Subscribe:Posts Comments

You Are Here: Home » FEATURES, SUY TƯ THẦN HỌC, TÍN LÝ » Ý nghĩa của hạn từ “CỨU CHUỘC”

Ý NGHĨA CỦA HẠN TỪ “CỨU CHUỘC”

 Dẫn nhập

Chúng ta biết, niềm tin Kitô giáo không phải là tin vào một số triết lý hay một triết thuyết nào, nhưng là gắn bó và đặt trọn niềm tin vào một Con Người, một nhân vật Thần – Nhân, Đấng vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật, đó là Đức Giêsu Kitô.

Trong suốt chiều dài lịch sử Giáo Hội, những cuộc tranh luận xung quanh thân thế và sự nghiệp của Đức Giêsu Kitô không chỉ có tính cách thuần túy siêu hình về những khái niệm như bản thể, ngôi vị… hoặc xung quanh việc xác định các chi tiết về niên đại lịch sử. Nhưng các vấn nạn xung quanh thân thế và sự nghiệp của Đức Giêsu còn có liên hệ đến vấn đề cứu độ của nhân loại nói chung và cá nhân từng người nói riêng. Thực vậy, mầu nhiệm Nhập thể và trọn cả cuộc đời dương thế của Đức Giêsu phải được nhìn dưới viễn ảnh cứu độ. Mầu nhiệm Thập giá và Phục sinh lại càng liên hệ mật thiết hơn nữa đến ơn cứu độ.

Quả thế, chúng ta nhận thấy rằng có một sự liên hệ mật thiết giữa con người Đức Kitô và sự cứu độ. Đã có lúc người ta cho rằng Đức Kitô chỉ được xem là Đấng Cứu Độ khi chịu chết trên Thập giá. Thế nhưng, khi trở về với Kinh Thánh và các Giáo phụ, chúng ta thấy rằng mầu nhiệm cứu độ đã được bắt đầu kế từ khi Ngôi Lời kết hợp với bản tính nhân loại, nghĩa là khi Nhập thể. Nhờ đó, nhân loại được giao hòa và hợp nhất với Thiên Chúa. Dĩ nhiên, cao điểm của công trình cứu độ là Mầu nhiệm Vượt Qua – tử nạn và Phục sinh của Đức Kitô. Thế nhưng câu hỏi được đặt ra ở đây là cứu chuộc là gì? Phải hiểu như thế nào về hạn từ cứu chuộc? Ý nghĩa của hạn từ này trong Kinh Thánh và trong Truyền Thống Giáo Hội như thế nào? Hơn nữa, khi tìm hiểu về ý nghĩa của hạn từ cứu chuộc sẽ giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủ hơn và rõ ràng hơn về công trình cứu chuộc của Đức Kitô.

Vì thế, trong khuôn khổ đề tài này, chúng ta lần lượt tìm hiểu về nguồn gốc và khái niệm của hạn từ cứu chuộc. Sau đó, chúng ta sẽ nêu ra những ý nghĩa căn bản của hạn từ cứu chuộc được nói đến trong Kinh Thánh, các Giáo phụ và trong truyền thống thần học của Giáo Hội, để từ đó rút ra những bài học bổ ích cho bản thân.

1. Nguồn gốc và khái niệm về hạn từ cứu chuộc

a. Nguồn gốc

“Phạm trù cứu chuộc – redemptio trong tiếng Latinh – đóng giữ vai trò trọng yếu bậc nhất trong Kinh Thánh cũng như trong thần học… Trong truyền thống, từ “cứu chuộc” đồng nghĩa với “cứu độ” dù theo nghĩa hẹp, thì từ này đơn thuần mang ý nghĩa chỉ về một cách (ẩn dụ) tiến hành của công cuộc cứu độ”[1].

Quả thật, cứu độ là một công trình quá lớn lao, phức tạp và thuộc về lãnh vực của mầu nhiệm, nó vừa là công trình do Đức Kitô (và rộng hơn nữa là của Ba Ngôi Thiên Chúa) thực hiện, nhưng đồng thời cũng là ân huệ nhưng không của Thiên Chúa đòi hỏi con người phải mở rộng tâm hồn mình để đón nhận. Vì thế, khi diễn tả công trình cứu chuộc của Đức Kitô, Kinh Thánh đã phải sử dụng nhiều đến phép ẩn dụ và những lối diển tả bằng biểu tượng, khái niệm, phạm trù… rất khác nhau, được vay mượn từ các lĩnh vực thương mại, kinh tế, luật pháp, chính trị, xã hội, y học, phụng vụ…

Chúng ta thấy rằng, nguồn gốc của hạn từ cứu chuộc xuất phát từ trong Kinh Thánh. Trong Kinh Thánh, “có một ngữ hệ các kiểu nói được phát xuất từ động từ  “cởi bỏ” (“délier”) ám chỉ sự “giải thoát”, sự “chuộc lại” hay sự “cứu chuộc”.[2]  Các kiểu nói này đã được sử dụng lặp đi lặp lại rất nhiều lần trong Kinh Thánh. Các kiểu nói này được gặp thấy trong bản Kinh Thánh bản LXX. Chúng được sử dụng, nhất là trong các sách Xuất hành, Lêvi, Dân số với một nghĩa mang tính pháp lý, hay với nghĩa ám chỉ việc Thiên Chúa cứu thoát dân Người khỏi một tình cảnh cụ thể nào đó.[3]  Sau đây là những đoạn trong Cựu Ước ám chỉ đến sự cứu chuộc:

Trong sách Xuất hành tác giả nhắc đến sự giải thoát, chuộc lại: “Ta là Đức Chúa. Ta sẽ cứu các ngươi khỏi phải làm việc khổ sai cho người Aicập, sẽ giải thoát các ngươi khỏi làm nô lệ chúng. Ta sẽ giơ cánh tay, dùng uy quyền mà chuộc các người lại” (Xh 6,6).

Trong Isaia lại nói đến sự cứu chuộc: “Chúng sẽ được gọi là “Dân Thánh”, là những người được Đức Chúa cứu chuộc” (Is 62,12). Trong sách 2Sm cũng nói đến từ này: “Thiên Chúa đã đến cứu chuộc dân này để làm thành dân của Ngài, đặt tên cho nó, thực hiện cho nó những điều vĩ đại và khủng khiếp, hầu xua đuổi các dân tộc và các thần cho khuất mắt dân mà Ngài đã cứu chuộc từ Aicập về cho mình” (2Sm 7,23).

Chúng ta nhận thấy rằng, Cựu Ước rất nhiều lần nhắc đến hạn từ cứu chuộc, nhưng như W. Kasper đã nhận xét rằng trong Cựu Ước, khi nói về ý tưởng cứu chuộc hầu như có mối liên hệ nào với ý tưởng tội lỗi. [4]

Trong Tân Ước, kiểu nói ám chỉ về sự cứu chuộc cũng được nhắc đến nhiều lần với nhiều kiểu nói khác nhau. Sau đây là những ví dụ:

Tác giả Matthêu và Marcô đã dùng kiểu nói “giá chuộc”: “Con người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28; Mc 10,45). Trong thư thứ nhất gửi cho Timôthê, thánh Phaolô cũng dùng kiểu nói tương tự: “chỉ có một Đấng Trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một Con Người, Đức Kitô Giêsu, Đấng đã tự hiến làm giá chuộc mọi người” (1Tm 2,5-6).

Tác giả Luca lại dùng kiểu nói “cứu chuộc”, “cứu thoát”: “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Israel” (Lc 24,21). Trong thư gửi cho Titô, Phaolô cũng dùng kiểu nói này: “vì chúng ta, Người đã tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho khỏi mọi điều bất chính” (Tt 2,14). Thánh Phêrô và tác giả thư Dothái cũng dùng kiểu nói này trong tác phẩm của mình: “anh em đã được cứu chuộc nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tì tích là Đức Kitô” (1Pr 1,19; Dt 9,12).

Ngoài ra, Tân Ước còn dùng nhiều kiểu nói khác nữa để ám chỉ về công trình cứu chuộc của Đức Kitô: kiểu nói “hòa giải” và “bình an” (x Ga 19,23; Ep 2,14…), “trả tự do”; hay một số kiểu nói khác như: giải phóng, giải thoát; làm cho nên công chính; trao ban, hiến thân; thanh luyện; tha thứ; hòa bình; ban sự sống, sự sống đời đời; ban cho làm nghĩa tử, thông dự vào bản tính Thiên Chúa…

Như vậy, chúng ta nhận thấy rằng hạn từ cứu chuộc có nguồn gốc trong Kinh Thánh và được sử dụng với nhiều kiểu nói khác nhau, để diễn tả mầu nhiệm cao cả khôn dò khôn thấu của công trình cứu độ Đức Giêsu đã thực hiện. Bây giờ chúng ta thử tìm hiểu về khái niệm của hạn từ này.

b. Khái niệm

Theo quan niệm thông thường nhất, cứu chuộc có nghĩa là giá mua một tên nô lệ, giá phải trả để người nô lệ được tự do. Trong ngôn ngữ tôn giáo, đó là giá người tín hữu phải trả để được giải thoát khỏi sự dữ, nhất là khỏi tội ác; cứu chuộc là việc chúng ta mắc một món nợ mà không có cách nào trả nổi, trong tình trạng cùng khổ đó, Đức Kitô đã đến trả nợ thay cho chúng ta, chuộc chúng ta khỏi cảnh làm tôi mọi của ma quỷ.

Theo ngôn ngữ Hylạp, cứu chuộc có nghĩa là mua lại và trả cái giá phải trả để nhận lại điều gì đó. “Giá chuộc dịch từ tiếng “lýtron” và đã được Đức Giêsu dùng trong Phúc Âm (x. Mc 10,45). Người ta cũng dùng từ “lýtrosis” (giải thoát), được sử dụng trong Lc 1,68 và Dt 9,12 với ý nghĩa chung là “giải phóng” những ai thiếu tự do. Nhưng được dùng nhiều hơn cả là từ ghép “apolýtrosis” (giải thoát, mua lại, trả tự do…) và dùng với nghĩa chung là cứu chuộc (x. Lc 21,28; Rm 3,24…). Một số từ khác cũng được dùng với ý nghĩa tương tự, như “agorázein (mua ở chợ) được sử dụng trong 1Cr 6,20: “Thiên Chúa đã trả giá đắt mà chuộc lấy anh em” hay trong Gl 3,13; 4,5): “Đức Kitô đã chuộc chúng ta cho khỏi bị nguyền rủa vì lề luật. Ngoài ra, người ta còn sử dụng động từ “peripoieo (mua) để nói về: “Hội Thánh Thiên Chúa đã mua bằng máu của chính mình” (Cv 20,28), vì thế, cộng đoàn Kitô hữu được gọi là “Dân Thiên Chúa đã mua cho mình” (1Pr 2,9)[5].

 “Trong truyền thống Giáo Hội, kiểu nói “cứu chuộc” đã được sử dụng một cách rộng rãi; việc sử dụng mà nó dựa trên các lần Tân Ước đã diễn tả về các kiểu nói gần giống với hạn từ “cứu chuộc”. Tuy nhiên, kiểu nói “cứu chuộc” chưa bao giờ được Giáo Hội định nghĩa một cách chính thức”.[6]

Mặc dù vậy, trong Giáo Hội cũng có những quan niệm khác nhau. Thần học thời trung cổ quan niệm rằng tội lỗi chúng ta xúc phạm đến Thiên Chúa muôn vàn trùng, đáng phạt án chết đời đời; và Đức Kitô – Con Thiên Chúa đã chết để đền tội thay cho chúng ta. Duy Ngài mới có thể dâng cho Chúa Cha hy lễ đền tội cân xứng với sự xúc phạm. Bởi vì khi phạm tội, chúng ta xúc phạm đến Đấng vô cùng, song khi đền tội thì sức ta lại có hạn, không thể bù đắp cân xứng được, cần phải có một Đấng vô cùng mới trả nợ cân xứng.[7]

Đến thế kỷ 20, W. Kasper cho rằng “Đức Giêsu Kitô là sự cứu chuộc trong chính con người của Ngài, người ta không thể tách biệt con người Đức Giêsu và lịch sử của Ngài. Sự cứu chuộc không phải là một thực tại mà người ta có thể tách lìa Đức Giêsu và thập giá” Cũng chiều hướng đó, nhà thần học K. Rahner khẳng định thêm: “biến cố cứu độ chính là Đức Giêsu Kitô”  và “Đức Giêsu không chỉ có giáo huấn và hứa ban ơn cứu độ, Người cũng là ơn cứu độ”.[8]

Đây là quan điểm rất được người ta chú ý, nó tránh cho ta khỏi rơi vào cảm bẩy của một chủ nghĩa duy lý quá dễ giãi về nguyên nhân và hiểu quả của ơn cứu độ từ trong lòng của một hệ thống mà con người Đức Giêsu chỉ là một yếu tố. Bởi thế, trong thần học hệ thống có khi cứu độ học được tách ra khỏi Kitô học, làm thành một thiên chuyên khảo riêng, còn khuynh hướng ngày nay thì người ta tổng hợp làm một cả hai khía cạnh của mầu nhiệm về “Đấng Cứu Tinh tuyệt đối” là Đức Giêsu Kitô. Quả thế, những công việc Đức Giêsu đã làm mặc khải cho ta biết Người là ai (x. Ga 5,36; 10,25) và nghiên cứu về sự nghiệp của Ngài là thực ra chỉ để biết Ngài rõ hơn.[9]

Thật thế, khi đối diện với mầu nhiệm cao cả khôn dò thấu này, Thánh Kinh đã phải dùng đến nhiều cách diễn tả khác nhau để chúng bổ túc cho nhau, nhằm giúp cho ta hiểu đầy đủ hơn về công trình của Đức Kitô. Tuy nhiên, các phạm trù ấy dù có sự liên đới chặt chẽ và bổ túc lẫn nhau, nhưng chúng vẫn luôn nghèo nàn hơn là chính con người Đức Giêsu mà khởi đi từ đó chúng ta có được ý nghĩa. Mỗi xác quyết về Đức Kitô đó là một khẳng định về chức năng của Ngài, hoặc là về các sự việc Người đã làm cho chúng ta bởi vì ơn cứu độ không đơn giản chỉ là một giáo thuyết. [10]

Trên đây, chúng ta đã tìm hiểu sơ lược về các quan niệm khác nhau về hạn từ cứu chuộc trong Kinh Thánh cũng như trong truyền thống thần học Giáo Hội. Sau đây, chúng ta tìm hiểu về ý nghĩa của hạn từ này được sử dụng như thế nào.

2. Ý nghĩa của hạn từ cứu chuộc

a. Trong Kinh Thánh

Như chúng ta biết, Xuất hành và Giao ước là hai chủ đề, hai biến cố quan trọng bậc nhất trong lịch sử dân tộc Israel. Chính vì biến cố Xuất hành mà Cựu Ước rất thường nói đến “cứu chuộc”; “cứu chuộc” luôn gắn liền với Xuất hành và Giao ước. Trong ý thức của người Dothái, Xuất hành không thể tách rời Giao ước: Thiên Chúa chỉ cứu dân Ngài khỏi nô lệ vì muốn gắn bó với dân ấy: “Ta là Giavê… Ta sẽ giải thoát các người khỏi nô lệ,… Ta sẽ dùng uy quyền mà chuộc lại các ngươi… Ta sẽ nhận các ngươi làm dân của Ta và ta sẽ là Thiên Chúa của các ngươi” (x. Xh 6,6; 2Sm 7,23).

Chính vì thế, Israel luôn coi Giavê là Đấng cứu chuộc dân Người (x. G 19,25; Tv 78,35…), đặc biệt là vì Người đã giải thoát họ khỏi cảnh lưu đày, nô lệ ở đất Aicập, đã “mua” họ lại cho mình và lập thành một “Dân Thiên Chúa”, được dẫn vào lãnh thổ mà Người đã dành sẵn cho. Thật vậy, Thiên Chúa đã tạo cho mình một dân tộc mới: “Đây là lời Giavê phán… hỡi Israel: Đừng sợ, vì Ta đã chuộc ngươi về, đã gọi ngươi bằng chính tên ngươi: ngươi là của riêng Ta (x. Is 43,1). Thiên Chúa trở nên “go’el” của Israel, tức là trở nên như người huyết tộc có bổn phận chuộc lấy gia tài hoặc gia nhân đã bị mất (x. Is 41,14…). Vì thề, khi Thiên Chúa “mua” họ, Người không ở trong tư thế là chủ, mà là Cha của dân mình.[11]

Các tiên tri cũng sử dụng những mẫu thức giống nhau liên quan đến việc giải thoát khỏi cảnh lưu đày để diễn tả về sự cứu chuộc và “Đấng Cứu Chuộc” trở thành một tước hiệu của Giavê được yêu thích. Chúng ta biết rằng, với Israel đối tượng của niềm hy vọng lớn lao vào Đấng Mêsia còn được diễn tả bằng từ “cứu chuộc”: Đức Giavê luôn luôn từ ái một niềm, ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa, chính Người sẽ cứu chuộc Israel cho khỏi tội lỗi (x. Tv 130,7-8). Tiên tri Êdêkien còn nhấn mạnh đến đặc tính nhưng không tuyệt đối của sự cứu chuộc dành cho các tội nhân (x. Ed, 16, 60-63). Sự cứu chuộc đối với Êdêkien là được thông dự vào thần trí của Giavê, được biến đối tận đáy lòng (x. Ed 36, 27-32).

Tiếp nối thời Cựu Ước, trong Tân Ước: “Những ý nghĩa trên đây về cứu chuộc đều được ứng nghiệm trọn vẹn trong Đức Kitô. Chính Người là “ơn cứu độ” muôn dân đang trông đợi và ông Dacaria đã “trông thấy”, Người là ánh sáng và là vinh quang của Israel, Người sẽ cứu chuộc dân Người (x. Lc 1,68; 2, 30-32). Và “vì chúng ta, Người đã tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính, và để thanh luyện chúng ta, khiến chúng ta thành dân riêng của Ngài, một dân hăng say là việc thiện” (x. Tt 3,14).[12]

Quả vậy, Tân ước đã lấy biến cố xuất hành làm tiên trưng cho công trình cứu chuộc của Đức Kitô. Những gì Giavê đã làm cho Israel, thì chính Đức Kitô cũng đã thực hiện cho Giáo Hội (x. 1Cr 5,7; Kh 5,6). Tuy nhiên, “cứu chuộc” ở đây không chỉ dùng để xác định công trình Đức Kitô thực hiện trên đồi Calvê (Rm 3,24), nhưng đó còn là công trình mà Ngài sẽ hoàn thành vào thời sau hết, khi Đấng Quang lâm xuất hiệt và các thân xác sống lại vinh hiển (Lc 21,27; Rm 8,23). Chính vì thế, ở đây cứu chuộc chính là sự giải thoát, giải phóng và đó còn là sự “đạt được” là “Thiên Chúa giành lại sở hữu cho mình nữa.

Do đó đây là lý do tại sao Tân Ước đã diễn tả ý niệm cứu chuộc bằng động từ “mua” (ví dụ: trong 1Cr 6,20; 7, 23…) không phải Tân Ước muốn coi sự cứu chuộc của Đức Giêsu như sự trao đổi hàng hóa thương mại, được quy định bởi luật trao đổi qua lại hay luật bù trừ. Rõ ràng đây là một hình ảnh ẩn dụ, Tân Ước chưa bao giờ nói đến một nhân vật đòi hỏi hay nhận giá cả như một số giáo phụ đã quan niệm. Thật vậy, ở đây Tân Ước có vẻ như dựa vào ý niệm “mua” như đã biết đến trong Cựu Ước. Chúng ta thấy rằng, với động từ “mua”, sách Khải huyền rõ ràng dựa vào giao ước trên núi Xinai: sau khi đã trả bằng giá máu của Chiên Con, mọi người thuộc các dân tộc trở thành tài sản riêng của Thiên Chúa, cũng như xưa kia Israel đã trở thành dân riêng của Ngài dựa vào giao ước được kí kết bằng máu chiên bò (x. Kh 5,9); một cách thức đó, sách Tông đồ công vụ cũng dùng thuật ngữ trên để diễn tả việc Hội Thánh đã được “mua” bằng chính máu của Con Thiên Chúa (x. Cv 20,28).

Quả thế, Ngài đã vào cung thánh không phải với máu các con dê, con bò nhưng với chính máu của mình, Ngài vào chỉ một lần mà thôi và đã lãnh được ơn cứu chuộc vĩnh viễn cho chúng ta (x. Dt 9,12). Và rõ hơn nữa, thánh Phêrô khẳng định: “không phải nhờ những của chóng hư nát như vàng hay bạc mà anh em đã được cứu chuộc… nhưng là nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tì tích, là Đức Kitô (x. 1Pr 1,18-19).

Chúng ta nhận thấy rằng, “những cách nói này muốn nêu bật tính cách trang trọng của việc cứu chuộc. Vì là hành động của Tình Yêu và tình yêu tuyệt đối thì có thể đòi hỏi tất cả, cả đến mạng sống (x. Ga 15,13)[13].

Thực vậy, Đức Giêsu chính là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa trao ban cho con người qua hết mọi lời nói và hành động của Ngài: những khi Ngài đi làm bạn với người tội lỗi, tiếp xúc với những người bị xã hội loại bỏ, những khi chữa lành bệnh tật và quỷ ám. Suốt cuộc đời của Ngài là sự trao ban tình yêu; Ngài là một con người “sống cho” và “sống cho” đến cùng bằng cái chết nhục nhã trên thập giá. Chính vì thế, giá trị cái chết của Ngài không phải ở chỗ bị giết chết, bị ám sát nhưng là ở chỗ biểu lộ tới tột đỉnh của lý tưởng mà Ngài đã thực hiện trong suốt cuộc đời, tức là trao ban chính mình cho người khác một cách tình nguyện và tự do. Cái chết của Ngài không phải nhằm để thỏa mãn sự công thẳng của Thiên Chúa cho bằng để biểu lộ tình yêu trao ban của Thiên Chúa giành cho con người.

Bởi vậy, không thể nào chỉ giới hạn vào quan điểm công lý pháp đình để tìm hiểu về sứ mạng của Đức Kitô; cần phải đi từ động lực tình yêu, liên đới: Ngài sẻ chia thân phận cùng cực của chúng ta và đồng thời nâng cao phẩm giá con người chúng ta từ hàng nô lệ lên hàng con cái Thiên Chúa. Ngài khơi dậy nơi chúng ta một sức lực mới, có khả năng để đổi mới cuộc đời.

Như vậy, khi diễn tả về sự cứu chuộc, Kinh Thánh đã mô tả tương quan giữa Thiên Chúa và nhân loại không phải dưới viển ảnh của luật pháp qua tương quan giữa vua chúa với thân dân. Mối tương quan của Thiên Chúa được biểu lộ qua từ “giao ước” hay nói đúng hơn là qua từ ngữ của tình yêu. Tội lỗi con người không xúc phạm đến sự công thẳng của Thiên Chúa cho bằng đến tình yêu của Người, tình yêu bị hất hủi, phản bội. Thế nhưng, thay vì đòi hỏi con người phải đi bước trước để xin tạ lỗi, Tân Ước lại cho ta biết rằng Thiên Chúa, như người mục tử nhân lành, hoặc như người cha nhân hậu đã lên đường để tìm người tội lỗi trước khi đợi chúng trở về.

b. Trong truyền thống Giáo Hội

Như chúng ta biết, đối diện với mầu nhiệm cứu chuộc cao cả, khôn dò Kinh Thánh đã phải dùng nhiều kiểu nói ẩn dụ và nhiều phạm trù khác nhau để diễn đạt. Chính điều này cũng đã mở đường cho nhiều lối giải thích mang tính hệ thống rất khác nhau. Tất cả chúng đều đặt nền tảng trên một nhân vật Thần – nhân là Đức Giêsu Kitô, là Thiên Chúa thật và là người thật; Ngài có một sự liên đới hoàn hảo với Thiên Chúa và với loài người chúng ta. Các giáo phụ và các nhà thần học đã sắp xếp các phạm trù, các kiểu diễn tả theo hai hoạt động chính: hoạt động đi từ Thiên Chúa đến con người thông qua nhân tính của Đức Giêsu và hoạt động đi từ con người đến Thiên Chúa.

Nhìn chung, trong mười thế kỷ đầu, truyền thống Giáo Hội nhất là các giáo phụ Đông phương đã đề cao tác động đi xuống; trong khi mười thế kỉ sau, truyền thống Giáo Hội, nhất là Giáo Hội Tây phương lại nhất mạnh tác động đi lên. Khúc ngoặt phân chia hai khuynh hướng trên được xác định bởi thánh Anselmô (+1109). Trường phái thứ nhất coi sự cứu độ như một hành động đặc thù của Thiên Chúa, một hành động thần linh bất đoạn; trong khi đó trường phái thứ hai lại tìm thấy nguồn mạch của sự cứu chuộc trong ý muốn của Thiên Chúa, nhưng nối kết sự thực hiện của ý muốn ấy vào một sự trao đổi mà người ta cho rằng Đức Kitô đã thực hiện với tư cách con người và bởi những phương thế nhân loại.[14]

Quả thế, khi trả lời cho câu hỏi: tại sao Chúa Giêsu chết? Làm thế nào Đức Kitô cứu độ chúng ta? Truyền thống Giáo Hội thời kỳ đầu trả lời rằng Đức Giêsu chết “trước hết để cứu chuộc chúng ta, để giải thoát chúng ta khỏi sự chết, tội lỗi và ma quỷ. Trong khi đó các nhà thần học Tây phương từ thời Trung cổ lại trả lời một cách hoàn toàn khác: Đức Kitô chịu chết trước hết để dâng mình làm của lễ cho Chúa Cha và để đền bù sự công thẳng của Thiên Chúa.[15]

Theo quan niệm thứ hai này, tội lỗi đã xúc phạm đến Thiên Chúa, đáng lên án phải chết đời đời và đức Kitô – Con Thiên Chúa đã chết để đền tội thay cho chúng ta. Chỉ mình Người mới có thể dâng hy lễ chuộc tội cách cân xứng với sự xúc phạm này. Thực vậy, khi xúc phạm đến Đấng Vô Cùng, chúng ta hữu hạn không thể bù đắp cân xứng được. Do đó, cần phải có một Đấng Vô Cùng mới trả được nợ cân xứng. Hơn nữa, cuộc khổ nạn đổ máu của Người trên thập giá mới “chuộc lại”cân xứng.

Lối lập luận như thế, sẽ gặp nhiều vấn đề:

Thứ nhất, Thiên Chúa được trình bày như một vị quan tòa nghiêm thẳng, chỉ nghĩ đến công lý và báo oán. Người đòi phải đền bù cân xứng để chuộc lại sự xúc phạm. Điều này hẳn là xa lạ với mạc khải về Thiên Chúa như người cha nhân hậu trong Tin Mừng. Thứ đến, Đức Giêsu cũng bị hạ giá. Quan niệm như thể thì chỉ có cái chết của Người trên Thập giá mới có giá trị còn cuộc đời rao giảng trước đó xem ra vô nghĩa. “Máu chiên bò Chúa không ưng…” được thay thế bằng máu của Chúa Giêsu, xem ra không lưu tâm đến tình yêu và sự vâng phục vốn là hai yếu tố chính trong công trình cứu độ. Và cuối cùng, nó làm cho khái niệm ơn cứu độ sẽ gặp phải khó khăn là chỉ giới hạn vào việc chuộc tội. Quan niệm như thế có ảnh hưởng đến cuộc sống hiện sinh của con người, đến công cuộc thăng tiến nhân loại.[16]

Thật ra, quan niệm về sự cứu chuộc như là đền bù cho sự công thẳng của Thiên Chúa chỉ xuất hiện với thần học của thánh Anselmô, vào lúc khai sinh thần học kinh viện, lúc bắt đầu áp dụng ý niệm pháp lý vào việc phân tích bản văn Kinh Thánh, vốn đặt nặng vấn đề công lý, thưởng phạt. Từ đó về sau, thần học cứ lặp đi lặp lại tư tưởng ấy, mà không chịu đào sâu thêm ý nghĩa của các từ khác dùng trong Kinh Thánh, cũng như không xét xem Kinh Thánh dùng các từ “hy sinh, chuộc tội” theo nghĩa pháp lý hay theo nghĩa nào khác.

Tuy nhiên như đã trình bày trên, chúng ta cần lưu ý rằng Kinh Thánh cho ta thấy Đức Kitô đến trần gian này không phải chỉ để đền tội thay cho chúng ta, để lãnh án phạt tử hình mà chúng ta đáng chịu. Đức Kitô chính là mạc khải của tình yêu Thiên Chúa đối với loài người: Ngài đến để thông chia cho chúng ta tình yêu dồi dào của Ba Ngôi Thiên Chúa, đem tình yêu của Thiên Chúa chiếu rọi vào trong cảnh sống lầm than của con người.

 “Quả thật, như chúng ta biết Kinh Thánh đã dùng kiểu nói chuộc lại nhưng không hề nói ai là người nhận lấy giá chuộc này, cũng không nói giá chuộc được mua từ cái gì, cũng không nói tại sao Thiên Chúa lại phải cần một giá chuộc phải trả để giải thoát. Kiểu nói này của Tân Ước được vay mượn, (cũng như các kiểu nói khác về hy lễ, sống lại…) từ ngôn ngữ thời đó, nhưng đã được “chuyển đổi”, tức là nghĩa của nó đã được hoán chuyển nhằm diễn tả thực tại đức tin Kitô giáo về “chiều kích giải thoát và hành động cứu độ của Ngôi Lời nhập thể đối với chúng ta”.[17]

Thật thế, mạc khải Kitô giáo nói về một Vị Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót và hay tha thứ, Đấng không muốn tội nhân bị trừng phạt, nhưng muốn họ hoán cải con tim và quay trở về con đường chính trực và đó là sự “cứu chuộc” duy nhất có thể làm vui lòng Thiên Chúa (x. Ed 18,23.32).[18]

Có lẽ khuyết điểm lớn nhất của thần học trong quá khứ là khi sử dụng các từ ngữ của Kinh Thánh thì họ đã giải thích các từ ngữ ấy theo triết lý hay pháp luật mà bỏ qua toàn thể bối cảnh của mạc khải. Thực vậy, khi Kinh Thánh nói tới sự “công bằng” của Thiên Chúa, thì chúng ta đừng nên hiểu theo nghĩa như ông chủ khắc nghiệt, hạch sách cho tới đồng xu cuối cùng. Ngay từ Cựu Ước, sự công bằng của Thiên Chúa đã ám chỉ việc Ngài giữ lời hứa, lòng trung tín đối với giao ước. Tuy rằng Israel có thất trung, nhưng Thiên Chúa không rút lời. Tư tưởng đó được nối dài qua Tân Ước, nơi mà Thiên Chúa bày tỏ sự “công bằng” qua việc duy trì lời hứa: chính Ngài không ngừng yêu thương nhân loại cho dù tội lỗi của loài người gây ra bao nhiêu đổ vỡ, rối loạn. Ngài đứng ra khởi xướng cuộc giao hòa với nhân loại nhờ Đức Kitô. Như thế, chúng ta không được hiểu sự “công bằng” của Thiên Chúa như là sự “công thẳng”, nhưng phải nói là sự “trung tín” thì mới đúng. Một cách tương tự như vậy, các từ ngữ đọc thấy trong Kinh Thánh như là “công trạng”, “chuộc lại”, “hy lễ”… cần phải hiểu theo nghĩa loại suy và nhất là cần phải được đi kèm với các từ khác biểu lộ ơn cứu độ: trao ban, hòa giải, bình an… [19]

Thực vậy, với một cách thức quá mang tính pháp lý và được gợi hứng từ sự công chính của con người, người ta đã biến cuộc thương khó của Đức Giêsu thành sự trừng phạt chuộc tội, qua đó Đức Giêsu đền thay, đền bù cho tội nhân; hình phạt mà nó đền bù cho những lỗi lầm của tội nhân đối với sự công thẳng của Thiên Chúa.

Trong quan điểm mang tính pháp lý này, tất cả các ý tưởng tựu chung lại đều cho rằng Đức Kitô cứu chuộc chúng ta bởi hành động mà Người thực thi trên Thiên Chúa. Đứng trước hy lễ của Đức Giêsu trên thập giá, Thiên Chúa làm nguôi cơn giận của Người, không còn làm Thiên Chúa tức giận chống lại chúng ta nữa. Thiên Chúa thứ tha cho chúng ta và chúng ta nhận được tình yêu của Người. Như thế, ở đây hiểu quả của ơn cứu chuộc trước hết gán cho một vài khái niệm về sự trung gian dưới lên và sự cứu chuộc ở đây “như một hành động được thực hiện trên Thiên Chúa để uốn cong (làm thay đổi) thái độ của Người. Vì thế, ơn cứu độ được hiểu như là một sự thanh toán giữa Thiên Chúa với Thiên Chúa, còn con người chỉ nhận lãnh sự chúc phúc nhờ phương cách của hệ quả, dưới hình thức ân sủng vô hình. Sự trung gian được thực hiện bởi nhân tính của Đức Giêsu dường như bị che lấp. Ở đây có một sai lầm kép về hướng đi về nguyên nhân tính cứu độ của mầu nhiệm Đức Kitô và về người lãnh nhận nguyên nhân tính ấy.[20]

Quả thế, chúng ta thấy rằng Thiên Chúa đã sai Con của Người đến với chúng ta bởi vì Người yêu thương chúng ta, chứ không phải Người đã tức giận chống lại chúng ta: “Thiên Chúa Yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một”. Do đó, nguyên nhân tính của cuộc thương khó và sự phục sinh của Đức Kitô được thực hiện từ cái nhìn của Thiên Chúa. Nguyên nhân tính sự cứu độ của Đức Kitô được thực hiện đối với con người là một nguyên nhân tính từ trên xuống. Điều này cho thấy rằng kịch bản của sự cứu độ một cách căn bản là một kịch bản xảy ra giữa Thiên Chúa và con người, chứ không phải là một quy luật của sự công chính diễn ra giữa Chúa Con và Chúa Cha; cuối cùng con người chúng ta chỉ là người ngoài cuộc.[21]

Tuy nhiên, khi khẳng định tầm quan trọng của động tác trên xuống này, chúng ta không loại bỏ đi giá trị và sự cần thiết của động tác dưới lên; bởi vì chỉ có động tác này có thể thực hiện sự trở về chung quyết của con người trong sự thông ban tròn đầy của Thiên Chúa. Chính động tác thứ nhất làm phát sinh động tác thứ hai. Hy lễ của Đức Giêsu là một hy lễ của con người cho Thiên Chúa, bởi vì trước hết nó là một hy lễ của Thiên Chúa cho con người.[22]

Như thế, Đức Kitô là Đấng Cứu Thế bằng tất cả cuộc đời của Ngài, chứ không phải chỉ có lúc chết trên Thập giá. Thực vậy, Ngài chính là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa trao ban cho con người qua hết mọi lời nói và hành động của Ngài: Ngài làm bạn với người tội lỗi, tiếp xúc với người bị xã hội ruồng bỏ; Ngài chữa lành những người bệnh tật và quỷ ám. Suốt cuộc đời của Ngài là sự trao ban tình yêu: Ngài là “một người sống cho người khác”.

Chỉ trong bối cảnh như thế mà cái chết của Đức Giêsu mới có giá trị. Giá trị cái chết của Ngài không phải ở chỗ bị giết, bị ám sát, nhưng là ở chỗ nó biểu lộ tới tốt đỉnh của lý tưởng mà Ngài đã thực hiện trong suốt cuộc đời, tức là trao ban chính mình cho người khác, một cách tự nguyện và tự do. Cái chết của Ngài không phải nhằm để thỏa mãn sự công thẳng của Thiên Chúa cho bằng để bộc lộ tình yêu trao ban của Thiên Chúa giành cho con người.

Cái chết của Đức Kitô cần được nhìn ở trong nhãn quan rằng đó chính là biểu hiện của một mối tình bị hất hủi do tội lỗi của con người, và đồng thời là sự bày tỏ tình yêu liên đới qua việc tha thứ và chuyển cầu, chứ không phải xin báo oán.

Thiên Chúa không ưa thích cái chết của Đức Kitô như sự đền bù danh dự bị xúc phạm. Thiết tưởng không nên nói rằng “Chúa nguôi giận vì hy lễ đền tội của Đức Kitô”, vì nói như thế là “coi thường” Thiên Chúa: Người khắc nghiệt thích trừng phạt (như trong thần thoại, của lễ làm các thần nguôi giận và không trừng phạt nữa), nhưng nên nói rằng: “trước mặt Thiên Chúa, cái chết của Đức Kitô có giá trị, bởi vì Người đã muốn chấp nhận cái chết như dấu chỉ liên đới với số phận của nhân loại và để tỏ ra rằng Thiên Chúa yêu thương nhân loại cũng như yêu thương chính Con Một của mình vậy.

Khi nói về giá trị cái chết của Đức Giêsu, một từ ngữ thường được sử dụng là hy lễ (lễ hy sinh). Tuy nhiên, chúng ta nên cẩn thận để tránh ngộ nhận. Thường thì người ta quan niệm giá trị của hy lễ ở chỗ sát tế lễ vật: vật bị giết biểu lộ tâm tình đau khổ tan nát của chúng ta trước mặt Thiên Chúa vì đã xúc phạm đến Ngài. Quan niệm như vậy, ngoài giả thiết một hình ảnh của Thiên Chúa nghiêm thẳng, lại còn làm lệch lạc ý nghĩa của hy lễ. Cần phải nhìn hy lễ dưới viễn ảnh khác, trong tương giao tình yêu. Để tỏ lòng yêu ai, thì chúng ta thường biếu họ quà cáp; món quà trọng nhất là chính bản thân mình. Sự sát tế lễ vật nhằm biểu lộ ý muốn dâng hiến trọn vẹn, vô điều kiện, không bao giờ lấy lại nữa. Dù sao, trong Tân Ước, hy lễ đẹp lòng Chúa không hệ tại việc sát tế lễ vật chiên bò: Chúa không ưa những lễ vật bên ngoài, nhưng là ước mong con người dâng chính bản thân mình qua việc chấp nhận vâng nghe lời Người.

Mặt khác, chúng ta thấy, vai trò của Đức Kitô không chấm dứt với cái chết. Qua sự sống lại, lên trời, ban Thánh Thần, Ngài còn tiếp tục sứ mạng cứu thế qua việc chuyển cầu cho chúng ta. Không những Ngài là một gương mẫu cho chúng ta bắt chước, nhưng nhờ sự phục sinh (việc chiến thắng tội lỗi, sự ác, sự chết) Ngài còn trở nên nguyên nhân cứu thoát cho chúng ta, cứu chúng ta khỏi lo âu, sợ hãi, khỏi tính ích kỉ; trả lại cho chúng ta sức mạnh và tự do, ngõ hầu chúng ta có thể mạnh dạn ra đi lên đường phục vụ Thiên Chúa và tha nhân.

Đi xa hơn, khi nói đến “cứu thoát”, “cứu tinh”, chúng ta đương nhiên nghĩ đến hai tình trạng. Một là tình trạng hiện tại, tình trạng bị khốn khổ, tù đày, nô lệ và vì vậy cần được giải thoát; hai là tình trạng tương lai sau khi đã được giải thoát rồi. Thông thường tình trạng ban đầu trong thần học được diễn tả như là tội lỗi, nô lệ của ma quỷ; còn tình trạng thứ hai được diễn tả như là sống trong tình nghĩa với Thiên Chúa.

Tuy nhiên, thần học giải phóng cho rằng quan niệm cứu độ như vậy đâu có nhắm đến toàn thể con người, bởi vì con người đâu phải chỉ có linh hồn, cần phải lo cho được rỗi ở đời sau; con người còn có thân xác và sống ở đời này nữa. Như thế, một câu hỏi đặt ra: ơn cứu độ của Đức Kitô có ảnh hưởng đến thân phận con người ở đời này, đến lịch sử hiện đại, đến các thể chế chính trị xã hội hay không?

Câu trả lời đương nhiên là có. Chúng ta cần lưu ý rằng con người càng ngày càng ý thức về ơn cứu độ không phải hệ tại cần được giải phóng khỏi cảnh nghèo đói, bệnh tật, dốt nát, bất công; nhưng còn hơn thế nữa chính là khôi phục lại cho con người tự do, phẩm giá của mình đã bị chà đạp do những cảnh bất công nêu trên.

Khi đi vào tận gốc rễ của vấn đề như thế, chúng ta có thể vượt qua vấn nạn nói trên về sự cứu độ linh hồn hay cứu độ thể xác, cứu đời này hay đời sau. Thực vậy, khi nhấn mạnh sự cứu chuộc là khôi phục lại tự do, phẩm giá cho con người, chúng ta sẽ thấy tất cả những hệ luận phong phú của nó, xét vì không những nó mở cửa cho con người hiệp thông với Thiên  Chúa, nhưng còn thúc đẩy con người hành động cách tự do để thăng tiến phẩm giá cho mình và cho tha nhân.

Kết luận

Qua những gì phân tích trên chúng ta thấy rằng công trình cứu chuộc là một mầu nhiệm do chính Thiên Chúa thực hiện, mầu nhiệm tập trung nơi Đức Kitô. Ngài thực hiện vì yêu thương con người. Ơn cứu chuộc của Thiên Chúa trong Đức Giêsu, một cách chính yếu, cũng chẳng phải là nhằm giải thoát khỏi cuộc sống, nhưng ngược lại, chính là dẫn dắt toàn thể lịch sử vũ trụ và con người đến ngày hoàn tất chung cuộc. Ơn cứu chuộc đó không phải là cái chết lơ lửng, chỉ có một giá trị pháp lí trước mặt Chúa Cha, nhưng chính là một cuộc đời hết lòng yêu thương, đón nhận con người nhất là những người bị bỏ rơi, một thái độ yêu thương cho đến cùng, cho dù chính vì sự liên đới yêu thương đó mà Ngài bị giết chết. Cái chết của Ngài gắn liền với cuộc đời, sứ vụ công khai và bộc lộ ý nghĩa trọn vẹn của sứ vụ ấy. Ơn cứu chuộc Đức Kitô mang lại đó là quà tặng nhưng không của Thiên Chúa cho con người, qua đó con người được mời gọi đi vào trong tương quan tình yêu với Thiên Chúa, sống trong mối tình thân mật với Ngài, được trở về sống trong mối tương quan con thảo với Ngài. Và một khi đã ý thức về ơn gọi cao quý của con người là dưỡng tử của Thiên Chúa, thì người Kitô hữu chúng ta, theo gương Đức Kitô, sẽ ra tay đương đầu với những lực lượng nào chống lại ơn gọi ấy; và theo gương Đức Kitô, chúng ta không ngại hiến mình cho tha nhân; chúng ta thâm tín rằng cuộc sống của chúng ta không bí tắc nghẽn với cái chết, không chấm dứt bởi cái chết, nhưng nhờ sự phục sinh của Đức Kitô, chúng ta được cứu thoát khỏi cái chết, để chia sẻ sự sống đời đời với Thiên Chúa Ba Ngôi.

Như thế có thể nói, ý nghĩa của công trình cứu chuộc mà Đức Kitô thực hiện chính là mạc khải tình yêu Thiên Chúa chứ không phải chỉ nhằm thỏa mãn sự công thẳng của Người. Nhờ công trình đó, Người mang đến cho con người một cuộc sống ý nghĩa với tình liên đới, tự do, phục vụ vốn là chiều kích nhân sinh của ơn cứu độ.

Jos. Nguyễn Xuân Vinh

_________

1.       Felipe Gómez S.J., Kitô Học – Thần Học Tín Lý I, Antôn & Đuốc sáng, tr. 407
2.      Lm. GB. Nguyễn Khắc Bá, Giáo Trình Kitô Học Và Thần Học Về Chúa Ba Ngôi,  ĐCV. Vinh Thanh, 2009, lưu hành nội bộ, tr. 448
3.        Ibid., tr. 449
4.       Ibid., tr. 449
5.       Felipe Gómez S.J., Op. cit., tr. 407
6.       Lm. GB. Nguyễn Khắc Bá, Op. cit., tr. 449
7.       x. Thần Học về sự cứu độ, Tập San Thần Học số I/1994, (nguồn: Http://www.daminhvn.net)
8.       x. Lm. GB. Nguyễn Khắc Bá, Op. cit., tr. 450
9.        Ibid., tr. 450
10.       Ibid., tr. 451
11.      x. Felipe Gómez S.J., Op. cit., tr. 408
12.       Ibid., tr. 408
13.       Ibid., tr. 409
14.       x. Lm. GB. Nguyễn Khắc Bá, Op. cit., tr. 452
15.       Ibid., tr. 452 – 454
16.      Thành Phương, Ơn Cứu Chuộc Nơi Người Chan Chứa, Hợp tuyển thần học số 30 – 12/2002.
17.    (nguồn Http://www.daminhvn.net)
18.       x. Lm. GB. Nguyễn Khắc Bá, Op. cit., tr. 453
19.       Ibid., tr. 453
20.    x. Lm. Giuse Phan Tấn Thành, Thập Giá Trong Thần Học Cổ Điển, (nguồn: Http://www.daminhvn.net)
21.       x. Lm. GB. Nguyễn Khắc Bá, Op. cit., tr. 455.
22.       Ibid., tr. 455.
23.       Ibid., tr. 456.

© 2011 Đại Chủng viện Vinh Thanh · Subscribe:PostsComments · Designed by Theme Junkie · Powered by WordPress