “ĐỒNG BẢN THỂ VỚI CHÚA CHA” để giải thích nhóm từ “toàn vẹn trong thiên tính”, và thành ngữ “ĐỒNG BẢN THỂ VỚI CHÚNG TA” để giải thích nhóm từ “toàn vẹn trong nhân tính”. Không dùng lối biểu đạt trừu tượng như: “với Thiên Chúa”, hoặc “với nhân loại”, Công đồng đã nói cách cụ thể “với Cha” và “với chúng ta”. Ngôn từ ngày trước Nicêa đã dùng để tuyên xưng Đức Giêsu là Thiên Chúa toàn vẹn, cũng được chính Chalcedonia dùng lại để tuyên xưng Ngài là con người toàn vẹn: homoousios – đồng bản thể.
iii. “toàn vẹn trong nhân tính” có nghĩa là Đức Kitô có xác có hồn. Lạc thuyết ảo thân luận tưởng là Đức Giêsu không có xác thật; còn giám mục Apollinaris thì cho rằng Đức Kitô không cần đến linh hồn(có lý trí) vì đã được Ngôi Lời thay thế. Chalcedonia dạy rằng Đức Kitô không thiếu một yếu tố nào trong những gì cấu thành con người. “Giống chúng ta về mọi phương diện, ngoại trừ tội lỗi”. Nhiều người cho rằng nếu không nhuốm một tội hay lỗi nào thì có lẽ không đúng nghĩa là con người hoàn toàn, bởi đã là người ai lại không một lần sai phạm. Nên biết rằng tội không phải là yếu tố cấu thành một con người. Nó là khuyết tật của con người. Người không mắc tội mới là con người hoàn hảo. Và do đó Đức Kitô mới thật là người hoàn hảo, mới thật là người đúng nghĩa.
iv. Công đồng không giải thích ý nghĩa của chân lý “đồng bản thể với Chúa Cha” vì đó là mầu nhiệm khôn dò khôn thấu, bất khả tri, vô ngôn.
Phần II: Phần đóng góp chính của Chalcedonia là công thức: “trong hai bản tính”
Đây là công thức đã gây ra nhiều vấn đề cho suy tư và cách thức biếu đạt của thần học, nhưng lại là trọng điểm của Công đồng Chalcedonia.
i. Muốn miêu trình Đức Giêsu thì không thể không dùng hai lối biểu đạt, hai mệnh đề, hai hướng,… bởi một Đấng duy nhất trong hai bản tính.
ii. Từ nay, danh từ Phýsis(bản tính) được hiểu theo một nghĩa khác với từ hypostasis (chủ thể, bản ngã).
iii. Giới từ “en”(trong) ngầm chỉ điều này là sự hiệp nhất giữa thiên tính và nhân tính, không làm cho sự khác biệt giữa hai bản tính mất đi. Nơi Đức Kitô, cả Thiên Chúa lẫn con người đều toàn vẹn. Phái nhất tính thuyết cho rằng trước khi kết hợp, ắt có hai bản tính, nhưng sau khi kết hợp chỉ có một bản tính mà thôi, và nếu cho là nhân tính vẫn còn thì nó cũng tựa như giọt giấm giữa biển cả mật ong. Trái lại, phe Nestorius cho là sau khi kết hợp, từ hai bản tính phát sinh một thực “thể thứ ba” và đó là căn tính “Kitô”. Công đồng khẳng định việc hiệp nhất không làm mất đi một điều gì nơi bản tính.
iv. “Tụ hợp với nhau nơi một “ngôi vị” (prosopon) và một “bản ngã”(hypostasis). Từ này trở đi, trong Kitô học, hai từ hypostasis và prosopon đồng nghĩa với nhau: ngôi vị, bản ngã, chủ thể. Hai từ này chỉ về “điều” mà Đức Kitô chỉ có một, còn từ “bản tính” chỉ về “điều” mà nơi Đức Kitô có hai. Trong Đức Kitô, ngôi vị là Ngôi Lời, là Con của Chúa Cha trong Ba Ngôi, là Thiên Chúa thật, nhưng cũng là người thật, và mãi mãi như thế.
v. Thực trạng hiệp nhất này còn được Công đồng xác định rõ hơn nữa bằng bốn trạng từ: không trộn lẫn, không thay đổi, không chia rẽ, không tách biệt:
- “Không trộn lẫn”: Đức Giêsu có và giữ nguyên phong cách hay nếp sống loài người và phong cách hay nếp sống Thiên Chúa;
- “Không thay đổi”: hai từ này phát xuất từ Antiokia và ở đây được dùng để chống lại nhất tính thuyết, chống lại Eutyches, và để xác định là nhân tính không trộn lẫn với thiên tính rồi hoà tan vào đó; để chống Arius và có ý dạy rằng Thiên Chúa không thay đổi khác đi khi nhập thể, không xuống cấp để trở thành một thực thể kém thua;
- “Không chia rẽ”: từ này dùng để chống lại Nestorius và muốn xác quyết rằng nơi Đức Kitô không có hai chủ thể, hai ngôi vị;
- “không tách biệt”: qua từ này Công đồng muốn nêu rõ tính chất trường tồn của việc nhập thể, tức là không bao giờ ngừng, mà tồn tại mãi mãi, vì Thiên Chúa trung thành, một khi đã ban ơn và kêu gọi thì không bao giờ đổi ý (x. Rm 11, 29).
Bốn từ này đều là những từ phủ định. Như thế, Công đồng biết rõ cần phải phủ định, nhưng lại không thấu hiểu, không xác định được phần tích cực, là phần thuộc lãnh vực mầu nhiệm, vượt quá trí hiểu của con người. Chính thánh Cyrillô thành Alexandria cũng nhìn nhận rằng: “sự ngôi hiệp là một mầu nhiệm vượt quá khả năng suy luận; mầu nhiệm Nhập Thể đã diễn ra như thế nào là điều trí hiểu của chúng ta không thể am tường”[6]. Bởi thế, dù suy tư thế nào đi nữa, thì cũng phải luôn ý thức về sự thật đó nơi chính bản thân Đức Giêsu. Thiếu đi chiều kích này, chúng ta không thể giải thích được và cũng chẳng hiểu gì về Ngài cả. Đây chính là điều mà Schnackenburg, sau khi đã tiêu tốn biết bao công sức với phương pháp phê bình lịch sử, cuối cùng cũng phải đi đến xác quyết rằng: “Không có sự gắn kết với Thiên Chúa, con người Đức Giêsu như ảo ảnh, không thực tại và không thể giải thích được”[7]. Và rồi chính Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI trong cuốn Đức Giêsu thành Nazareth cũng tái xác tín như thế: “Quyển sách sẽ nhìn Đức Giêsu từ sự hiệp thông với Chúa Cha, đó là tâm điểm của bản thân Người, không có điểm này chúng ta không thể hiểu gì cả và cũng từ điểm này mà Người hiện diện cho chúng ta ngay trong ngày hôm nay” [8]. Ý thức được như thế để rồi khi đến với Chúa Giêsu, chúng ta phải có thái độ khiêm hạ và cung kính, với lòng yêu mến và thờ lạy. Và chỉ với thái độ và tâm tình như thế của trẻ thơ, của những người bé mọn, chúng ta mới hy vọng Ngài tâm sự, tỏ lộ cho đôi điều về mầu nhiệm khôn dò khôn thấu nơi chính mình Ngài, mầu nhiệm mà “không một ai trong các thủ lãnh thế gian này đã được biết”[9], và ngay cả những kẻ tự hào cho mình là khôn ngoan thông thái trước mặt thiên hạ, cũng không thể nào và cũng chẳng bao giờ sờ chạm đến được.
III. GIẢI ĐÁP MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUÂN ĐẾN CÔNG ĐỒNG CHALCEDONIA
Vấn đề 1: Có nhiều người cho rằng Công đồng Chalcedonia đã bị Hy lạp hoá, bằng chứng là Công đồng đã sử dụng những từ ngữ của triết học Hy Lạp, như hypostasis (chủ vị, chủ thể), prosopon(ngôi vị), phýsis(bản tính).
Không phải chỉ có Chalcedonia mà cả các công đồng trước đó, như Nicêa, Êphêsô, và sau này, như Constantinople II, III,… cũng thường bị tố cáo là đã tìm cách thích ứng giáo lý Thánh Kinh với triết học Hy lạp, bằng cách sử dụng những khái niệm mượn từ triết học Hy lạp.
Thực tế thì không phải như vậy, là vì những hạn từ “bản tính” và “ngôi vị”, được dùng trong định tín của Công đồng, chỉ thuần tuý diễn tả những khái niệm chung cho bất kì tri thức nhân loại đích thực nào. Và chính trong cách phát biểu của niềm tin vào mầu nhiệm Đức Kitô, các Công đồng đã vượt qua cách quan niệm của triết học Hy lạp: “một bản tính nhân loại phải được cấu thành một ngôi vị nhân loại tương ứng”. Chính Nestorius mới là người đã cố bám víu vào thứ triết lý ấy, khi ông khẳng định rằng bản tính nhân loại của Đức Giêsu cũng cấu thành một ngôi vị nhân loại; và cả những người theo nhất tính thuyết nữa, họ đã toan tính Hy lạp hoá Kitô giáo, xét là vì họ đã cố bám víu vào cái biểu thức mà họ cho là tất yếu, tức biểu thức: “một bản tính<=>một ngôi vị”. Trái lại, “sự tinh luyện dày công để hình thành nên những tín điều Kitô học như thấy thể hiện trong các công trình của các vị Giáo phụ và các Công đồng, luôn đưa chúng ta đến với mầu nhiệm Đức Kitô độc nhất, tức Ngôi Lời nhập thể vì ơn cứu độ của chúng ta, Đấng mà mạc khải đã tỏ lộ cho chúng ta biết”[10].
Như thế, với kiểu nói “một ngôi vị trong hai bản tính”, Công đồng Chalcedonia chẳng những đã liên kết hai ý niệm mà triết học luôn luôn cho là không thể hoà hợp với nhau: tính siêu việt của thần linh(linh hồn của hệ thống triết học Platon) và tính nội tại thần linh(nồng cốt của triết học phái khắc kỷ (Stociens)), mà nhất là đã mặc cho các khái niệm triết học đó một ý nghĩa hoàn toàn mới mẻ và vô cùng phong phú mà triết học Hy lạp không thể và không bao giờ đạt được. Hay nói theo ngôn ngữ thời hiện đại, chính Chalcedonia đã “rửa tội” cho triết học Hy lạp. Bởi vì đây không đơn thuần là vấn đề từ ngữ, mà cái chính là Công đồng đã giới thiệu và minh trình Một Thực Tại quá khác thường và vô cùng phong phú, vượt trên mọi tri thức thuần tuý nhân loại, một sự kiện vô tiền khoáng hậu đối với lịch sử nhân loại, một mầu nhiệm khôn dò khôn thấu. Thực Tại đó chính là Đức Giêsu Kitô, Đấng kết hợp hai bản tính thần linh và nhân loại ngay trong chính bản thân mình, Đấng vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật. Chính Thực Tại cao cả này xuất hiện không phải để “bãi bỏ” và làm nô lệ hoá tư tưởng con người như nhiều người vẫn lầm tưởng, nhưng là khai mở những chân trời mới cho suy tư của con người, đồng thời không ngừng “đi bước trước” để soi dẫn, đỡ nâng và đưa lý trí con người lên cao, lên với thực tại thần linh và kết hợp với thực tại đó cách viên mãn qua mầu nhiệm ngôi hiệp nơi Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Đó là điều mà ngay cả lối chiêm niệm của Platon cũng như “Lý trí ánh sáng!” thời hiện đại không bao giờ dám mơ tới và cũng chẳng bao giờ đạt được, nếu Đức Kitô, Ánh sáng đích thực của thế gian[11], không tỏ lộ cho.
Nếu hiểu như vậy, thì Công đồng Chalcedonia chưa phải là điểm kết thúc mà đúng hơn là mở ra những chiều kích mới mẻ cho Kitô học về sau, như chính nhà thần học nổi tiếng Karl Rahner đặt lại vấn đề trong một cuốn sách với tựa để: “Chalcedonia, kết thúc hay khởi điểm?”…
Vấn đề 2: Công đồng Chalcedonia đã trình bày mầu nhiệm Đức Kitô quá “tĩnh”, quá nặng về chiều kích hữu thể(Thần học Nhập Thể), mà bỏ quên đi chiều kích “động”(Thần học Cứu độ, Thần học Chức năng, Thần học Thập giá) nơi Đức Kitô. Một cách cực đoan hơn, thần học gia Tin lành Bultmann còn cho rằng: “Cũng như Cộng đoàn cánh chung, chỉ hiện thực như một biến cố. Thì nơi Đức Kitô cũng vậy, tính cách là Chúa và là Thiên Chúa nơi Ngài cũng chỉ là một biến cố”[12].
Trước hết, chúng ta phải nhìn nhận rằng đúng là Công đồng Chalcedonia đã quá chú tâm đến bình diện tĩnh, hay chiều kích hữu thể của mầu nhiệm Đức Kitô, mà không nói đến bao nhiêu về bình diện cứu độ, có chăng chỉ nhắc đến được vài từ: “vì chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, Người đã sinh ra theo nhân tính, bởi Đức Trinh Nữ Maria”, còn bỏ lại biết bao nhiêu vấn đề, chẳng hạn như chiều kích lịch sử, lịch đại về cuộc đời Đức Giêsu, về sự tiến triển mang tính nhân loại của Người, về sự tiến triển mà qua đó Người trở nên một hữu thể có ý thức trong tương quan với Chúa Cha, và với nhân loại, về các biến cố tạo nên nền tảng của việc giải thích căn tính của Người, cũng không đề cập gì đến sứ vụ, cái chết và sự phục sinh của Người, vv…
Tuy nhiên, một điều mà chúng ta phải biết và cảm thông với Giáo Hội thời đó, là các nghị phụ chủ yếu tập chú vào việc bảo vệ mầu nhiệm Đức Kitô trước các lạc thuyết, chứ các ngài không chủ ý làm một Kitô học hoàn chỉnh; thần học của các ngài chủ yếu là để hộ giáo. Các ngài chỉ muốn trả lời cho một vấn nạn do một lạc thuyết đặt ra trong một bối cảnh cụ thể lúc đó. Hơn nữa, qua các định tín đó, Chalcedonia muốn đưa ra một nguyên tắc, một nguyên lý hướng dẫn cho suy tư thần học của chúng ta sau này về mầu nhiệm Đức Kitô (Ngài mới là Thiên Chúa thật và là người đích thật), mà nếu không có nó, sợ rằng lý trí chúng ta – cái lý trí đã nhuốm mùi kiêu căng của nguyên tội – lại đi quá trớn và “lạc xa đường ngay nẻo chính” như những lạc thuyết thời đó. Thực tế, trong những thế kỷ qua chúng ta cũng đã chứng kiến biết bao nhiêu lối suy diễn lệch lạc đến từ chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa ánh sáng, mà hậu quả tệ hại của nó vẫn luẩn quẩn trong cách suy nghĩ cũng như lối sống đạo của biết bao Kitô hữu hôm nay và của con người thời đại, khi nhìn mầu nhiệm Đức Kitô một cách quá đơn điệu và quá phàm tục. Không phải chúng ta đang ở trong một thế giới bị giải thiêng hoá chưa từng có đó sao! Chẳng phải chúng ta đang bỏ qua chiều kích sự thật của hữu thể để lao mình vào trào lưu “duy hoạt động”, vì cho rằng cái đã làm ra (factum) và cái có thể làm ra (faciendum) mới là sự thật, mới có sức cứu độ con người đó sao! Như thế, phải chăng đây chính là lúc chúng ta cần “trở về Nguồn” hơn bao giờ hết để cứu lấy hữu thể, cứu lấy mầu nhiệm Nhập Thể?
Và phải chăng do chịu ảnh hưởng của lối suy tư duy hoạt động này mà Bultmann cũng như phong trào thần học do ông khởi xướng, coi “nơi Đức Kitô, tính cách là Thiên Chúa và là Chúa” chỉ như một biến cố, sâu xa hơn muốn tách lìa ‘hữu thể’ Đức Giêsu ra khỏi ‘hành động’ của Ngài, chia cắt “Giêsu” khỏi “Kitô”?
“Với lối định nghĩa theo kiểu hiện thực này của Bultmann, hữu thể thực sự của con người Giêsu được quan niệm như một ai đó đứng yên đàng sau biến cố “là Thiên Chúa và là Chúa”, nhân vật này chẳng đụng chạm gì tới biến cố và chỉ có ý nghĩa như một thứ “ngòi lửa” tình cờ, nhờ đó mà người này người nọ có thể gặp được Thiên Chúa khi họ lắng nghe lời của Ngài. Và cũng như hữu thể của Đức Giêsu im lìm bất động đàng sau biến cố, mỗi hữu thể chúng ta có thể được Thiên Chúa đánh động cũng theo nghĩa biến cố, nghĩa là luôn tuỳ thuộc ở sự đánh động. Nói cho cùng đó là một thái độ tuyệt vọng trước hữu thể, không còn dám hy vọng rằng, chính hữu thể lại có thể trở thành hiện thể- biểu lộ trọn vẹn nơi hành động.
Ngược lại, Kitô học của Gioan cũng như lời tuyên tín của Giáo Hội sơ khai mang tính triệt để hơn nhiều, bởi lẽ thần học này khẳng định: chính hữu thể cũng là hành động, và thần học này cho hay: Đức Giêsu với hành động của Ngài là một. Con Người Đức Giêsu không đứng sau hành động của Ngài như thể hành động đó chẳng liên quan gì với Ngài cả. Trái lại, hiện hữu của Ngài hoàn toàn là “bởi” và “cho”. Và chính vì hiện hữu đó không còn tách rời khỏi biểu lộ hiện thực, nên Ngài là một với Thiên Chúa và đồng thời cũng là Con Người mẫu mực, Con Người của tương lai. Chính nhờ Con Người này mà phàm nhân chúng ta mới ý thức được rằng chữ người đúng nghĩa vẫn còn ở phía trước, bản chất đích thực của con người hay việc trở thành con người đích thực là điều hãy còn xa vời”[13].
Theo chiều hướng suy tư này, thì cuối cùng phải đi đến khẳng định rằng Thần học Nhập Thể hay Kitô học theo hướng hữu thể luận, không có gì đối nghịch với Thần học Thập Giá hay Kitô học Chức năng, nhưng cùng với Thần học Thập giá như là hai hướng chính của Kitô học, luôn luôn bổ trợ cho nhau, nên một với nhau và làm cho mầu nhiệm Đức Kitô được sáng tỏ và phong phú thêm hơn. Quả vậy, “Hữu thể của Đức Kitô(Thần học Nhập Thể) là actualitas (hiện thực, hiện thể), là sự siêu việt chính mình, xuất hành ra khỏi chính mình; Ngài không phải là hữu thể “tồn tại” nơi chính mình, nhưng sống trọn vẹn phận “được sai đi”, phận làm Con, phận làm tôi tớ phục vụ. Ngược lại, hành động của Đức Giêsu không chỉ đơn giản chỉ là hành động mà còn là hữu thể, nghĩa là động chạm tới những gì thâm sâu nhất của hữu thể, đồng nhất với hữu thể. Hiện hữu của Đức Kitô là xuất hành, là biến đổi. Mà như thế thì rõ ràng thần học theo hướng nhập thể và theo chiều kích hữu thể, nếu hiểu đúng đắn, hẵn phải dẫn tới thần học Thập Giá, nên một với thần học Thập Giá. Và Ngược lại, Thần học Thập Giá, khởi đi từ biến cố khổ nạn, nếu hiểu đúng mức, sẽ dẫn tới Kitô học về người Con và trở thành một Kitô học theo chiều kích hữu thể”[14].
KẾT LUẬN
Nói tóm lại, qua những gì mà Công đồng Chalcedonia đã minh trình về tín điều Kitô học với công thức cơ bản là “chỉ một ngôi vị trong hai bản tính”, chúng ta mới thấy được rằng Công đồng đã phải vật vã như thế nào để cố gắng diễn giải đức tin của Công đồng Nicêa bằng ngôn ngữ thần học cho con người thời đại, trước các lối giải thích một cách rất tự tiện và sai lầm theo chuẩn mực của “lý trí ngoại giáo”, theo cách mà ngày nay chúng ta gọi là làm cho “hợp lý hoá” mầu nhiệm Đức Kitô, cái lý mà tổ tiên loài người là Ađam đã mắc phải. Tất cả nỗ lực của Công đồng Chalcedonia nói cho cùng là muốn trung thành với lời tuyên tín nền tảng của mọi Kitô học: “Đức Giêsu là Đấng Kitô”(Mt 16, 16). Nói khác đi, lời tuyên xưng mang tính chất quyết định nhất của đức tin về Đức Giêsu nằm trong sự hiệp nhất bất khả phân ly giữa hai từ “Giêsu-Kitô”, mà Giáo Hội qua mọi thời không ngừng bảo vệ trước bao tư tưởng của phàm nhân muốn chia cắt và phá huỷ, bởi lẽ sự hiệp nhất đó hàm chứa kinh nghiệm về sự duy nhất giữa hứu thể và sứ vụ, giữa con người và công việc, giữa Ngài với chính Lời của Ngài, như chính Đức Hồng y Ratzinger nhận định: “Tín điều này chẳng khác gì hơn ngoài việc khẳng định sự đồng nhất giữa Sống và Phục vụ”[15]. Và trải qua muôn thế hệ, Hội Thánh vẫn không ngừng tuyên xưng rằng “Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật một cách không thể tách biệt. Người thật sự là Con Thiên Chúa đã làm người, là anh em của chúng ta, mà vẫn không ngừng là Thiên Chúa, Chúa chúng ta:
Phụng vụ Rôma hát kính: “Ngài vẫn là Ngài như trước [Ngài là Thiên Chúa], và Ngài đã đảm nhận lấy điều mà trước đó Ngài không là [Ngài làm người]. Còn phụng vụ của Thánh Gioan Kim Khẩu công bố và hát kính: Lạy Con Duy Nhất và Ngôi Lời của Thiên Chúa, dù bất tử, nhưng để cứu độ chúng con, Chúa đã đoái thương nhập thể trong lòng Đức Maria, Mẹ rất thánh của Thiên Chúa và trọn đời đồng trinh. Chúa đã làm người và đã chịu đóng đinh vào thập giá mà không hề biến đổi. Lạy Đức Kitô, là Thiên Chúa, Chúa đã dùng cái chết của mình mà đập tan sự chết, Chúa là Một trong Ba Ngôi Chí Thánh, được tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, xin cứu độ chúng con!”[16].
Phần chúng ta, những người được phúc mang danh là Kitô hữu, chúng ta cũng phải không ngừng “chú giải” cho mọi người, nhất là cho những người lân cận của chúng ta, thấy được rằng Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật, và sẵn sàng trả lời cho họ biết về niềm hy vọng của chúng ta, qua việc “hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa”[17], và nhất là qua việc dấn thân phục vụ anh chị em đồng loại một cách triệt để như chính Đức Giêsu là Chúa và là Thầy đã nêu gương[18].
Jos. Nguyễn Văn Hảo
[1] Kinh Tin Kính Nicê-Constantinople
[2] GLCG, số 464
[3] Ibid, số 465
[4] X. Lm. JB. Nguyễn Khắc Bá, Giáo trình Kitô học & Thần học về Ba Ngôi, tr. 169-171
[5] X. Felipe Gómez – SJ, Kitô học (2), tr.276-280; x. Lm. Nguyễn Khắc Bá, Kitô học & Thần học về Chúa Ba Ngôi,
tr. 173-178.
[6] St. Cyrillo Alexandria, Homilia Paschalis XVIII, 3 (PG 77, 782)
[7] X. Schnackenburg, Con Người Đức Giêsu theo cái nhìn của Bốn Phúc Âm, tr.354
[8] Joseph Ratzinger, Đức Giêsu thành Nazarét, tr.27
[9] X. 1Cr 2, 8
[10] Gioan Phaolô II, Diễn văn ngày 9/3/1988, số 11
[11] X. Ga 12, 46
[12] Joseph Ratzinger, Đức tin hôm qua và hôm nay, tr. 240
[13] Ibid, tr. 240-241
[14] Ibid, tr. 243-244
[15] Ibid, tr. 239
[16] GLCG, số 469
[17] Rm 12,1
[18] X. Ga 13, 1-15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lm. JB. Nguyễn Khắc Bá, Giáo trình Kitô học và Thần học về Chúa Ba Ngôi, ĐCV Vinh Thanh – 2009
2. Filipe Goméz – SJ, Kitô học (2), Nxb Antôn & Đuốc Sáng,
3. Bernard SESBOUE- SJ, Quá trình phát triển tín điều Kitô học, Nxb Tôn giáo, Hà Nội – 2010, Lm. Pet. Nguyễn Thiên Cung, biên dịch và chuyển ngữ
4. Norberto, Đức Giêsu Kitô Ngôi Lời Nhập Thể – 2001
5. Fernando Ocáriz – Lucas F. Mateo Seco – José Antonio Riestra, Mầu Nhiệm Đức Kitô, Lâm Văn Sỹ (OP), dịch
6. ĐGM Phaolô Bùi Văn Đọc và Các Linh mục khác, Đức Kitô hôm qua hôm nay và mãi mãi, Nxb Tôn giáo, Hà Nội – 2010
7. Joseph Ratzinger, Đức tin hôm qua và hôm nay, Nxb Tôn giáo, Hà Nội – 2010, LM. Nathanasio Nguyễn Quốc lâm & Phạm Hồng Lam, dịch
8. Joseph Razinger, Đức Giêsu thành Nazarét, Nxb Tôn giáo Hà Nội – 2008, Lm. Augustine Nguyễn Văn Trinh, dịch
9. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Uỷ Ban Giáo Lý Đức Tin, Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội – 2010
10. Rudolf Schnackenburg, Đức Giêsu qua Bốn Phúc Âm, Nxb Tôn giáo, Hà Nội – 2009, Paul Nguyễn Luật Khoa & Maria Phạm Thị Huy, biên dịch

