TÍNH ĐẶC THÙ VÀ TÍNH PHỔ QUÁT CỦA MẦU NHIỆM ĐỨC GIÊSU KITÔ
DƯỚI CON MẮT LÝ TRÍ VÀ DƯỚI CÁI NHÌN HIỆN SINH ĐỨC TIN
Giuse Nguyễn Đức Nhân
Khi việc tranh cãi về tính lịch sử của Đức Giêsu thành Nazareth đã đến hồi kết, thì người ta bắt đầu “chĩa mũi dùi” về những điều liên quan đến lịch sử tính của Ngài đặt trong mối liên hệ với Đức tin Kitô giáo. Nó bắt đầu bằng việc nêu ra những câu hỏi “không thể không đặt ra” đối với người Kitô hữu: Đức Giêsu Kitô là Ngôi Lời nhập thể làm người, nghĩa là một nhân vật lịch sử, thế thì Ngài làm sao có thể cứu độ được tôi nếu Ngài đã thuộc về quá khứ? Ngài chỉ là một “chấm nhỏ” trong bức tranh tổng thể rộng lớn của vũ trụ, thì làm sao Ngài có thể “bao trùm” nó được? Ngài đã bị “cắm mốc”, đã bị “neo vào” một điểm cố định trong thời gian, không gian, thì làm sao Ngài có thể “vươn tới”, “đi đến” tương lai hay “hồi lại”, “trở về” với quá khứ được? Và như thế, ta chẳng phải là có lý khi tuyên bố rằng: “Ông ấy đâu có liên hệ gì tới tôi!” lắm sao? Và lời tuyên bố của Ngài, “Ta sẽ ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”, chẳng phải là một lời tuyên bố điên khùng ư?…Những câu hỏi thuộc dạng khác cũng sẽ xuất hiện: nếu Đức Giêsu thành Nazareth chỉ như Khổng Tử nước Lỗ, Socrate thành Athens, Đức Thích Ca Mâu Ni người bộ lạc Sákya,…chỉ “hiện diện” trong tư tưởng, học thuyết của các vị, chỉ là hình ảnh mờ nhạt trong tâm trí những đồ đệ của mình, thì làm sao ta có thể nói đến sự hiện diện[1] của Ngài, nói đến việc cầu nguyện với Ngài, hiệp thông với Ngài,…? Ngài có điểm gì riêng, khác không nhỉ? Nếu Ngài “chẳng có gì đặc thù cả”, nếu Ngài chỉ là kẻ “nổi trội” hơn người khác về một số điểm nào đó, thì cuộc sống của tôi tại sao lại phải “dính” vào Ngài? v.v…
Những câu hỏi trên nảy sinh từ vấn nạn: Có hay không tính đặc thù và tính phổ quát nơi Đức Giêsu Kitô, hay đơn giản Ngài chỉ là một người “nổi tiếng”? Làm sao con người Đức Giêsu Kitô- là một gương mặt đặc thù, lại có tính phổ quát? Tính đặc thù và tính phổ quát nơi Ngài có “đụng chạm” gì đến tôi không? Làm thế nào để tôi, một Kitô hữu (chứ chưa cần xét đến một người bất kỳ), chấp nhận được một Đức Giêsu lịch sử lại có thể siêu vượt thời gian, không gian, các định chế…, mà không trở thành một kẻ cuồng tín, kẻ “vứt” lý trí của mình vào sọt rác?
Đức Giêsu lịch sử giờ đây lại trở thành cái “cớ” để người ta chống lại Ngài!
Đòn đánh này phải nói là tinh vi hơn, “hợp lý” hơn và cũng “thâm độc” hơn rất nhiều, chứ không “ngây ngô”, “khờ dại” như cố phủ nhận sự kiện Đức Giêsu đã từng có mặt ở trên cõi đời này. Nó đã khôn khéo “kéo” lý trí vào cuộc, nhưng không phải chỉ là một mình lý trí, đồng thời “thúc bách” người Kitô hữu xét lại niềm tin của mình vào Đức Giêsu Kitô. Nó đứng trong tư cách một Kitô hữu có “hiểu biết” tra vấn về nền tảng Đức tin của mình, chứ không phải trong tư cách một “quan sát viên” khó tính! Và nếu nó thành công thì liệu toà nhà Kitô giáo có đứng vững được nữa hay không, hay là sẽ rơi vào thảm cảnh“không còn hòn đá nào chồng trên hòn đá nào”? Một hệ quả trực tiếp, nếu điều này xảy ra, là việc Đức Giêsu đã từng có mặt trong lịch sử hay không thì cũng bằng thừa!
Chắc hẳn mỗi người trong chúng ta đều có kinh nghiệm về ích lợi đến từ những khó khăn, thử thách, và ngay cả những cơn cám dỗ trong cuộc đời mình. Lúc đầu ta thích rằng giá như không có những chuyện “khó chịu”, những chuyện làm ta phải “chau mày, bóp trán”, “hao công, tốn sức” thì cuộc sống dễ chịu, tươi đẹp biết bao. Thế nhưng, càng qua nhiều cuộc “thử lửa”, chúng ta càng vững vàng hơn, trưởng thành hơn, mạnh mẽ hơn, sâu sắc hơn. Liên hệ đến vấn đề của chúng ta, khi nhìn nhận một cách khách quan, bỏ qua việc mình đang bị “tấn công”, ta cũng phải tự hỏi: Liệu đây có phải là những vấn nạn nảy sinh từ tâm trí, như là một đòi buộc của lý trí để Đức tin có thể chấp nhận được, hay nói cách khác, “hiểu để tin” không? Liệu nó có phải là nhiệm vụ của “đức tin tìm kiếm sự hiểu biết”? Hay nó là một thúc bách, một đòi hỏi hiện sinh Đức tin mà người Kitô hữu chính danh phải đối mặt, một vấn đề không thể lảng tránh?
Trong bài viết này ta không đơn thuần làm công việc của một nhà hộ giáo, tức nhắm đến việc giải đáp ổn thoả những câu hỏi trên “cho đẹp lòng” lý trí hay “vững chân” Đức tin, nói cách khác ta không cố dùng lý trí để chứng tỏ sự hợp lý của Đức tin, cũng không đưa ra những luận chứng để cho Đức tin được an lòng, (vì thực ra Đức tin có tính hữu lý của nó, và nó đứng vững được không chỉ nhờ các luận chứng) mà ta sẽ “vượt qua” chúng để tìm thấy “đường, sự thật, và sự sống” nơi chính Đức Giêsu Kitô. Và rồi ta sẽ thấy sự “vượt qua” này đem lại cho ta một cái nhìn khác, rất bất ngờ, đầy tính hiện sinh từ một vấn đề xem chừng chỉ là “thách đố” cho lý trí, dù được “nguỵ trang” dưới hai mặt nạ có tên là Đức tin và hiện sinh. Nhưng dù sao, ta hãy cứ bắt đầu bằng sự “khiêu khích” của lý trí.[2]
I. Tính đặc thù và tính phổ quát nơi Đức Giêsu Kitô – một điều không thể chấp nhận nổi đối với lý trí?
Chúng ta hãy bắt đầu bằng những sự kiện đơn giản nhất. Không ai trong chúng ta phủ nhận sự tồn tại của lực hút trái đất, không ai bảo rằng lực hấp dẫn chỉ là chuyện bịa đặt của mấy nhà khoa học vui tính, cũng không ai bảo rằng chúng chỉ là những khái niệm trừu tượng chứ không phải những thực thể, thế nhưng ai có thể chỉ cho tôi thấy “hình thù”, “màu sắc” của những lực đó nào?
Trong cuộc sống không phải bất cứ cái gì xảy ra là lý trí con người có thể “nuốt trôi” được. Ví dụ như: sự phản bội của một người mà mình tin cẩn; sự căm ghét của người mà mình luôn yêu thương chăm sóc; sự thất bại thảm hại của một kế hoạch hành động mà mình nắm chắc thành công; cái chết bất ưng của một người trẻ tuổi khoẻ mạnh, tài năng,…Đó chỉ là những sự kiện mình có thể “thấy được”, “sờ được”, còn với những sự kiện mà mình không thấy được, cũng không thể “sờ chạm” được thì thế nào? Liệu ở đây ta có thể “nhại” lại câu nói nổi tiếng của Blaise Pascal: sự thực có những lý lẽ riêng của nó mà lý trí không thể nào hiểu được?[3]
1. Sự đóng khung của lý trí
Triết gia Blaise Pascal đã “khen” lý trí khi nó biết dừng tại “đỉnh cao” của mình, tức là nhận ra giới hạn của nó[4]. Thế nhưng, thật là đáng chê trách khi nó tự “đóng” mình vào một cái “khung” được làm bằng thép, cứng ngắc, lạnh lùng. Cái khung này rất khó phá vỡ, bởi nó được hình thành dựa trên kinh nghiệm, dựa trên thói quen, không chỉ là của một cá nhân nào đó, nhưng là của cả cộng đồng nhân loại rộng lớn, không phải chỉ trong một thời đoạn nào đó, nhưng nó đã trở nên một thứ “định chế”, hay “cơ cấu” cho tâm trí con người. Nói một cách khác, lý trí con người đã bị “điều kiện hoá”.
Nhân loại đã chứng kiến hai trường phái triết học Duy tâm và Duy vật tranh cãi nhau xem “duy” gì mới đúng. Đã “tâm” thì không thể là “vật”, đã “vật” thì không thể là “tâm”! Vì thế “phe” Duy vật “buộc” phải “phán”: tinh thần rốt cuộc chỉ là một hình thức của vật chất. Và như vậy, con người chỉ là đống vật chất mà thôi!
Việc lý trí bị “điều kiện hoá” là một cái gì nghe “nghịch nhĩ”, mà như Pascal mỉa mai: “không có gì ‘thích hợp’ đối với lý trí cho bằng việc chối bỏ lý trí!”[5]. Trong bài viết này ta không cố công dùng “búa tạ” phá vỡ cái khung đó, để rồi “nhét” tín điều vào. Không! Điều đó là không thể và cũng không cần thiết: Ai chỉ biết tin vào những gì mình thấy, thì người đó mù! Ai kiên quyết chối tin vào những gì người khác đã “thấy”, mà những người này sẵn sàng đảm bảo cả tính mạng mình, thì người ấy dại khờ ! Ai tự hào về lý trí của mình, thì kẻ đó chẳng khác gì một tù nhân hãnh diện về chiều rộng phòng giam mình! Chân lý có thể đến trong những hình thức mà tôi không ngờ nhất.
Trong tác phẩm “Mù loà”, nhà văn người Bồ Đào Nha José Saramago[6] đã tưởng tượng ra một căn bệnh kì lạ, có khả năng lây nhiễm, xảy ra tại một thành phố. Căn bệnh này có tên gọi là bệnh “mù trắng”. Sở dĩ được gọi như vậy vì đôi mắt người bệnh nhìn bề ngoài vẫn bình thường, không có dấu hiệu của bất cứ thứ bệnh nhãn khoa nào, nhưng thực ra chỉ có một biển sữa trong mắt họ mà thôi. Người nào nhìn vào thì không thể nói họ bị bệnh về mắt được, cũng không nghĩ rằng họ chẳng thấy gì cả- ngoài một màu trắng nhờ nhờ, chỉ có kết cục là chính người này cũng trở nên “mù” như họ! Và căn bệnh này đã làm cho thành phố tan hoang, trở nên một thành phố “chết”. Đây quả là một tác phẩm xuất sắc, vì nó thể hiện tính biểu tượng cao, nó nói lên một điều gì nhức nhối: con người là kẻ bị nhiễm bệnh “mù trắng” trong nhận thức, trong suy nghĩ. Căn bệnh này nhìn bề ngoài bình thường, vô sự, rất ổn, nhưng thực ra lại vô cùng tệ hại, nó bị “mù đui” trong một “biển sữa”; và tệ hơn nó có tính truyền nhiễm, hết người này đến người khác, hết đời này đến đời khác. Thực tại vẫn có đó, trước mắt nó, xung quanh nó, tác động đến nó, nhưng nó đã không nhận ra.
“Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận”[7] !
2. Thực chất của vấn đề và sự đòi hỏi “vượt qua”
Đây có phải là cuộc chiến giữa Đức tin và lý trí? Cuộc chiến này nhắm vào niềm tin một con người, hay niềm tin vào một vị Thiên Chúa làm người? Rốt cuộc nó có phải là một “cách phát biểu” khác của nguyên nhân dẫn tới một số lạc thuyết thời Giáo hội sơ khai, ví như lạc thuyết Nestorius? Nó khẳng định: Không thể có Chúa như một con người, và không thể có con người như là Chúa được! Và như vậy, người ta đã khởi sự làm việc với một điều kiện là phải loại ra khỏi biến cố cái lực nội tại của nó. Nhưng chính lực này mới là cái tạo cho biến cố sự lôi cuốn và đầy đủ ý nghĩa.[8]
Ở đây có một sự đòi hỏi của lý trí: tính logic thuần lý của một “biến cố”, một “sự kiện” lịch sử được đặt trong tương quan với Đức tin.
Nhưng nếu ta tự hỏi: Tại sao lại không như vậy? “Hẳn nhiên, nếu chính tôi qui định cái gì được phép có hoặc cái gì không được phép xảy ra, nếu tôi chứ không phải ai khác đặt biên giới cho một khả thể nào đó thì đương nhiên những hiện tượng kia không thể nào xảy ra được. Nếu chúng ta bảo rằng, điều này điều kia tự nó là mâu thuẫn và phi lý, vì chúng không thể nào xảy ra được, thì đó quả là một kiêu ngạo của trí năng.”[9] Và với chỉ “lý trí mà thôi, như được biểu lộ trong khoa học, không phải là câu trả lời đầy đủ của con người cho thực tại và không thể nói hết những gì con người có thể muốn nói và phải nói”[10]. Đức tin không phải là ta gặp một cái gì do mình tự nghĩ ra nhưng là đón nhận một điều lớn lao đang tới với ta, lớn hơn những gì con người có thể nghĩ ra. Và tiếc thay, vấn đề không phải là con người nghĩ như thế nào, nhưng là cái gì đã thực sự xảy ra! Thực tế đó lớn lao hơn mọi từ ngữ, suy luận, nắm bắt của lý trí con người. Giáo phụ Tertulian đã nhận định rất hay: Đức Kitô không nói “Tôi là thói quen”, nhưng “Tôi là Sự thật”. Thói quen là “quen thói” làm việc kiểu: từ các sự kiện, sau một hồi “phân tích”, “tổng hợp”, nó tuyên bố rằng đã tìm ra…sự thật! Đây chính là điều được thể hiện nơi câu nói “cửa miệng” của người Mác-xít: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là quá trình biện chứng việc nhận thức chân lý”[11].
Trong thông điệp Fides et Ratio, Đức Gioan Phaolô II đã viết một câu đầy hình ảnh: “Đức tin và lý trí ví như đôi cánh giúp con người băng mình lên chiêm ngưỡng chân lý”. Nhưng có lẽ lúc này, thật đáng tiếc, như thần học gia J.Ratzinger nhận định, con người không cất cánh được, là vì đã gãy mất một cánh, cánh Đức tin, mà chỉ còn lại có một: cánh lý trí. Lý trí tuy có giúp ta thấu đạt đến nhiều vấn đề, nhưng một mình nó không thể giúp ta trả lời được những vấn nạn nền tảng của con người.
Một chút thời sự: Với rất nhiều người, kể cả một số thần học gia nổi tiếng hay số ít các vị chức sắc cấp cao trong Giáo hội (đặc biệt tại Á châu), thì vấn đề “tính đặc thù và tính phổ quát” nơi Đức Giêsu Kitô quả là “bức tường Berlin” cho vấn đề truyền giáo. Khi Bộ Giáo lý Đức tin ra Tuyên ngôn Dominus Jesus[12], đã có những phản ứng mạnh mẽ không chỉ nơi các tôn giáo khác mà ngay cả trong nội bộ Kitô giáo. Người ta cho rằng mấy “ngài” ở điện Vatican đã không đủ tỉnh táo, không đủ nhạy cảm để nhận ra tầm mức vấn đề trong thời điểm hiện tại. Họ cũng nhấn mạnh, Tuyên ngôn này chẳng khác gì một “quả bom” phá nổ tan tành công trình đối thoại liên tôn mà Giáo hội đã cố công bấy lâu. Nó là một “bước thụt lùi”, một “cản trở lớn” cho tiến trình đối thoại đại kết Kitô giáo và đối thoại liên tôn[13]. Thế nhưng, nếu ta đọc kĩ Tuyên ngôn, và với niềm xác tín Đức tin của mình, ta sẽ không ngần ngại nói lên điều mà Giám mục Francesco Lambiasi tuyên bố: “…ở đâu giảm thiểu tính cách trung tâm, duy nhất và phổ quát của gương mặt Chúa Kitô…thì ở đó…người ta dốc đổ đi Đức tin Kitô giáo”.[14] Và mặt khác, “một cuộc đối thoại mà không có cơ sở (Đức tin) thì rồi ra cũng chỉ suy thoái thành một cuộc nói chuyện suông mà thôi”.[15]
Trong tác phẩm “One minute wisdom”, linh mục Anthony de Mello có kể câu chuyện sau: “Ngày kia, một triết gia chất vấn vị Linh sư: – Thưa thầy, sao thầy lại coi thường tư duy? Chính tư duy là phương thế duy nhất để ổn định thế giới. Linh sư đáp: – Đúng vậy! Nhưng tư duy làm ổn định thế giới cách khít khao đến nỗi kết cục người ta không còn nhìn thấy thế giới thực hữu nữa. Tư duy là một màn ảnh, chứ không phải là gương soi. Màn ảnh bày ra những sự kiện trừu tượng do trí khôn xếp đặt. Vì thế nó không phản chiếu thực tế và khiến con người không nhận ra những giá trị thực hữu.”
Do vậy, vượt trên tất cả, điều cần cho cuộc sống ta không phải là biết một cái gì đó, không phải là chứng tỏ được điều gì đó đúng hay sai, hợp lý hay không, nhưng chính là Ai đó làm cho ta sống! Ta phải vượt qua sự “đối nghịch” mà lý trí đặt ra giữa tính đặc thù và tính phổ quát nơi mầu nhiệm Đức Giêsu Kitô, để nhận ra điều gì mang đến cho chúng ta, cho cuộc sống, cho nhân loại, và điều gì làm cho tôi sống, anh sống nơi tính đặc thù và tính phổ quát của con người Ngài. Và do đó ta sẽ có một cách tiếp cận và lý giải vấn đề trên một cách khác hẳn, theo đường lối hiện sinh Đức tin chứ không theo cách của lý trí tiếp cận một vấn đề hữu thể học!
II. Tính đặc thù nơi Đức Giêsu Kitô dưới con mắt Đức tin
Ở đây ta không đề cập đến con người Giêsu Kitô dưới con mắt của nhà sử học, nhưng là quan tâm đến tính đặc thù của con người đó dưới con mắt Đức tin. Dĩ nhiên, khi nói như vậy không có nghĩa là ta “lờ đi” lịch sử tính của Đức Giêsu, bởi việc gắn liền với lịch sử thật đó là một nét đặc thù của Kitô giáo. Ngược lại, nó nhấn mạnh rằng: con người Giêsu đó, tôi không còn nghi ngờ gì về sự hiện diện của Ngài trong lịch sử, tôi không muốn phục tác Ngài, nhưng tôi chỉ muốn đề cập đến những gì đặc thù được nhìn thấy từ toàn bộ cuộc đời của Ngài qua lăng kính Đức tin mà thôi. Những nét đặc thù này phải khởi đi từ cuộc đời thực của Ngài, từ con người thực của Ngài, chứ không phải từ các công trình nghiên cứu lịch sử hay từ nhân vật Giêsu của một sử gia nào đó.
1. Khi cái nhìn của sử gia hiện đại trở nên nguy hiểm
Thời nào cũng vậy, đám hậu thế bao giờ cũng muốn tạc tượng, xây quảng trường, đặt tên đường,…cho những bậc tiền nhân vĩ đại của họ. Mục đích là tự hào với người khác, đồng thời nhắc nhở cho con trẻ về thành tựu của cha ông họ. Nếu những vị này đang còn xác ướp, đang còn phim tài liệu, ảnh chụp, ảnh vẽ chân dung thì công việc đưa hình ảnh “chân thực” của các vị cho quần chúng chiêm ngưỡng thật dễ dàng. Thế nhưng, nếu những thuận lợi trên không có, thì người ta chỉ còn cách là dựa vào các nguồn sử liệu để “tạo hình” vĩ nhân đó mà thôi. Và thật tội nghiệp, Đức Giêsu rơi vào trường hợp này!
Dựa vào bốn sách Tin mừng, kết hợp với vốn hiểu biết về văn hoá-địa lý-chính trị-xã hội của dân tộc Do thái thời Đức Giêsu, cộng với việc ứng dụng những thành tựu của các khoa xã hội học, nhân chủng học, khảo cổ học,…, lại thêm với những phương pháp tiến hành khảo cứu đầy tính “khoa học”, các sử gia hiện đại đã muốn quay trở về quá khứ để “lôi” một Đức Giêsu “đang đi dạo ở Galile” về cho thế giới hiện tại. Nhiều người đã thành công trong việc tạo nên một nhân vật có tên là Giêsu,còn Đức Giêsu thành Nazareth mà bốn Phúc âm ghi lại thì không thấy đâu cả! Hay nói đúng hơn, họ cố gắng chế tác một Đức Giêsu trong phòng thí nghiệm, và kết cục bằng các “phản ứng hoá học” của các “chất liệu” họ dùng, họ đã làm biến dạng khuôn mặt đích thực của Đức Giêsu!
Đức tin Kitô giáo không thể chấp nhận một Đức Giêsu như thế, một Đức Giêsu được “nhào nặn” bởi bàn tay con người, quá “gầy guộc” về mặt lịch sử, khô cứng, thiếu hẳn “chất người”, và không thể là đối tượng cho niềm tin được[16]. Nếu tôi tuyên xưng niềm tin của mình vào một Đức Giêsu như thế, nếu tôi đặt trọn cuộc sống của tôi vào một con người như vậy, liệu thử hỏi tôi có tỉnh táo không? Nếu với một Đức Giêsu như thế, một Đức Giêsu đã bị “lột” hết phẩm tính thần linh không còn gì đáng gọi là cao cả, siêu việt, thì tôi có hoạ là điên mới cam kết sống chết với Ngài! Và nếu một Đức Giêsu lịch sử có một khuôn mặt “giống y chang” như khuôn mặt của nhân vật Giêsu mà các sử gia hiện đại phục dựng được, thì máu của các vị tử đạo chẳng khác gì nước lã!
2. Yêu sách hiện sinh đến từ Đức tin
Người ta có thể dựa vào bốn Phúc âm để tóm tắt tiểu sử của Đức Giêsu thành Nazareth: người sống thời Tổng trấn Pontius Pilatus, dưới triều hai hoàng đế Roma là Augusto và Tiberius, có mẹ là bà Maria và cha nuôi là ông Giuse,…, ẩn dật 30 năm ở Nazareth, sau 3 năm giảng đạo thì bị bắt, bị đánh đập, và chết nhục nhã trên thập giá.
Một câu hỏi rất tự nhiên được đặt ra: Nếu cuộc đời Đức Giêsu chỉ có vậy, nếu Ngài cũng bình thường như bao người khác, thì tại sao Ngài lại trở nên vĩ đại, trở nên lôi cuốn, và làm sao Ngài có thể đòi buộc người ta phải tin vào Ngài mới được cứu độ, trong suốt hơn hai ngàn năm qua? Quả thực, nếu Đức Giêsu chỉ là một người bình thường, một khuôn mặt chìm lỉm giữa hàng triệu triệu khuôn mặt khác, thì câu hỏi này không thể nào trả lời được, Ngài phải có những nét “đặc thù” nào đó!
Ta hãy khoan đưa ra câu trả lời cụ thể cho câu hỏi trên, nhưng ta sẽ tiếp cận một vấn đề, một vấn đề rất thiết thân đối với cuộc sống con người, mà qua đó nó sẽ làm ló dạng câu trả lời cho câu hỏi trên.
Tôi phải sống thế nào đây để cuộc sống tôi có ý nghĩa? Tôi phải yêu như thế nào thì mới được gọi là yêu đúng cách? Có cần thiết không khi tôi phải hy sinh, hãm mình trước những thú vui, những đam mê, dục vọng của mình? Tại sao lại có đau khổ? Đau khổ có giá trị gì không? Sao lại có cái chết? Đàng sau cái chết có “cái gì” nữa không, hay chỉ là hư vô hoàn toàn?…Còn rất nhiều vấn nạn hiện sinh khác cứ đeo bám dai dẳng con người từ thế hệ này qua thế hệ khác. Con người đã luôn khao khát và luôn tìm kiếm đáp án cho những vấn nạn trên. Qủa thực họ không chờ mong những đáp án “chỉ là lý thuyết” xám xịt, khô cứng, không dựa vào một thẩm quyền đáng tin nào, nhưng họ trông chờ một Ai đó đến với họ. Vị này sẽ có những nét “đặc thù” nào đó, hay nói cách khác, vị này vừa giống họ vừa phải “khác” họ! Vị này là người thầy hướng đạo cho họ, là mẫu gương để họ noi theo, là người nói cho họ sự thật về tất cả băn khoăn khắc khoải của họ, nhưng trước hết và trên hết, vị này phải có khả năng nâng họ lên, thông truyền một sức sống mới cho họ. Đây là những đòi hỏi, những khát vọng chính đáng được “ghi khắc” trong sâu thẳm con người, và ta có thể nói mà không sợ sai: nó cũng là một đòi hỏi mạnh mẽ nhất của lý trí con người, chứ không phải là vấn đề hiểu biết![17]
Và Kitô giáo khẳng định rằng, Ai đó- người mà nhân loại trông mong, chính là Đức Giêsu thành Nazareth, Con Thiên Chúa làm người!
3. Đấng Emmanuel
Nếu Thiên Chúa cứ “ngự tận chốn cao xanh” không hề đếm xỉa đến thân phận bụi đất của tôi, thì tôi có buộc phải thờ kính Ngài không? Nếu Thiên Chúa nghĩ rằng: “Con người là chi mà Chúa cần nhớ đến / Phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm ?” và rồi Ngài cứ để mặc con người nơi “lũng đầy nước mắt”, thì Ngài có phải là Cha tôi không? Nếu Ngài “đặt để” trong sâu thẳm con người tôi những khao khát “lạ lùng” đối với chính tôi, rồi Ngài cứ để mặc tôi sống trong “sa mạc nóng bỏng” với cơn khát ngày càng dày vò tôi, thì liệu Ngài có xứng đáng để gọi là Tình Yêu nữa hay không?…
Thiên Chúa không hành động như thế! Ngài đã làm cho con người điều mà con người không dám nghĩ tưởng tới, điều mà con người không thể tưởng tượng ra. Ngài không muốn nhìn ngắm con người vật lộn với bí ẩn cuộc đời; Ngài cũng không muốn tuôn ra tràng giang đại hải những chỉ dẫn cho con người biết cách phải vượt qua cuộc đời như thế nào; Ngài cũng không tạo ra những công cụ, những bộ máy để đáp ứng những khao khát từ thẳm sâu trong lòng con người. Ngài đã đích thân xuống đồng hành với con người, Ngài đã muốn chính mình cùng lăn lộn với con người nơi chốn hồng trần: cùng ăn cùng uống, cùng sống cùng chết với con người và cho con người. Bởi vì Ngài là Emmanuel, Thiên-Chúa-ở-cùng-con-người. Thiên Chúa ‘ở cùng’ con người không có nghĩa là Ngài xuất hiện bên cạnh con người, nhưng là với con người, cho con người, và bên trong con người; Ngài soi sáng, nâng đỡ, cứu độ nó! [18]
Lòng nhân từ và thương xót của Thiên Chúa đã thúc đẩy Ngài hành động, đồng thời đã cho chúng ta chìa khoá để hiểu các hành động ấy, nay trở nên gần gũi con người đến nỗi chúng mang dáng dấp của một con người, tên là Giêsu, tức là Ngôi Lời đã thành xương thành thịt.[19]
“Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta”: Nhiều người bị “sốc” nặng khi nghe lời tuyên bố công khai “đối nghịch” với những gì lý trí “quen” chấp thuận này. Lời hoá thành xác thể, “tâm” hoá thành “vật”, Thiên Chúa làm người,…Với câu này thánh sử Gioan đã phá tung cái “khung” cứng nhắc của lý trí con người. Chỉ cần câu này thôi thánh Gioan đáng được xem là ân nhân cho lý trí của nhân loại. Hoặc ta có thể bắt gặp sự “ngỡ ngàng” nơi Phêrô trước hành động rửa chân các môn đệ của Đức Giêsu: “Thưa Thầy! Thầy mà lại rửa chân cho con sao ?”, nó giống như phản ứng của dân Do thái khi Đức Giêsu tuyên bố: “Ai ăn Thịt Ta và uống Máu Ta, kẻ ấy sẽ có sự sống đời đời”. Nó nghe rất “chói tai”! Nhưng tất cả điều đó là sự thật, và do vậy, từ “chói tai” đã thành “chói sáng”!
Giờ đây, người ta sẽ phải thừa nhận: Chói loà thì ngang với đêm đen!
Đức Giêsu thành Nazareth, con của Đức Maria, là Con và là Lời của Thiên Chúa. Ngôi Lời, Đấng “từ đầu đã ở với Thiên Chúa”[20]cũng là một với Đấng “đã hoá thành nhục thể”[21]. Điều này nói lên tính “độc nhất”, “đặc thù” nơi Đức Giêsu Kitô, và nó cũng nói lên tính độc đáo, khôn dò thấu của Thiên Chúa! “Thiên Chúa đến với con người qua Đức Giêsu Kitô. Ngài dùng ngôn ngữ loài người để nói với họ, trình bày ngôn ngữ đó bằng những kinh nghiệm, hiểu biết, cơ cấu sinh hoạt hàng ngày của họ, để nhờ cái gần gũi và thường nhật đó mở ra cho họ thấy được cái cơ bản.”[22]
Giám mục người Đức Rudolf Graber cho rằng biến cố Nhập thể đã “vượt xa vô cùng biến cố tạo dựng vũ trụ”. Chưa bao giờ có một biến cố lớn như thế xảy ra, và cũng không bao giờ sẽ xảy ra một biến cố mang tầm vóc như thế: “Bởi vì việc Con Một của Thiên Chúa, Ngôi Hai Thiên Chúa, sẵn sàng làm người trong một địa cầu tí hon này là chuyện vượt trên tất cả mọi cái có thể tưởng tượng”.[23] Và người ta cũng sẽ không thể tưởng tượng được những chuyện xảy ra sau đó: một vị Thần-nhân sống một cuộc đời đơn nghèo, vô danh suốt ba mươi năm trời; ba năm rao giảng bị nhiều người căm ghét, tức tối, hằn học, nhạo báng; bị kết án tử vì nhiều tội danh, đặc biệt là tội phạm thượng; và cuối cùng là chết trần truồng trên thập giá! Tất cả đều là những nét rất riêng, rất đặc thù của Ngài!
Nếu dùng ngôn ngữ Thánh Kinh, ta sẽ nói rằng: “chưa có ai ăn nói” như Ngài; chưa có ai ra yêu sách như Ngài (đòi hỏi người ta phải tin vào mình); chưa có ai có thẩm quyền trên những lời nói và hành động như Ngài; Ngài đã gọi Thiên Chúa Tối Cao bằng tiếng gọi của trẻ thơ- “Abba”; Ngài là vị Thiên Chúa chết cho con người, là người công chính chết cho kẻ bất lương, là người thánh thiện- Con Chiên vô tì tích chết cho kẻ tội lỗi, là người yêu anh em mình “cho đến cùng”, là người dành trọn cả cuộc đời mình để sống cho kẻ khác,…Như thế, ta có thể nói Ngài “khác” với chúng ta quá, Ngài “đặc thù” quá, nhưng đồng thời ta cũng nhận ra Ngài rất gần gũi với chúng ta. Đây là điểm mà tính “đặc thù” mở ra tính “phổ quát” nơi Đức Giêsu.
Ta có thể cùng với thần học gia J.Ratzinger nhìn nhận Đức Giêsu là “con người kiểu mẫu, con người của tương lai, qua Ngài ta thấy được khả năng hoàn thiện bản thân ta trong tương lai”…Không chỉ tiến lên giống Ngài về các khả năng bên ngoài mà thôi, nhưng khung hình nội tâm của Ngài, và cuối cùng là sự hy sinh trên Thập giá của Ngài mới là khuôn thước kiểu mẫu cho nhân loại tương lai.
Đây quả là một Tin Mừng cho con người, vì nó cho con người biết ý nghĩa cuộc sống hệ tại ở điều gì, tương quan với tha nhân đặt trên nền tảng gì, và thế nào mới là một tình yêu đích thực. Hơn nữa, như Công đồng Vatican II nhận định:“ mầu nhiệm về con người chỉ thực sự được sáng tỏ trong mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập thể. Bởi vì Adam-con người đầu tiên, đã là hình bóng của Adam sẽ đến.”[24] “Thiên Chúa xuất hiện vì con người xuyên qua những con người. Hay nói cách cụ thể hơn: chính qua Con Người đó mà ý nghĩa sâu xa nhất của phận người được tỏ lộ, và con người đó-ngay trong phận người-cũng đồng thời là Thiên Chúa.”[25]
4. Phục sinh- biến cố nền tảng, điểm khởi phát
Con người ta luôn nói đến, luôn cầu mong cho mình được “sống lâu trăm tuổi bạc đầu râu”, thế nhưng đó không phải thực sự là điều mà một người tỉnh trí mong đợi. Kéo dài mà làm gì với một cuộc đời đầy nước mắt, đầy bất công, đầy phi lý này! Nếu cái chết cứ phải đến thì tốt hơn là “sống từng ấy đủ rồi”, nhưng chỉ mong làm sao cho nó dễ chịu hơn mà thôi. Thật ra, trong sâu thẳm con người, nó mong ước được bất tử, được “thành tiên, thành Phật, thành thần”, chứ không phải là sống lâu, sống dai, sống mãi ở cõi đời này, để cuối cùng nhận ra mình…sống dại! Không, nó muốn có một đời sống “khác”, dù nó không thể mường tượng ra cuộc sống đó như thế nào, hoặc có tưởng tượng thì lại theo chiều hướng vật chất, nhưng dù sao cũng “khác” với cuộc sống dương thế này.
Tuy nhiên, có một điều lạ lùng là ít ai nghĩ đến, hay mong muốn mình được sống lại. Bởi vì, nếu sống lại (chứ không phải hoá kiếp, đầu thai) thì không biết thân xác mình sẽ như thế nào đây, một thân xác ốm yếu, già khọm như trước lúc chết ư? Hay một thân xác bị khuyết một phần cơ thể như trước? Hay là sẽ nhận một thân thể khác? (Và điều này thì lại quá phức tạp đối với các triết gia !!) Vả lại sống một đời người đã quá đủ khổ đau rồi, giờ lại sống tiếp “một đời”, hay “nhiều đời” nữa thì chịu sao nổi! Thế mà hạn từ “sống lại”, “phục sinh” là hạn từ đặc thù của Đức tin Kitô giáo. Nói đến Kitô giáo là nói đến một tôn giáo Phục sinh, nói đến Đức Giêsu Kitô là nói đến Đấng Phục sinh (dĩ nhiên không có ý bao hàm hết, nhưng ở đây muốn nhắm đến nét đặc thù mà thôi).
Ở phần trên chúng ta đã nhận ra những nét đặc thù nơi con người, nơi cuộc sống, nơi cuộc khổ nạn và cái chết của Đức Giêsu. Giờ đây, chúng ta lại nhận thấy một nét đặc thù mới nơi Ngài: sống lại – Phục sinh.
Đức Giêsu đã sống lại, nghĩa là trong lịch sử nhân loại đã có một người từ cõi chết sống lại, và Ngài “không còn phải chết nữa, sự chết không còn quyền lực trên Ngài”. Thân xác Phục sinh của Ngài không phải là thân xác khác, nhưng là thân xác mới. Sự Phục sinh của Ngài là điều “hoàn toàn mới mẻ” không chỉ với lịch sử nhân loại, với lý trí con người, nhưng còn với chính bản tính, vận mệnh của con người. Con người là bụi tro, rồi phải trở về tro bụi; nhưng Adam mới, là con cháu của Adam cũ- được dựng nên từ đất (adamah), đã không trở về đất nữa rồi! Ngài đã “lên trời”, ở một “thế giới khác” với vũ trụ này. Đây chính là điều mà con người hằng khao khát, trước hết là “thấy”, “sờ chạm” được, sau đó sẽ là niềm hy vọng “có”, “là” mình![26] Và nó quá sung sướng để thốt lên: “Mừng vui lên, hỡi chư thần chư thánh- cấp thừa hành của Chúa cõi thiên cung. Trổi vang lên kèn loan ơn cứu độ mà kính chào Đức Vua oai hùng chiến thắng. Mừng vui lên,khắp mọi miền dương thế, bốn bề đang rực rỡ ánh hào quang. Vua vĩnh cửu nay rạng ngời chiếu sáng đẩy lùi xa bóng tối khỏi trần gian”. Từ nay “Trời cùng đất kết giao,…Chúa với người gặp gỡ”, và với những kẻ tin vào Ngài “trên khắp mặt địa cầu, được tách khỏi thói đời sa đoạ và thoát khỏi bóng tối bủa vây, được trả về tình trạng ân nghĩa, và thông hiệp cùng nguồn chí thánh”. Biến cố này “khử trừ muôn tội vạ,..thanh tẩy hết lỗi lầm, biến tội nhân thành con người công chính, đem vui mừng cho hồn nặng sầu thương.” [27]
Sự Phục sinh của Đức Giêsu nói lên rằng, Ngài đã được tôn vinh, không phải bởi những lời ca tụng tán dương, không phải bởi đền đài lăng mộ của người đời, nhưng bởi chính Thiên Chúa: “Thiên Chúa đã tôn vinh Ngài, và tặng ban cho Ngài một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu”. Và do vậy, sự phục sinh dành cho con người phải là một hồng ân đến từ Thiên Chúa qua Đức Giêsu- Trưởng tử của những kẻ chết sống lại, chứ không phải nhờ những “linh đan”, “thần dược” kiểu Tần Thuỷ Hoàng tìm kiếm.
Sự Phục sinh là việc Đức Giêsu đi vào một trật tự mới, sáng tạo mới: một trật tự không thuộc các định chế, cơ cấu của vật chất, của không gian và thời gian [28]; một sáng tạo không còn được hiểu theo nghĩa làm ra thế giới vật chất hư hốt nữa. Điều rất đặc thù này giờ đây lại là sự đáp ứng khát vọng vươn lên, vươn xa, thoát khỏi sự “cầm buộc” của thế giới vật chất nơi con người. Và con người có quyền hy vọng, vì chính Đấng phục sinh đã đảm bảo rằng Ngài “lên để dọn chỗ trước” cho nó. Như thế, không gì khác hơn là Ngài dẫn đưa con người đến một trạng thái hoàn toàn bất ngờ và vượt quá tầm với của nó: Ngài cho họ quyền trở nên con cái Thiên Chúa.
Với các môn đệ xưa, biến cố Phục sinh của Đức Giêsu Kitô đã làm cho các ông tin nhận rằng Đức Giêsu là Chúa, và từ đó có thể hiểu được những “ẩn dấu” nơi cuộc đời dương thế của Ngài. Nghĩa là, từ một biến cố đặc thù, độc nhất vô nhị trong lịch sử nhân loại, vượt quá mọi khả năng tưởng tượng của con người, các môn đệ đã nhận ra tính siêu việt, thần linh nơi Đức Giêsu. Và không chỉ dừng lại ở đó, các ông nhận ra rằng biến cố đặc thù đó đã mở ra một niềm hy vọng lớn lao cho các ông, cho mọi người, nó viết nên một chương mới trong lịch sử nhân loại: Sự Phục sinh của Đức Giêsu phải là biến cố làm cho con người vui sướng vì hiểu được thế nào là tình yêu, là sức mạnh của tình yêu, thế nào là sự tự do, đồng thời nó mở đường cho con người tiến bước vào cuộc sống mới.
III. Tính phổ quát nơi Đức Giêsu Kitô
Những gì thuộc về căn tính, những gì “có” nơi con người, ta đều có thể bắt gặp chúng nơi Đức Giêsu, vì Ngài là Con Người. Điều mà chúng ta quan tâm ở đây, là những gì nơi Người tại sao lại có thể “đụng chạm”, “đi đến”, “đi vào” cuộc sống, con người tôi được. Nói cách khác, tại sao Ngài lại trở nên phổ quát?
Những luận chứng để nói lên tính phổ quát nơi Đức Giêsu Kitô thì khá nhiều, nhưng vì điều kiện chủ quan cũng như khách quan, ta không thể trình bày được tất cả, không đi sâu vào những lập luận nặng tính hàn lâm, mà chỉ trình bày vài luận chứng căn bản và có tính hiện sinh. Nghĩa là, chúng ta sẽ nhấn mạnh đến tính phổ quát- hiện sinh nơi Đức Giêsu. Các lập luận của chúng ta sẽ dựa trên nền tảng ba điểm cốt yếu sau, dù có được viện dẫn hay không: Đức Giêsu Kitô là Logos- Ngôi Lời hằng hữu của Thiên Chúa; sứ mạng phối hợp giữa Đức Giêsu Kitô và Chúa Thánh Thần; công trình của Ba Ngôi Thiên Chúa.
Nhưng trước hết ta hãy nghe Huấn quyền và vài thần học gia nổi tiếng nói về tính phổ quát nơi Đức Giêsu Kitô:
Biến cố Đức Giêsu Kitô là một biến cố siêu việt, một biến cố làm nên lịch sử .Tuyên ngôn Dominus Jesus khẳng định: “Ta phải nói rằng Đức Giêsu Kitô mặc lấy một ý nghĩa và một giá trị cho nhân loại, độc nhất và riêng biệt, xứng hợp với một mình Người, độc chiếm, phổ biến và tuyệt đối. Thật sự Đức Giêsu là Ngôi Lời Thiên Chúa đã làm người vì phần rỗi mọi người”[29]. Ngài là “cùng đích của lịch sử nhân loại, là điểm qui tụ mọi ước vọng của lịch sử văn minh, là trung tâm của nhân loại, là niềm vui của tâm hồn và đáp ứng mọi niềm khao khát”[30]. Và chính tính cách độc nhất vô nhị này nơi Đức Kitô đã làm cho Người có một “tầm quan trọng tuyệt đối và phổ quát, nhờ đó, dù thuộc về lịch sử, Ngài vẫn là tâm điểm và mục đích của lịch sử.”[31] Hay nói như Maurice Zundel, Ngài định vị cho mình nơi ngọn nguồn và trung tâm vũ trụ.
Không dừng lại ở đó, sự kiện “Chúa Con nhập thể có nghĩa là nhân tính và- qua nhân tính ấy- tất cả những gì, một cách nào đó, là ‘xác phàm’-tức là toàn thể nhân loại, toàn bộ thế giới hữu hình và vật chất- đều được nâng lên đến mức hiệp nhất với Thiên Chúa. Như thế, Nhập thể cũng mang một ý nghĩa, một chiều kích vũ trụ. Khi nhập vào nhân tính cá thể của Đức Kitô, Đấng ‘trưởng tử sinh ra trước mọi loài thụ tạo’, đã một cách nào đó kết hợp với toàn thể loài người là ‘xác phàm’, và qua đó, với mọi ‘xác phàm’, với hết mọi tạo vật.”[32] Nơi Đức Giêsu, Ngôi Lời, tức Đấng thần hoá đến tận mỗi người trong quá khứ, hiện tại và tương lai, vì lẽ vĩnh cửu và vô biên, Ngôi Lời không bị giới hạn bởi không gian và thời gian; và đã xảy ra được như thế là vì nơi cá nhân Đức Giêsu, bản chất liên đới của nhân tính đã được thiên tính cụ thể hoá và đón nhận.[33]
Giờ đây, ta sẽ đi tìm hiểu tính phổ quát- hiện sinh nơi mầu nhiệm Đức Giêsu Kitô.
1. Tình yêu nhưng không và vô biên
Trong sâu thẳm con tim mỗi người, có một ánh lửa huyền bí đang cháy sáng, dù họ có nhận ra được nó hay không. Ánh lửa huyền bí này làm bừng sáng lên “vùng trời” của sự cao thượng, sự sáng tạo, sự hy sinh,…; nó như ánh đuốc soi chiếu cho con người thấy rõ đường đi trong đêm tối cuộc đời; nó như ánh nắng ban mai làm rực rỡ, lung linh sắc màu những cánh hoa đang phủ đầy sương đêm lạnh giá. Ánh lửa huyền bí ấy là gì thế nhỉ?
Xin thưa, đó chính là Tình Yêu!
Không phải ngẫu nhiên mà Tình yêu trở nên chủ đề chính của các tác phẩm văn học, triết học, thi ca, kịch nghệ, hội hoạ, kiến trúc,… Cũng không phải ngẫu nhiên mà người ta ca tụng tình yêu, dù là tình yêu trai gái, tình yêu vợ chồng, tình phụ tử, tình mẫu tử, tình bằng hữu,…Tình yêu là tiếng nói chung cho nhân loại. Tình yêu là ngôn ngữ chính thức, phổ thông, dễ nắm bắt của tâm hồn con người. Nó không phải như Anh ngữ hay Pháp ngữ, chỉ một phần nhân loại sử dụng được, phần còn lại thuộc hệ “câm điếc”, mà nó là Ái ngữ-một “ngôn ngữ” đã được “cài đặt” ngay trong tâm hồn mỗi người. Tình yêu là mối dây ràng buộc, liên kết mọi người, mọi thành phần lại với nhau. Tình yêu làm biến đổi con người, làm cho người ta trở nên cao thượng. Và nói như Chân phước Gioan Phaolô II, “con người không thể sống mà không có tình yêu.”[34]
Nếu không có tình yêu, con người sẽ trở nên khó hiểu đối với chính mình. Nó sẽ trở thành “kẻ xa lạ”[35] không những đối với tha nhân, mà ngay cả đối với chính mình nữa !
Nếu ai đó hiểu được tình yêu là gì, thì họ cũng nhận ra sức mạnh của nó. Sức mạnh này phá tung mọi định kiến, mọi rào cản về ngôn ngữ, sắc tộc, màu da, văn hoá, quan điểm chính trị. Nó có khả năng hàn gắn mọi đổ vỡ, chữa lành mọi vết thương; nó xoá đi cái dị biệt, đường ranh giới của mọi thứ do con người dựng nên. Nó như là đôi cánh nâng con người lên khỏi cái tầm thường, ti tiện; nó làm phong phú, sinh động cuộc đời nhàm chán và đơn điệu này.
Khi Thiên Chúa làm “cho mưa rơi xuống trên người lành cũng như kẻ dữ, chiếu sáng người công chính cũng như kẻ bất lương ”, thì con người hiểu ra rằng họ không thể qui định cho Tình yêu Thiên Chúa được, họ không thể đặt ra giới hạn, phạm vi “hoạt động” cho tình yêu Ngài được. Tình yêu Ngài không tuân theo bất cứ một sự “cài đặt” nào nơi sự lập luận, sự phán đoán của con người. Nó không phải là đối tượng cho lý trí con người “mổ xẻ”, nó cũng không là miền đất cho trí tưởng tượng của con người. Tình yêu Thiên Chúa thì hiện thực, vô biên, huyền diệu, và do đó nó mới có khả năng “đi đến” với mọi người, với tất cả mọi người, không loại trừ ai. Điều này được thể hiện một cách tuyệt vời, và rõ nét nơi các biến cố trong cuộc đời của Đức Giêsu, từ hang đá Belem tới vườn Cây Dầu, từ đỉnh đồi Calve cho tới Phục sinh huy hoàng.
“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban chính Con Một Người” cho thế gian. Người Con là quà tặng mà Thiên Chúa gửi cho con người, một ân huệ từ trên cao, một ân huệ nhưng không mà con người chỉ biết vui mừng đón nhận, chứ không phải là một đòi hỏi nhân danh bất cứ điều gì, bất cứ ai. Người Con Một đó, là Đức Giêsu Kitô, đã thể hiện tình yêu mà Thiên Chúa dành tặng cho con người thật tuyệt hảo. Ngài đã yêu họ, dù họ tội lỗi, dù họ bất xứng, dù họ phản bội,…, và đã “yêu họ đến cùng”. Tình yêu mà Ngài dành cho con người trong cuộc đời Ngài chính là tình yêu Thiên Chúa được “hiện thực hoá”, “cụ thể hoá”, “xác thể hoá” cho con người, để con người có thể “sờ được”, “chạm được” tình yêu Ngài.
Vì tình yêu Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô dành cho con người là nhưng không, nên tình yêu đó không chịu bất cứ một “áp lực” nào, một sự “chi phối” nào, một “chế tài” nào. Nó đi đến với con người một cách tự do, thong dong, và nếu nhìn theo chiều hướng này ta sẽ nhận thấy Tình yêu Thiên Chúa có một “vẻ mặt” vui tươi, hấp dẫn và lôi cuốn. Đặc tính nhưng không của tình yêu Thiên Chúa làm cho ta nhớ lại sự sáng tạo vũ trụ thủa ban đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất từ hư không: không có một sự đòi hỏi hay một lý do nào khiến Ngài phải làm vậy, nhưng Ngài đã làm vì Ngài là Tình yêu, một tình yêu nhưng không. Và với đặc tính nhưng không của Tình yêu này, Đức Giêsu mới có thể “đi đến” được với tất thảy mọi người. Ngài không chọn lựa đối tượng mà tình yêu Ngài hướng đến, Ngài không đòi buộc họ phải “có cái này cái nọ”, phải làm được “điều này điều kia” thì Ngài mới “ghé mắt đoái nhìn” họ. Không ! Ngài đến với tất cả mọi người mà không cần biết họ xuất thân từ đâu, thuộc dân tộc nào, tốt lành hay xấu xa,…Và có như vậy mới “đến phần” ta chứ !
Tình yêu thì có sức mạnh sáng tạo, tình yêu càng lớn thì sức mạnh này càng tăng. Thiên Chúa là Tình yêu, tình yêu Ngài vô biên, và do vậy sức mạnh sáng tạo của Ngài là “không biên giới”. Đức Giêsu là Khuôn Mặt đích thực của Thiên Chúa, Ngài là Thiên Chúa. Tình yêu Ngài trào dâng, tràn trề, tuôn chảy tới mọi người, thấm đẫm con tim mọi người. Vì là vô biên, vì là nhưng không, nên Tình yêu Ngài không thể bị “bó rọ” trong vùng đất bé nhỏ Palestine được, nó không bị “đóng đinh” vào chỉ thời đại Pontius Pilatus được, mà nó chảy tràn ra khắp cả vũ trụ, “dìm ngập” cả không gian lẫn thời gian, và như thế là đang còn quá ít!!
Ai có thể hiểu được một phần nào đó ý nghĩa, lý do, mục đích các biến cố trong cuộc đời Đức Giêsu mà không đặt nó trong “dung môi” tình yêu? Ai có thể nói được Thập giá thực sự là gì, nếu không phải là biểu lộ của Tình yêu vô biên? Và ai có thể “định nghĩa” khác với thánh Gioan về Thiên Chúa, một Thiên Chúa của Đức Giêsu, làm một với Đức Giêsu, là chính Đức Giêsu Kitô: Thiên Chúa là Tình Yêu?
2. Sự sống thần linh
Dù cho các nhà sinh vật học, xã hội học, triết học có định nghĩa con người là con vật có gì gì đi chăng nữa, thì không ai muốn nhận mình là con vật, không phải vì sự nhục nhã hay thấp kém gì, nhưng bởi họ thấy và tin rằng: “Nhân linh ư vạn vật”. Quả đúng như vậy, nếu con người chỉ là một đống vật chất mà thôi, thì không hiểu tại sao lại có ngôn ngữ, lại có thi ca, nhạc hoạ, kiến trúc…? Nếu nó xem mình cũng đồng hàng với gà, vịt, cây cối,..thì tại sao nó lại có những lúc trầm tư mặc tưởng về lẽ sinh tử, tại sao nó lại phải khóc lóc vì li biệt, tại sao nó khát vọng hướng lên trời cao? Là loài thụ sinh thế mà nó nói rằng mình có tự do, và không ngừng đòi hỏi cho được luôn phải tự do, nghĩa là thế nào? Liệu có ai trong nhân loại này tự cho mình chỉ là một con vật và tuyên bố mạnh mẽ rằng mình đang sống kiếp con vật không?
Đây là những “mâu thuẫn” có mặt trong con người, là một “vực thẳm” mà thuyết tiến hoá của Darwin không thể nào vượt qua![36]
Nhưng nếu nó không hoàn toàn là vật chất, thì có nghĩa rằng có yếu tố “thần linh” trong chính nó. Vì thế, dù cho nó không “thấy”, không “nhận ra”, hoặc “không chấp nhận” thì không có nghĩa yếu tố thần linh không có trong nó, hay “rời khỏi” nó, hoặc bị nó “trục xuất” ra khỏi hữu thể mình được. Và một điều lạ lùng, là với bất kì ai- dù kẻ vô thần hay người có tôn giáo, kẻ theo thuyết tiến hoá hoặc không, đều nhìn nhận một cách công khai hay chấp thuận trong im lặng, hoặc “buộc phải” phản đối để tỏ ra mình là kẻ “giữ vững lập trường”: chính yếu tố “thần linh” mới làm cho con người sống và thực sự là người[37], hay nói cách khác- sâu xa và tuyệt vời hơn, nhưng cũng khó “chấp nhận” hơn: Thiên Chúa đã đến “gặp gỡ”, “chung sống” với con người ngay trong chính con người![38] Điều này chắc chắn sẽ nhắc lại cho ta một biến cố vĩ đại: Con Thiên Chúa làm người.
Nếu xét trên bình diện lịch sử thì “đến thời viên mãn” Đức Giêsu, Đấng Emmanuel- Đấng Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta, mới được Thiên Chúa ban cho nhân loại, nhưng nhìn theo hướng suy tư trên, ta có thể nói rằng Thiên Chúa luôn ở cùng con người, Ngài là sự sống cho con người và của con người. Điều này nói lên rằng, sự hiện diện của Ngôi Lời đã trở thành nhục thể sinh sống tại xứ sở Palestine, không có nghĩa Thiên Chúa chỉ ở cùng con người vẻn vẹn có ba mươi ba năm ngắn ngủi, trước đó và sau đó Ngài không ở cùng con người nữa! Không, Đức Giêsu thành Nazareth, Đấng là Bí tích của Thiên Chúa, đã hằng ở cùng với con người, hằng ở trong con người từ lúc khởi đầu cho đến mãi tới muôn đời. Điều đã được tạo thành nơi Người là sự sống, và Ngài là Đấng thông truyền và duy trì sự sống đó. Ngài chính là “sự sống và là sự sống lại” cho con người, Ngài hằng ở cùng con người mọi ngày cho đến tận thế.
Không dừng lại ở đó, là Ngôi Lời muôn thủa, Đức Giêsu chiếm hữu sự sống từ đời đời, Người ban một thứ nước hằng sống, nước đó trở thành “nguồn suối phát sinh đời sống vĩnh cửu” cho những ai tin nhận Người. Vì tình yêu Chúa Cha và các kẻ thuộc về mình, Người ban sự sống mình một cách tự do như mục tử hiền lành ban cho chiên mình. Đời sống những kẻ đó đã được “giấu ẩn” cùng với Đức Giêsu trong Thiên Chúa, Thiên Chúa hằng sống mà họ là đền thờ của Ngài. Tức họ được tham dự vào đời sống Thiên Chúa, sự sống mà trước kia họ còn xa lạ, và như thế là họ tham dự vào bản tính của Ngài.
3. Ánh sáng thế gian
Nếu tôi muốn biết đêm đen thực sự là gì, tôi sẽ hỏi những người mù loà! Thế nhưng, ai sẽ chỉ cho tôi thấy ánh sáng hướng dẫn đời tôi? Chẳng phải là chúng ta, trong nhiều tình huống của cuộc đời và cho toàn bộ cuộc đời, chúng ta đã không kêu lên: “hãy cho tôi ánh sáng” sao? Chẳng phải là con người thực sự đang bước trong “lũng âm u”, phải đối mặt thường trực với các cơn“nguy khốn” do vô tri, do độc ác, do thân phận mỏng dòn, mau qua của nó hay sao? Nó cần một ánh sáng chiếu soi cho con đường đi của nó!
Ánh sáng này đã được thắp lên trong mỗi con người, đó chính là lương tâm, là cảm thức tôn giáo, là sự hướng thiện. Tuy nhiên, ánh sáng này thường bị yếu đi, bị che phủ bởi rất nhiều nguyên nhân, đặc biệt là bởi bản tính nhân loại đã bị thương tổn do tội lỗi, đến nỗi nó chỉ như ánh sáng của ngọn đèn đã cạn dầu, cộng thêm cái chụp đèn ám đen khói! Rốt cuộc, nó chẳng soi sáng được “đường đi nước bước” cho con người, và hậu quả là con người vì phải dò dẫm bước đi trong cảnh “tranh tối, tranh sáng” như vậy, hoặc rơi xuống vực thẳm lầm lạc hoặc lạc xa đường ngay nẻo chính. Trong Tin mừng của thánh Gioan kể lại câu chuyện Đức Giêsu chữa sáng mắt cho một anh mù từ khi mới sinh, đây là một trình thuật có ý nghĩa và giá trị biểu trưng rất lớn: con người chẳng khác gì anh mù từ thủa mới sinh, nó không “thấy” được gì cả, nhưng nó “biết” có ánh sáng và nó cần ánh sáng ! Nó chỉ được “sáng mắt”, được “chữa lành” khi Đức Giêsu- Đấng là Ánh sáng thế gian đến gặp gỡ nó.
“Ánh sáng êm dịu, làm vui thú đôi mắt nhìn trời”[39]- mọi người đều có kinh nghiệm này, do đó nảy sinh sự liên tưởng chặt chẽ giữ ánh sáng và sự sống: sinh ra- được sống, tức là “thấy ánh sáng”; kẻ mù- phải chết, không thấy được “ánh sáng”,“hết nhìn thấy con người đang sống nơi dương gian”. Cao hơn nữa, nó cũng phải nhận rằng: ánh sáng và sự sống thần linh chỉ đến từ Thiên Chúa, vì Thiên Chúa quả là nguồn sống, nhờ ánh sáng của Ngài con người mới nhìn thấy ánh sáng[40].Và do vậy, dù bước trong lũng âm u, con người không sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng nó. Ngài là vị Thiên Chúa.. đầy lòng trắc ẩn, cho Vầng Đông tự chốn cao vời viếng thăm con người, soi sáng những ai ngồi nơi tăm tối và trong bóng tử thần, dẫn con người bước vào đường nẻo bình an.[41] Vầng Đông ấy chính là Đức Giêsu: “Điều đã được tạo thành nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại. Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng”. Đức Giêsu chính là “Ánh sáng đã đến thế gian” để ai theo Người sẽ “không đi trong tối tăm, nhưng sẽ có ánh sáng sự sống”. Tác động soi sáng tâm linh của Người phát xuất từ chính bản tính của Người, Người chính Ngôi Lời của Thiên Chúa,“là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người”.[42]
Con người luôn cần đến Ngài, luôn khao khát Ngài “ở cùng họ”, vì họ cần, họ khao khát Ánh Sáng đích thực chiếu soi cuộc đời họ. Đức Giêsu- Ánh sáng thần linh vĩnh cửu đã, đang và luôn soi sáng cho nhân loại trên mọi nẻo đường, cho hết mọi người ở hết mọi thời đại.
4. Sự tự do tuyệt đối
Nhà thần học M.Zundel cho rằng: Tự do có nghĩa là thong dong với chính mình, không còn bị giam giữ trong tính tự mê, không còn nô lệ đối với những sở hữu, trở thành một khoảng trống vô biên nơi mà cả vũ trụ có thể được đón tiếp. Tự do có nghĩa là tự xây dựng, trở nên người, tống khứ khỏi con người mình mọi bóng tối, mọi giới hạn, những lựa chọn đầy đam mê, và cuối cùng là tất cả những gì ngăn cản chúng ta trở thành nguồn mạch và nguồn gốc của bản thân.[43] Tự do là dấu chỉ đích thực nói lên rằng con người là hình ảnh của Thiên Chúa. Nếu với con người là loài thụ tạo, được thông phần vào sự sống của Thiên Chúa-Đấng Tự hữu, mà sự tự do của nó có những đặc tính như vậy, thì ta phải nói như thế nào đây về sự tự do nơi Đức Giêsu?
Có một điều lạ lùng, xem ra rất “mâu thuẫn”: con người là thụ tạo, lại có trong mình sự tự do; con người thì hữu hạn, nhưng lại tuyên bố quyết liệt rằng, tự do có giá trị vô biên. Điều này được bộc lộ rất rõ ràng trong đời sống cá nhân cũng như trong đời sống xã hội.[44] Nhiều người sẵn sàng chết còn hơn là phải sống cảnh giam cầm, mất quyền tự do; nhiều dân tộc sẵn sàng trả một giá rất đắt để không phải sống kiếp nô lệ, phụ thuộc vào các dân tộc khác. Thế nhưng đó mới chỉ là sự đòi hỏi của một thứ tự do có tính cách “bên ngoài”, chứ chưa phải là một sự tự do đích thực và toàn diện. Tự do là vô nghĩa nếu nó không phải là sự giải thoát, không chỉ phá tung các “xiềng xích” bằng sắt, bằng nhà giam, bằng các định kiến, cơ chế, cấu trúc xã hội, mà còn là phá tung các “xiềng xích” bên trong chính con người, nơi mà “quyền lực âm phủ” đang thao túng, cai trị nó, nơi mà định mệnh nghiệt ngã dành cho thân phận bụi đất của nó: đó là một đòi hỏi toàn diện, vô biên và mang tính sáng tạo. Thế nhưng, “ai sẽ cứu tôi khỏi thân xác phải chết này”? Một người nô lệ ư? Một người cũng bị giới hạn như tôi ư? Một người “tương đối” trong mọi thứ như tôi ư ?…Không thể được!
Đức Giêsu là Thiên Chúa, nơi Ngài có một sự Tự do tuyệt đối. Điều đó có nghĩa là nơi Ngài không có sự “ràng buộc”, “níu kéo”, “chi phối”, “áp lực” của bất cứ ai, của bất cứ điều gì. Trong Tin mừng nhiều lần Ngài tuyên bố: “Ta tự ý”, “Ta có quyền”, “Ta muốn”,… Sự Tự do tuyệt đối này làm ta liên tưởng đến gió- một biểu tượng của Thần Khí Người, “gió muốn thổi đâu thì thổi”, nó cũng làm cho liên tưởng đến hành động sáng tạo của Thiên Chúa, đến Danh Thánh Thiên Chúa. Không có một “cái khung” nào áp được vào Ngài, không có một “ngăn trở” nào có thể cản bước Ngài. Nếu Ngài là “mạch nước trường sinh”, thì cái gì sẽ là “bức tường” để ngăn chặn không cho nước ấy chảy đến với mọi người? Nếu Ngài là “Bánh Hằng Sống”, thì ai sẽ là người ra tay “ngăn cản” không cho Ngài “phân phát” Bánh ấy cho nhân loại? Nếu Lời Ngài là “Lời Sự sống”, “lời đem lại sự sống, sự sáng” cho con người, thì cái gì sẽ “giữ lại”, sẽ “buộc kín” hay làm “biến mất” Lời ấy?
Đức Giêsu chính là Tin mừng của Tự do tuyệt đối mà chỉ có thể thực hiện được qua sự giải thoát toàn diện.
5. Sự nghèo khó tột cùng
Sống trong sung túc con người dễ có ảo tưởng về sự thiếu thốn thiêng liêng của mình. Nhiều lúc nó đặt một tỉ lệ thuận giữa sự sung túc vật chất và sự giàu có tinh thần. Và vì thế, nó chỉ biết qui hướng về mình, thu gom cho mình, làm cho mình càng ngày càng “giàu” thêm. Nó nghĩ rằng, nếu mình càng được trang bị đầy đủ bao nhiêu, mình càng mạnh thêm bấy nhiêu. Nó cũng thường tạo cho mình những nhu cầu giả tạo, một nhu cầu nhằm để che đậy những thiếu thốn thực sự của nó. Nhưng cuối cùng thì con người cũng nhận thức được rằng, nó không thể cậy dựa vào của cải, quyền lực, tài năng,.. bởi chúng chỉ là phù vân mà thôi; nó cũng không thể đến “vay mượn”, đến “rút” sức mạnh, sự phong nhiêu nơi vũ trụ hay nơi anh em mình được. Mọi thứ trở nên xa lạ và “thù địch” với nó, chứ không phải là những đại ân nhân như nó từng nghĩ. Và một cách chua chát, nó tự nhận thấy mình chỉ là một ông vua khốn khổ, cô độc, yếu đuối mà thôi.
Thực chất con người là kẻ nghèo khó đúng nghĩa!
Sự nghèo khó của con người không phải là một “định mệnh” buộc con người phải sống kiếp bần tiện, đê hèn. Ngược lại, nếu đạt được đến một trình độ trưởng thành tâm linh nào đó, ta sẽ nhận ra điều này : sự nghèo khó của con người “hé mở” một chân trời tự do. Con người chỉ thực sự bước vào “vùng trời” tự do khi chân nhận rằng, mình “chẳng có gì” cũng “không là gì” cả ! Cái nghèo ở đây đồng nghĩa với việc từ khước ảo tưởng cho rằng mình “có rất nhiều”, mình làm được những việc “kinh thiên động địa”. Nó cũng không có nghĩa là bần cùng, khốn cùng. Nó là thái độ chấp nhận cách tự do và vui tươi một sự “thiếu thốn” nào đó. Trong cái nghĩa này, sự nghèo khó sẽ làm cho tâm hồn ta thư thái hơn, nhẹ nhàng hơn, “sáng” hơn: cái nghèo đây đi liền với sự tự do nội tâm. Thế thì nghèo hoá hay!!
Trong Bài giảng trên núi, Ngài tuyên bố: “Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó”[45]. Nó có thể được “diễn” là: phúc cho ai biết thân phận thực sự của mình là gì và, phúc cho ai biết được thế giới vật chất và những gì “dính líu” với nó thực chất là gì! Tinh thần khó nghèo đặt con người trong thái độ khiêm tốn trước mặt Thiên Chúa, vì chưng người nghèo không có gì để vênh váo, họ chỉ có hai bàn tay trắng, chỉ biết trông chờ mọi sự nơi Thiên Chúa.Và cuộc đời dương thế của Đức Giêsu là một minh chứng sống động cho mối phúc này.
Đức Giêsu đã thực sự trở nên nghèo như thân phận con người, bằng cách “làm rỗng” chính mình, bằng cách “cho” hết không giữ lại cái gì cho mình: Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế.[46] Bởi nếu Ngài cứ ở mãi trong cảnh “giàu sang”, “vinh quang” vô cùng thì làm sao Ngài có thể “bước xuống” cõi hồng trần được, và con người đâu dám “mon men” tiến lại gần Ngài? Ngài đã chung chia thân phận con người, để Ngài có thể thực sự đi đến được với mọi người, và mọi người có thể đến được với Ngài: con người nghèo khó, và Ngài nghèo khó tột cùng.
Người ta thường nói đến các phẩm tính của Thiên Chúa, như toàn năng vô cùng, thông minh vô cùng, sáng láng vô cùng,.., thế nhưng người ta lại “quên” tự hào về sự nghèo khó tột cùng của Thiên Chúa! Và sự nghèo khổ tột cùng của Thiên Chúa lại được “biểu dương” nơi chính Đức Giêsu Kitô, “Đấng vốn giàu sang, mà vì anh em, Người đã trở nên nghèo khó, ngõ hầu anh em được nên giàu có nhờ sự nghèo khó của Người”.[47] Đức Giêsu đã hoàn toàn “trút bỏ”, “tự hạ” chính mình. Nơi Người nhân tính đã bị “lấp đầy” bởi một sự “rỗng không”, một sự “nghèo khó” tuyệt đối,[48]đến nỗi Ngài “không còn hình dạng người ta nữa”. Nói cách khác, cái “khung hình” nhân tính đã bị “lột sạch, cả áo trong lẫn áo ngoài”! Con người Ngài đã trở nên “sạch bong”, không còn gì vướng víu; Ngài đã trở nên “trần truồng”, vì đã cho hết, và cho tất thảy mọi người ![49] Nhờ sự nghèo khó của Ngài mà tất cả mọi người được trở nên giàu có! Giàu có ở đây, có nghĩa là mọi người được thông phần vào sự sống Thiên Chúa được trao ban qua sự “trút bỏ” đến cùng kiệt của Đức Giêsu.
Rất tiếc trong khuôn khổ bài viết này, chúng ta không có cơ hội để đào sâu thêm mối liên hệ hữu cơ giữa các phẩm tính trên nơi Đức Giêsu. Quả thực đó là mối liên hệ “máu thịt”, thống nhất trong một Ngôi vị duy nhất là Ngôi Lời của Thiên Chúa. Chúng ta không thể hiểu được Tình yêu nơi Đức Giêsu mà không chấp nhận sự Tự Do Tuyệt đối, sự Nghèo Khó Tột cùng của Người; cũng như không thể nói đến việc chúng ta được cứu độ bằng Tình yêu Thiên Chúa mà lại không nhìn nhận Sự Sống Thần linh, Ánh Sáng Vĩnh cửu nơi Đức Giêsu được. Hy vọng rằng, chúng ta sẽ có dịp suy tư về mối liên hệ tuyệt vời này.
Kết luận
Trong kho tàng minh triết của Đông phương có một câu chuyện rất ngắn, nhưng cực kì thâm thuý:“Có một chiếc bát cổ được bán đấu giá và đạt tới một số tiền kỷ lục, vì giá trị đặc biệt của nó. Nhưng người ta sẽ hẳn vô cùng ngạc nhiên nếu biết được rắng, chủ sở hữu trước kia của nó lại là một người hành khất, người này sinh ra nghèo, sống đời nghèo khó, và chết vì thiếu ăn! Hàng ngày anh ta dùng chiếc bát cổ đó đi cầu xin sự bố thí của mọi người, mà không biết chút gì về giá trị của nó”.
Anh chàng hành khất tội nghiệp đó chẳng phải là chúng ta sao? Chẳng phải là chúng ta đang than thở cho kiếp sống đau khổ, bần cùng của mình đó sao? Chúng ta cầm trong tay cả một gia tài đồ sộ, nhưng lại phải ngửa tay xin những đồng tiền lẻ, nhàu nát, phải chấp nhận ăn “cơm thừa, canh cặn” của thiên hạ! Chắc hẳn đời chúng ta sẽ sung sướng nếu chúng ta “biết nhìn” ra giá trị của “cái bát”. Gia tài mà chúng ta đang có là gì? Chúng có quá khó để chúng ta nhận ra hay không? Hay là chúng ta đã đành chấp nhận thân phận của một kẻ ăn mày kinh niên, một kẻ không nghĩ rằng mình được sinh ra dưới một vì sao trên trời nhưng là dưới một chiếc lá rụng? Liệu khi chúng ta đang “ăn xin” mà có kẻ bảo rằng: “Này anh bạn, sao anh lại đi làm chuyện ngớ ngẩn, điên khùng như vậy? Anh không biết anh đang giàu sang lắm sao?”, chúng ta sẽ tức giận vì người ta châm chọc mình, hay là “đứng ngây” ra vì không hiểu họ đang nói gì với mình, hoặc sẽ sửng sốt ngạc nhiên, rồi sau khi “dụi con mắt bên trái, nháy con mắt bên phải”, chúng ta sẽ hét lên sung sướng như Archimedes thủa nào?
Trở lại vấn đề của chúng ta, có một thực tế lạ lùng là không ít chuyên viên Thánh Kinh là những người “không biết” Đức Giêsu! Không ít triết gia suy tư về Thiên Chúa lại là những kẻ vô tín; nhiều nhà khoa học là những kẻ “đui mù” trước sự thật; cũng không thiếu những người có hiểu biết chuyên sâu về môn Nhân học lại không tôn trọng con người cho đủ! Điều đó muốn nhắc nhớ chúng ta rằng: “Tất cả mọi kiến thức về Kitô học đều trở nên vô ích, nếu nó không giúp ta hiểu biết, yêu mến Đức Giêsu Kitô hơn”[50]. Đúng vậy, có ích gì cho ta, nếu những kiến thức ấy chỉ thoả mãn những nhu cầu “làm đẹp” của lý trí? Có ích gì cho ta, nếu những kiến thức ấy không đưa ta đến “gặp” được Ngài, “trò chuyện” thân tình với Ngài, nhận ra Ngài luôn đồng hành với mình, thấy trong tim Ngài có hình ảnh của mình, và cuối cùng là tuyên xưng Ngài là Cứu Chúa của ta? Có ích gì, nếu chúng ta không nhận thấy sự sống phổ quát tuôn trào từ Đức Giêsu Kitô, không thấy Ngài làm nổ tung mọi ranh giới của chúng ta trong không gian tình yêu Ngài và mọi giá trị hão huyền của chúng ta trong sự cao cả của những từ bỏ nơi Ngài, không thấy Ngài là nguyên lý của sự tái sinh nơi mỗi con người, là nguyên lý của một sự tạo dựng mới, ở đó mọi người được qui tụ lại trong tình yêu?
Có lẽ chúng ta phải tự hỏi mình điều mà Maurice Zundel tra vấn: Chúng ta có ý thức rằng Đức Giêsu Kitô đem lại ở đây một đáp án duy nhất, sâu sắc và đầy đủ cho ưu tư chính của chúng ta ngày nay không?[51]
Giờ đây chúng ta hãy mượn lời của đại thi hào R.Tagore mà thân thưa cùng Đức Giêsu:“Nguồn sống của đời tôi, tôi sẽ luôn gìn giữ thân xác khiết tinh, vì hiểu đã được Người âu yếm vuốt ve. Tôi sẽ luôn luôn giữ gìn tư tưởng lánh xa mọi điều giả dối, vì hiểu chính Người là Chân lý đã nhóm trong tâm trí tôi nguồn sáng trí tri. Tôi sẽ luôn luôn xua đuổi khỏi tâm hồn mọi ác ý xấu xa, và vun trồng cho tình yêu trong mình bừng nở, vì hiểu Người đã ngự trị từ lâu trong sâu thẳm tim tôi. Và tôi sẽ đem hết sức mình phát hiện Người trong mọi việc làm, vì hiểu chính sức mạnh của Người đã cho tôi khả năng hành động”[52].
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Kinh Thánh trọn bộ Cựu ước và Tân ước, bản dịch của Nhóm PVCGK, Nxb Tp.HCM, 1998.
2. Blaise Pascal, Pensees, bản dịch tiếng Anh của W.F.Trotter .
3. Joseph Ratzinger, Đức tin Kitô giáo, hôm qua và hôm nay, bản dịch của Nguyễn Quốc Lâm & Phạm Hồng Lam, Nxb Tôn giáo, 2009.
4. Joseph Ratzinger, Thiên Chúa và trần thế, dịch giả Phạm Hồng Lam, Nxb Tôn giáo, 2011
5. Maurice Zundel, Một cái nhìn khác về con người, tập 2, không rõ dịch giả.
6. Tóm lược Học thuyết xã hội của Giáo hội Công giáo, bản dịch của HĐGMVN,
Nxb Tôn giáo, 2007.
7. Công đồng Vaticano II, H.c Gaudium et Spes, bản dịch của Học viện Piô X- Đà lạt
8. Felippe Gomez, Kitô học, t.2, Antôn & Đuốc sáng phát hành.
9. Gioan Phaolô II, Redemptoris missio, Dominum et vivificantem, Fides et Ratio.
10. Bộ Giáo lý Đức tin, Tuyên ngôn Dominus Jesus.
11. Anthony de Mello S.J, One minute wisdom, biên dịch Bonaventura Maria T.C.
12. Rabindranath Tagor, Thơ, bản dịch của nhiều tác giả, Nxb Văn học, 2004.
[1] Từ “hiện diện” trong Hán Việt không chuyển tải hết được những điều mà Giáo lý Kitô giáo muốn nói, mặt khác nó “hơi nặng” về tính vật lý nên nhiều lúc lại gây hiểu lầm cho người nghe! Giáo sư Nguyễn Khắc Dương cho rằng cần phải tìm một từ khác để thay thế, một từ vừa chuyển tải hết thực tại mà nó biểu tượng, mặt khác lại cần “loại bỏ” hay ít ra là “giảm nhẹ” cách hiểu vật lý về sự kiện.
[2] Trước khi ”bắt tay” tìm hiểu đề tài này, chúng ta hãy nghe B. Pascal nhắc nhớ: “Nếu chúng ta qui chuẩn mọi thứ tới lý luận, tôn giáo chúng ta sẽ không có tính huyền nhiệm và các yếu tố siêu nhiên. Nhưng nếu chúng ta vi phạm các nguyên tắc của lý luận, Kitô giáo sẽ trở nên lố bịch và buồn cười.” (Pensees ,273) Các trích đoạn từ tác phẩm này, sử dụng trong bài viết, được dịch từ ấn bản Anh ngữ.
[3] Con tim có những lý lẽ riêng của nó mà lý trí không thể nào hiểu được. ‘Sự thực’ ở đây được hiểu là cái đã, đang có, cái xảy ra, dù dưới bất cứ hình thức nào.
[4] Đỉnh cao của lý trí là khi nó biết giới hạn của nó.
[5] Pensees, 272
[6] Tác giả đạt giải Nobel văn chương 1998
[7] Ga 1,11
[8] J.Ratzinger, Thiên Chúa và trần thế
[9] Joseph Ratzinger, Ánh sáng thế gian
[10] Joseph Ratzinger, Muối cho đời
[11] Quan điểm của V.Lenin
[12] Tuyên ngôn về Tính duy nhất và phổ quát cứu độ của Chúa Giêsu Kitô và Giáo hội. Tuyên ngôn này đã nhận được sự ủng hộ và chuẩn thuận của Đức Gioan Phaolô II.
[13] Ở đây ta hãy nghe phát biểu của một linh mục người Việt, Cha Vương Đình Bích- Bề trên Dòng Anh em Đức Mẹ người nghèo: Tuyên ngôn của Toà thánh đã làm cho chúng ta “một lần nữa phải đối đầu với những vấn đề văn hoá của Đức tin chúng ta…Chúa Giêsu là người Đông phương…nhưng guồng máy giáo huấn của GHCG đặt tại Roma và nhân sự của bộ máy này hầu hết chỉ là người Tây phương”. Và theo Cha Bích, “nếu các tác giả văn kiện này sống vài tuần lễ tại vùng Á châu, nơi các tín hữu Công giáo chỉ là thiểu số, thì họ sẽ ý thức vấn đề văn hoá…một vấn đề rất tế nhị ở đây”. (Nguồn VietCatholic News, dẫn theo tin của hãng UCAN, Thailand, 18-9-2000)
[14] Nguồn VietCatholic News, 12-9-2000
[15] Phát biểu của ĐGH Gioan Phaolô II ngày 01-10-2000, nguồn VietCatholic News
[16] Xem J.Ratzinger, Đức tin Kitô giáo, hôm qua và hôm nay cùng với Thiên Chúa và trần thế.
[17] Có một quan niệm rất phổ biến: nhiều người cứ cho rằng lý trí chỉ muốn “biết” mà thôi, hoặc cao hơn nữa là “biết để tin”, “biết để sống”. Nhưng thực ra, một cách sâu xa nhất, lý trí- tự trong yếu tính của nó- nó muốn ‘sống’, muốn được ‘biết đến’.
[18] X. ”Đức Giêsu thành Nazareth, Đấng Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta” của Jos. Nguyễn Đức Nhân
[19] Tóm lược Học thuyết xã hội của Giáo hội Công giáo, s.28
[20] Ga1,2
[21] Ga1,14
[22] Joseph Ratzinger, Thiên Chúa và trần thế, p.245
[23] X. Thiên Chúa và trần thế, p.215
[24] Cđ Vaticano II, Hc Gaudium et Spes, s.22
[25] x. Joseph Ratzinger, Đức tin Kitô giáo, hôm qua và hôm nay, Nxb Tôn giáo, 2009
[26] Có thể nói chiều sâu trong trình thuật về hành trình niềm tin của ông Tôma chính là thể hiện điểm này. Ông Tôma đại diện không chỉ cho lý trí thực nghiệm, nhưng còn là cho cái gì “chung” nơi con người.
[27] Thánh ca Esxultet.
[28] Ngài hiện ra với các môn đệ khi cửa phòng còn đóng kín.
[29] Tuyên ngôn Dominus Jesus, 15
[30] Hiến chế Gaudium et Spes, 45
[31] Thông điệp Redemptoris missio, 6; x. Gaudium et Spes, 2
[32] Gioan Phaolô II, Dominum et vivificantem, 50
[33] Felipe Gómez S.J, Kitô học, t.2
[34] Thông điệp Redemptor hominis
[35] Tên một tác phẩm nổi tiếng của Albert Camus, giải Nobel Văn chương 1957
[36] Nó cũng nói với chúng ta: các học thuyết phải được xây dựng cho phù hợp với các sự kiện, chứ không phải các sự kiện phải xây dựng cho phù hợp với các học thuyết!
[37] Điều này được nói cách rõ ràng trong Thánh Kinh: “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật.” (St 2,7)
[38] Ở đây, ta có thể liên tưởng đến các câu nói rất nổi tiếng của Thánh Augustino: “Lạy Chúa, Chúa ở bên trong con, còn con thì ở bên ngoài con”, hoặc “Lạy Chúa, Chúa hiểu biết về con hơn là con hiểu biết về chính mình”,…
[39] Gv 11,7
[40] Tv 36,10
[41] Thánh ca Benedictus.
[42] Lời tựa Tin mừng Gioan.
[43] M.Zundel, Một cái nhìn khác về con người, t.2.
[44] Ta có thể nhận ra điều này trong đời sống thường ngày cũng như trong các văn kiện, tuyên ngôn, các tác phẩm văn học. Gần nhất, có thể kể đến Tuyên ngôn về Nhân quyền của Tổ chức Liên hiệp quốc, Học thuyết xã hội của Giáo hội.
[45] Mt 5,3.
[46] Pl 2,6-7.
[47] 2Cr 8,9.
[48] Chứ không phải là hư vô, hư không !
[49] Đọc lại trình thuật Khổ nạn của Đức Giêsu ta sẽ thấy đây không phải là một lối diễn tả văn chương, nhưng đó là cái gì đó rất thực !
[50] Câu nói trong một bài giảng của Lm. J.B Nguyễn Khắc Bá.
[51] M.Zundel, Một cái nhìn khác về con người, t.2, p.269.
[52] Rabindranath Tagor, Lời dâng, s.4, Đỗ Khánh Hoan dịch.

