Subscribe:Posts Comments

You Are Here: Home » Kinh Thánh, Lời Chúa theo ngày, SUY NIỆM, Suy niệm Tin Mừng Chúa nhật, THƯ VIỆN » Học Hỏi Tin Mừng Chúa Nhật: Chúa Nhật Lễ Lá, Năm B

Các Bài Suy Niệm & Chú Giải
Tin Mừng  Chúa Nhật Lễ Lá,
Năm B

Lời Chúa: Mc 11, 1-10; Is 50, 4-7; Pl 2, 6-11; Mc 14,1 – 15,47

MỤC LỤC

1. Vua Bình An – Mc 11,1-10. 2

2. Lễ lá. 4

3. Ông này là ai vậy?. 7

4. Xin đừng theo ý con (Mc 11, 1-10). 10

5. Vâng lời cách sáng suốt và tự nhiên. 13

6. Con đường vinh quang và thập giá – Lm Đan Vinh. 16

7. Baraba và Đức Giêsu. 19

8. Suy niệm của Noel Quesson. 23

9. Những bất ngờ. 25

10. Lễ lá. 27

11. Cuộc Thương Khó. 29

12. Cuộc Thương Khó. 31

13. Hoan hô- Đả đảo. 34

14. Suy Niệm của JKN. 37

15. Ơn cứu chuộc. 42

16. Thánh giá. 46

17. Trung thành với lời tung hô. 48

18. Cuộc khổ nạn. 50

19. Tội lỗi của ta. 53

20. Thái độ. 55

21. Vào thành. 57

22. Tin tưởng hay thất vọng – Lm. Minh Nhiên. 61

23. Con Đường Tình Yêu – Lm. Kiều Công Tùng. 63

24. Chú giải của Noel Quesson. 67

25. Chú giải mục vụ của Jacques Hervieux. 74

26. Chú giải của Fiches Dominicales. 85

27. Gợi ý bài giảng của Giáo Hoàng Học Viện Đà Lạt 91

 * Dowload các bài Suy niệm và Chú giải Tin Mừng Lễ Lá, Năm B (74)

 

1. Vua Bình An – Mc 11,1-10.

Đâu là mục đích của việc Chúa vào thành Giêrusalem một cách long trọng trong ngày hôm nay?

Mục đích thứ nhất là để ứng nghiệm lời tiên tri đã nói trước trong Cựu Ước. Thực vậy như nhiều lần chúng ta đã tìm hiểu, Cựu Ước là hình bóng, còn Tân Ước là thực tại. Cựu Ước thì chuẩn bị, còn Tân Ước thì thực hành. Tất cả dòng lịch sử của Cựu Ước đều hướng tới cao điểm, đó là Đức Kitô. Tất cả mọi sự việc trong cuộc đời của Ngài từ lúc sinh ra cho đến khi chết và sống lại đều đã được Cựu Ước tiên báo và đã xảy ra rất phù hợp với lời Kinh Thánh. Điều đó chứng tỏ Ngài thực là Con Thiên Chúa, là Đấng phải đến để cứu độ nhân loại. Hôm nay khi nhìn thấy Chúa long trọng tiến vào thành, chúng ta không khỏi nhớ đến lời tiên tri Giacaria đã nói: Hỡi thiếu nữ Sion hãyvui mừng vì này Vua ngươi đến với ngươi, Ngài hiền từ và khiêm hạ, cỡi trên lưng lừa con.

 Mục đích thứ hai là để chúng ta thấy Ngài là Đấng Cứu thế. Thực vậy, việc Chúa đi vào thành là một việc nguy hiểm vì đi vào chỗ chết. Ngài biết rõ giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái đang căm thù Ngài, muốn hãm hại và tiêu diệt Ngài, nhưng Ngài vẫn cứ đi. Dân chúng thì tung hô tán tụng Ngài. Thái độ này càng làm cho bọn biện phái phẫn uất, họ đã thưa cùng Chúa Giêsu: Xin Thầy bảo dân chúng im đi. Nhưng Chúa chỉ trả lời: Nếu họ im đi thì đất đá sẽ lên tiếng. Chúa công khai chấp nhận lời dân chúng chúc tụng, và bằng lòng với những lời chúc tụng ấy.

 Sau cùng, mục đích thứ ba là để chúng ta nhận ra Ngài là một vị vua hoà bình. Trên đường vào thành thánh, dân chúng trải áo, cầm lành lá trong tay và tung hô Chúa Giêsu là Con Vua Đavít. Họ dành cho Chúa một nghi lễ đón rước như cho một vị vua của họ. Nhiều lần họ muốn tôn Ngài lên làm vua. Hôm nay họ được dịp làm việc đó. Nhưng trong thâm tâm, họ chỉ nghĩ đến một vị vua trong phạm vi xã hội và chính trị, đến để giải phóng dân tộc Do Thái khỏi ách nô lệ của đế quốc Lamã.

 Thế nhưng Chúa Giêsu cho thấy điều quan trọng hơn hết, đó là Ngài làm vua trong cõi lòng của họ và muốn chiếm hữu tâm hồn của họ. Hiệu quả mà Ngài đem đến, đó là sự bình an. Chúa cưỡi trên lưng lừa, đó là dấu chỉ của vua hoà bình. Cả cuộc đời trần thế của Chúa đã chứng minh điều ấy. Thay vì bạo động, Ngài đã dùng phương pháp tốt đẹp nhất đó là tình yêu nhân từ của Ngài. Sức mạnh vũ khí của người Do Thái đã không quật ngã được Lamã, trái lại đã khiến họ bị huỷ diệt và đền thờ Giêrusalem bị tàn phá vào năm 70. Nhưng Chúa Giêsu đã đến với họ và chỉ sau mấy mươi năm đã cảm hoá, để rồi Tin Mừng được rao giảng trên toàn lãnh thổ Lamã. Đế quốc Lamã bị tan rã không phải vì sức mạnh của binh đội, nhưng chính vì đạo đức của họ đã bị suy đồi, và không chòn nữa. Đúng như lời Napoléon đã nói: Alexandre, César và cả ta nữa, đã dựng nên nhiều đế quốc bằng vũ lực. Nhưng những đế quốc đó ngày nay không còn nữa. Còn Chúa Giêsu, Ngài đã thiết lập vương quốc Ngài trong tình thương, và ngày nay, vương quốc đó vẫn lớn mạnh. Hằng triệu người vẫn sẵn sàng chịu chết vì Ngài.

 Đức Kitô là Đấng cứu thế, là Vua hoà bình. Ngày hôm nay, Ngài muốn chúng ta tuyên xưng lại hai danh hiệu ấy. Hãy mở rộng cửa tâm hồn để đón mừng Ngài ngự đến.

________________

2. Lễ lá.

Tại một ngôi nhà thờ nọ ở Tây Ban Nha có một cây thập giá được rất nhiều người tôn sùng. Đó là tượng chịu nạn tha tội: Chúa Giêsu bị đóng đinh tay trái, còn tay phải của Ngài thì thõng xuống.

 Truyền thuyết kể lại: Có một người tội lỗi tìm đến với cha xứ. Tuy ông đã xưng thú mọi tội lỗi với lòng sám hối, nhưng cha xứ lưỡng lự không biết có nên tha cho ông hay không, vì thấy ông phạm quá nhiều tội. Sau cùng, cha nghiêm giọng nói:

-      Tôi ban bí tích Giải tội cho ông, nhưng trong tương lai ông phải cố gắng sửa mình.

 Ông hứa với cha xứ, nhưng vì yếu đuối ông lại sa ngã và một thời gian sau lại tìm đến tòa cáo giải. Lần này thì cha xứ nói với ông bằng một giọng nghiêm khắc:

-      Tôi ban bí tích Giải tội cho ông lần này là lần cuối cùng đấy. Ông đã nghe thấy chưa.

 Vài tháng trôi qua và ông lại đến quỳ dưới chân cha xứ và năn nỉ:

-      Con thực lòng ăn năn, xin cha tha tội cho con một lần nữa.

 Cha xứ đáp:

-      Đừng đùa giỡn với Chúa. Tôi không ban bí tích Giải tội cho ông nữa đâu.

 Khi nói thế, cha bỗng nghe thấy có tiếng nấc nghẹn ngào. Rồi từ trên thập giá, cánh tay phải của Chúa từ từ hạ xuống và ban phép giải tội cho người tín hữu thành tâm sám hối. Và Ngài nói với vị linh mục:

- Chính Ta đổ máu ra để cứu chuộc ông ấy chứ không phải là con.

 Và cũng từ ngày đó, cánh tay phải của Chúa thõng xuống trong tư thế ban phép tha tội.

 Chính Ta đã đổ máu ra để cứu chuộc con. Lời ấy chính Chúa Giêsu muốn nói với mỗi người chúng ta trong tuần thánh này. Thực vậy, Chúa Giêsu đã tự đồng hóa mình với người tôi tớ đau khổ của Đức Giavê. Thập giá trước mắt người đời là dấu chỉ của tủi nhục và thất bại, là hình phạt được dành cho bọn nô lệ và phản loạn. Thế nhưng, Thiên Chúa đã biến đổi nó thành dấu chỉ của tình thương, của ơn cứu độ và của sự tha thứ. Khi tuyệt đối trung thành với thánh ý Chúa Cha bằng cách chấp nhận thập giá, như lời thánh Phaolô đã viết:

-      Đức Kitô đã vâng phục cho đến chết và chết trên thập giá.

 Ngài đã dạy cho chúng ta biết ý nghĩa và giá trị cứu độ của đau khổ. Con đường Đức Kitô đã đi qua là con đường của đau khổ, của thập giá, của khiêm nhu, của thất bại, con đường ấy không đưa chúng ta vào ngõ cụt, nhưng dẫn chúng ta tới vinh quang phục sinh.

 Là người môn đệ của Chúa, chúng ta cũng không có một con đường nào khác ngoài con đường thập giá, tức là chấp nhận những khổ đau trong cuộc sống như lời Ngài đã phán:

-      Ai muốn theo Ta phải từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta.Mỗi khổ đau, mỗi hy sinh chúng ta vui lòng chịu vì lòng yêu mến Chúa sẽ là một góp phần nhỏ bé vào thập giá Đức Kitô để đền bù tội lỗi, cũng như để thu tích công nghiệp cho chính bản thân của mình. Và như thế, đau thương là đường lên ánh sáng, gian khổ là đường về vinh quang và thập giá là đường dẫn tới vinh quang phục sinh.

 ______________________

3. Ông này là ai vậy?

(Trích trong ‘Manna’)

Suy Niệm

Từ trước tới nay, chưa một lần nào Đức Giêsu tìm cho mình chút vinh quang trần thế. Còn bây giờ, khi cái chết đã gần kề, Ngài chấp nhận sự tán tụng của đám đông, và chính Ngài cũng muốn ngồi trên lưng một con lừa để khiêm tốn tiến vào thành thánh.

 Nhiều người trải áo hay chặt cành cây rải trên lối đi. Tiếng hò reo vang dậy. Người ta tung hô Ngài là Đấng Mêsia, là Con vua Đavít.

 Quả thật Ngài là Vua Mêsia, nhưng rồi đây người ta sẽ biết cách làm vua của Ngài: qua đau khổ và cái chết ô nhục trên thập giá.

 Lễ Lá là một lễ vui, nhưng lại đượm buồn. Ta được nghe bài thương khó trong thánh lễ.

 Tuần thánh đã bắt đầu. Đức Giêsu bước vào những ngày cuối đời.

Rước lá đi theo Ngài trong vài giờ là điều dễ. Theo Ngài giữa lúc Ngài được tung hô, chẳng khó gì.

 Nhưng tiếp tục theo Ngài và ở lại khi Ngài bị mọi người bỏ rơi, điều đó khó hơn nhiều.

Chúng ta thường cảm thấy mệt khi nghe đọc bài Thương Khó.

 Nếu chúng ta dành thì giờ để suy niệm về cuộc khổ nạn, ta sẽ thấy lời nói và thái độ của Đức Giêsu có sức nâng đỡ và biến đổi ta, giúp ta đón nhận mọi gai góc của cuộc sống.

 Cần cảm nghiệm những đau noun trên thân xác Chúa, nhưng đừng quên những nỗi đau sâu kín của trái tim Ngài, và nhất là đừng quên nhận ra một Tình Yêu, Tình Yêu vô cùng lớn đối với Cha và nhân loại. Chỉ Tình Yêu mới làm cho khổ đau sinh trái.

 Con Thiên Chúa không xa lạ với khổ đau của phận người. Ngài biết thế nào là bị vu khống, bất công, phản bội, thế nào là bị nhục nhã, sợ hãi, cô đơn và giết chết.

 Ngài không phân tích mầu nhiệm đau khổ, nhưng Ngài đón lấy đau khổ với rất nhiều tình yêu, và lập tức nó có ý nghĩa.

 Bạn có thể thấy mình giống Giuđa, Phêrô hay Philatô.

Chẳng ai vô tội trước cái chết của Con Thiên Chúa.

Hãy đi với Đức Giêsu qua từng chặng đường, từ Vườn Dầu đến tận Núi Sọ.

 Đừng theo Chúa như một người lạ quay video cho đám tang, bởi lẽ mọi sự Ngài chịu là vì bạn và cho bạn.

 Sau khi đã thấm nhuần cuộc Khổ Nạn, bạn sẽ thấy mình yêu thánh giá của Chúa hơn, mến thánh giá của mình hơn, và kính trọng thánh giá của người khác hơn.

 Gợi Ý Chia Sẻ

  • Bạn hãy đọc chương 26 và 27 của Tin Mừng thánh Matthêu. Điều gì đánh động bạn hơn cả khi nhìn ngắm Đức Giêsu?
  • Theo ý bạn, Đức Giêsu có thể tránh né cái chết được không? Tại sao Ngài tự nguyện đón nhận cái chết thập giá?

 Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con dám hành động theo những đòi hỏi khắt khe nhất của Chúa.

 Xin dạy con biết theo Chúa vô điều kiện, vì xác tín rằng Chúa ngàn lần khôn ngoan hơn con, Chúa ngàn lần quảng đại hơn con, và Chúa yêu con hơn cả chính con yêu con.

 Lạy Chúa Giêsu trên thập giá, xin cho con dám liều theo Chúa mà không tính toán thiệt hơn, anh hùng vượt trên mọi nỗi sợ, can đảm lướt thắng sự yếu đuối của quả tim, và ném mình trọn vẹn cho sự quan phòng của Chúa.

 Ước gì khi dâng lên Chúa những hy sinh làm cho con tim con rướm máu, con cảm nghiệm được niềm vui bất diệt của người một lòng theo Chúa.

_________________

4. Xin đừng theo ý con (Mc 11, 1-10).

Suy Niệm

Chúa Nhật Lễ Lá là một lễ vui, nhưng cũng là ngày tưởng niệm cuộc khổ nạn của Chúa. Chúng ta chứng kiến hai đám rước trái ngược nhau.

 Trong ngày Lễ Lá, Đức Giêsu được đón rước vào thành, giữa tiếng hò reo vang dậy. Ngài như vị Vua Mêsia lẫm liệt trên lưng lừa, đi trên con đường của những nhành cây xanh mới chặt. Sau đó ít ngày là đám rước lên núi Sọ. Không có tiếng tung hô, chỉ có lời kết án. Không có những nhành cây, chỉ có cây thập giá.

 Ngày xưa, có ai tham dự cả hai đám rước đó không?

Chúng ta thường mệt mỏi khi nghe bài Thương Khó, và thấy mình dửng dưng, xa lạ, bàng quan. Thật ra nỗi khổ đau và cái chết của Chúa là vì tôi, vì yêu mến tôi (x. Gl 2,20). Cần nghe đọc bài Thương Khó một cách chậm rãi, và bước theo Chúa qua từng chặng đường. Hãy ở lại với Chúa trong lúc khó khăn này. Cần cảm nghiệm được nỗi cô đơn của Chúa.

 Ba môn đệ thân tín đã bỏ rơi Ngài. Họ ngủ say để mặc Ngài một mình khắc khoải. Giuđa chỉ điểm bắt Ngài bằng một nụ hôn. Các môn đệ sợ hãi bỏ Ngài mà chạy trốn. Phêrô thề là không hề quen biết Ngài. Đức Giêsu cô đơn trước đám đông cuồng nộ. Họ bị kích động đòi đóng đinh Ngài. Họ coi Ngài còn thua Baraba là tên phiến loạn. Không rõ đám đông Ngài đã nuôi ăn, nay ở đâu?

 Đức Giêsu đã đi đến tột cùng của nỗi cô đơn khi Ngài cảm thấy chính Cha cũng vắng bóng: Lạy Thiên Chúa tôi, tại sao Ngài bỏ tôi?

 Cần cảm nghiệm nỗi đau trên thân xác Chúa.

Khuôn mặt ngời sáng của Con Thiên Chúa làm người nay bị khạc nhổ, bị tát, bị đánh túi bụi. Đôi mắt với cái nhìn bao dung ấy nay bị bịt lại để làm một trò chơi trẻ con. Tấm thân đã gánh lấy nỗi đau của bao người giờ đây được phơi ra cho những trận roi cầy nát. Đôi bàn tay đã chữa bệnh và chúc lành, nay co quắp và bầm tím vì những mũi đinh. Đôi bàn chân từng rong ruổi khắp nẻo đường truyền giáo, nay không đủ sức nâng cả thân mình đang trĩu nặng.

 Cần cảm nghiệm nỗi ô nhục của Chúa.

Danh dự và phẩm giá vẫn là điều đáng trọng. Đức Giêsu bị bắt làm hề, đóng vai Vua dân Do Thái, được mặc cẩm bào, được đội triều thiên, được cầm vương trượng. Có vị vua nào được bái lạy như vị vua này không? Đức Giêsu bị lột áo trước khi bị đóng đinh. Con Thiên Chúa đỏ mặt trước cái nhìn của thế giới!

 Cuộc thương khó của Chúa vẫn kéo dài đến tận thế.

Thập giá của Chúa, của tôi, của anh em tôi, là một.

Chúa mời tôi vác thập giá của mình theo Chúa hàng ngày, và giúp tha nhân vác thập giá của họ.

Ước gì thế giới có thật nhiều Simon Kyrênê.

 Gợi Ý Chia Sẻ

  • Đức Giêsu khổ đau như bao người trên mặt đất: bị xét xử bất công, bị áp bức và hãm hại. Hôm nay, bạn có thấy những người đang vác thập giá với Chúa trên khắp thế giới không? Họ là ai?
  • Bạn có nhận ra thập giá của một người trong gia đình, trong nhóm, trong môi trường sống của bạn không? Bạn đã làm gì để giúp họ trong mùa Chay này?

 Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu,

Vì Chúa đã bẻ tấm bánh trao cho chúng con, xin cho những người nghèo khổ được no đủ.

Vì Chúa đã xao xuyến trong Vườn Dầu, xin cho các bạn trẻ đủ sức đối diện với những khó khăn gay gắt của cuộc sống.

Vì Chúa bị kết án bất công, xin cho chúng con can đảm bênh vực sự thật.

Vì Chúa bị làm nhục và nhạo báng, xin cho phụ nữ và trẻ em được tôn trọng.

Vì Chúa chịu vác thập giá nặng nề, xin cho những người bệnh tật được đỡ nâng.

Vì Chúa bị lột áo và đóng đinh, xin cho sự hiền hoà thắng được bạo lực.

Vì Chúa dang tay chết trên thập giá, xin cho đất nối lại với trời, con người nối lại mối dây liên đới với nhau.

Vì Chúa đã phục sinh trong niềm vui oà vỡ, xin cho chúng con biết đón lấy đời thường với tâm hồn thanh thản bình an. Amen.

__________________

5. Vâng lời cách sáng suốt và tự nhiên.

(Trích trong ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’)

Việc phối trí những đoạn ký sự khác nhau trong bốn bộ Phúc Âm nêu ra những vấn đề không thể đề cập ở đây. Các thánh chép sử trước hết không chú ý viết tiểu sử Đức Giêsu và thuật lại theo lối viết sử biến cố đã xảy ra ở Pa-lét-xti-na. Các ông chỉ muốn là những nhân chứng. Các ông làm chứng cho lòng tin của mình vào Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, đã chết và sống lại, Đấng Cứu Tinh. Những sự kiện do các ông thuật lại cho dù có chính xác đến đâu, bố cục hợp lý đến đâu, điều đó đối với các ông không quan trọng lắm. Vì thế, tuy cùng đặt cơ sở trên 1 nền chung không thể chối cãi, mỗi thiên ký sự lại mang những mầu sắc khác nhau cho thấy vẻ độc đáo trong cung điệu mỗi thánh chép sử làm chứng cho niềm tin của mình. Chúng ta cần nhớ thế khi muốn so sánh những ký sự nói về cuộc Thương Khó.

Đoạn văn suy niệm hôm nay cho thấy những nét nổi bật sau:

 1) Ngay phần đầu, thánh Maccô thuật lại mấy sự kiện cốt nhấn mạnh vào sự vâng lời cách tự nguyện và sáng suốt của Chúa Giêsu dấn thân vào cuộc Khổ nạn của Người.

Chúa biết Chúa đi về đâu. Chúa nói ra điều đó trong dịp người phụ nữ đập vỡ bình bạch ngọc và đổ dầu thơm trong bình lên đầu Người. Trước khi xảy ra, bà đã lấy thuốc thơm ướp xác Ta, chờ khi liệm táng. Chúa biết rằng ngày hôm sau Chúa sẽ chết.

 Sự quyết tâm của Chúa không phải là việc dễ làm. Vâng lời Cha là tự chinh phục bản thân. Chúa trải qua một cơn hấp hối trong vườn Ghetsêmani, cuối cơn khắc khoải Người nói một lời ngắn và dứt khoát: Thế là xong, có nghĩa là Người đã quyết rồi, giao kết xong rồi, ưng thuận rồi.

 Chúa lưu ý những kẻ đến bắt Chúa rằng nếu Người muốn, Người có thể vô hiệu hóa bọn chúng những đã từng làm trong bao lần giảng dạy ở Đền thờ và những nơi khác. Chúa nhấn mạnh, Người để chúng bắt giữ chỉ vì Người đã làm theo ý Thiên Chúa như loan báo trong Kinh Thánh. Đoạn Phúc Âm tiếp đó đưa ra những ví dụ khác được thánh Maccô nêu lên và làm chứng, đó là sự vâng lời tự nguyện của Chúa.

 2) Thánh chép sử lưu ý chúng ta đến sự cô đơn của Chúa Giêsu. Người bị cô lập, bị tách rời dân chúng. Mấy ngày trước đây, chính dân đó đã hoan hô Người. Những thày tư tế và ký lục chuẫn bị chọn giờ hành động và sắp đặt thời gian để vận động quần chúng. Quần chúng dễ thay lòng đổi ý (cái gọi là “dư luận” được uốn nắn do những nhà kỹ thuật về khoa điều khiển dân ý, dân tình). Dân chúng đã bỏ Chúa.

 Trong cơn hấp hối, Chúa cô đơn. Hơn ai hết, Chúa biết rõ các môn đệ Người là những kẻ bất lực chẳng thể đem đến một sự giúp đỡ nào cho Người, nhưng dù sao nếu có họ lúc đó thì cũng là một niềm an ủi. Thế mà họ ngủ.

 Chúa chỉ có một mình trong khi dấn thân. Lúc Chúa dấn thân bằng cách nộp mình cho toán quân dữ đến bắt Người, các môn đệ có 1 dịp hành động theo lời cam kết của Phêrô mà tất cả các ông đã tán đồng: Dù có phải chết vì Thày, con sẽ chẳng bỏ Thày. Ấy vậy mà, theo thánh Maccô ghi lại, họ bỏ Chúa, tất cả trốn hết.

 Chúa một mình giữa pháp đình. Không một ai dám tới làm chứng gỡ tội cho Người. Chúa Giêsu đã muốn biết thế nào là nỗi chua xót đắng cay của tình bạn khi mà 1 người “bạn” vì sợ hay vì tư lợi không muốn bị liên can, không muốn bị “dính”, để bỏ rơi Người mà lẽ ra y phải cứu giúp.

 Chúa một mình trên thập giá. Cả những kẻ trộm cướp cũng thóa mạ Chúa (tuy rằng sau đó một kẻ trong bọn này sẽ ăn năn trở lại). Một nỗi cô đơn tột bực: Chúa ơi, Chúa ơi, sao Chúa bỏ con?

 Sự vâng lời tự nguyện của Chúa, một sự vâng lời thuần khiết và cô đơn, có lẽ đấy là phương thế Chúa Giêsu dùng để sống cách thấm thía tấn bi kịch của số mệnh chúng ta.

_______________

6. Con đường vinh quang và thập giá –

Lm Đan Vinh.

Tuần thánh bắt đầu bằng Chúa Nhật Lễ Lá: Phụng vụ hôm nay gồm hai phần vui buồn đan xen vào nhau: Trong phần đầu lễ chúng ta cùng nhau rước Chúa Giêsu khải hòan vào thành Giêrusalem (x Mc 11,1-10). Phần thứ hai là thánh lễ với bài Thương Khó (x Mc 14,1-15,47). Từ đó chúng ta cùng rút ra bài học sống đức tin thế nào trong những hòan cảnh vui buồn trong cuộc sống

 1. Con đường khải hoàn vào thành Giêrusalem:

Trong giờ phút này, chúng ta hãy chiêm ngắm cảnh tượng Đức Giêsu đang long trọng tiến vào thành Giêrusalem. Ngài khiêm tốn ngồi trên lưng lừa con. Có nhiều người trải áo và rải cành cây trên lối Ngài đi để tỏ lòng tôn kính. Những tiếng reo hò vang dậy: Người ta tung hô Đức Giêsu là Đấng Mêsia, là Vua thuộc dòng dõi Đavid, là Đấng sẽ đến để giải phóng Israel. Đức Giêsu im lặng để dân chúng tung hô hầu ứng nghiệm lời tuyên sấm: “Hãy bảo thiếu nữ Xion: Kìa Đức Vua của người đang đến với ngươi, hiền hậu ngồi trên lưng lừa, lưng lừa con, là con của một con vật chở đồ” (Dcr 9,9).

 2. Con đường thập giá: qua đau khổ vào vinh quang:

Sau những giây phút tưng bừng náo nhiệt này, chúng ta được nghe bài thương khó: Chúa Giêsu hoàn tất mầu nhiệm Vượt Qua, hầu mang lại ơn cứu độ cho loài người. Quả thực, Ngài là Vua, nhưng là Vua Mục Tử: “Đến không đòi được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người”. Ngài đã chọn con đường cứu thế theo thánh ý Chúa Cha là “qua đau khổ vào trong vinh quang”, qua cuộc Tử Nạn để bước vào mầu nhiệm Phục Sinh.

 3. Con đường sống đức tin hôm nay:

Từ hai biến cố trên, mỗi chúng ta phải sống đức tin thế nào trong cuộc sống đời thường?:

- Không ai vô tội: Một trong những bức tranh nổi tiếng nhất của hoạ sĩ Rembrandt thế kỷ 17, là bức họa “Ba Cây Thập Tự”. Khi chiêm ngưỡng tác phẩm này, hầu như ai cũng đều bị thu hút nhìn vào trung tâm của bức tranh: Ở giữa hai cây thập giá của hai kẻ bất lương, thập giá của Đức Giêsu vượt lên cao hơn. Dưới chân thập giá của Chúa là cả một rừng người, trên mặt ai nấy đều lộ vẻ căm  thù oán hận, trong đó có cả khuôn mặt của nhà danh họa tác giả bức tranh … Qua đó ông muốn nói rằng: Mọi người chúng ta không ai là không dính líu vào tội đã đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá.

 - Phải luôn tự kiểm: Mỗi người chúng ta hãy tự kiểm điểm: Nếu có mặt trong thời điểm xảy ra cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu hôm đó, tôi có vác đỡ thập giá cho Chúa như ông Simon Kyrênê đã làm không? Có biểu lộ đức tin và lòng sám hối như người trộm lành trên cây thập giá không? Có can đảm đứng dưới chân thập giá để nhận những lời trăn trối cuối cùng của Chúa như Mẹ Maria và môn đệ Gioan… hay không? Chúng ta cũng đừng nghĩ rằng mình sẽ không chối Thầy như Phêrô, hoặc không hèn nhát trốn chạy như các môn đệ, hay không bán Thầy như Giuđa, hoặc không kết án bất công như Philatô, không hùa theo kẻ mạnh để đàn áp bắt nạt người tấp cổ bé miệng như đám đông dân chúng, không đánh đòn và đóng đinh tay chân Chúa Giêsu vào thập giá như bọn lính hung ác…

- Điều kiện theo Chúa: Đã hơn 2000 năm qua đi, tất cả những gì xảy ra thời Đức Giêsu vẫn còn tiếp diễn. Mỗi người chúng ta cũng được Đức Giêsu mời theo Ngài: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, váv thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9, 23). Vác thập giá hôm nay chính là đ1on nhận những sự thử thách như bệnh tật, thất bại gặp phải, những lời nói nhục mẠ bất công… Đó là những thập giá do Chúa cho xảy đến để thử thách đức tin của ta và khích lệ ta theo Chúa đến cùng

 - Làm gì trong cuộc sống hôm nay?: Trong tuần Thánh, chúng ta hãy năng tham dự các lễ nghi Tuần Thánh tại Nhà thờ để có dịp chiêm ngắm cuộc thương khó của Chúa hầu gia tăng lòng tin yêu để luôn chọn đi theo con đường của Chúa: Con đường hẹp và leo dốc, con đường khiêm nhu dấn thân và phục vụ tha nhân. Con đường này sẽ dẫn chúng ta về tới thành thánh Giêrusalem trên trời.

 Lạy Chúa Giêsu, xin dạy con biết luôn tin cậy bước đi theo Chúa, vì xác tín rằng Chúa ngàn lần khôn ngoan và ngàn lần quảng đại hơn con. Xin cho con luôn dấn thân theo Chúa mà không tính toán thiệt hơn, vượt qua mọi nỗi sợ hãi, can đảm lướt thắng những yếu đuối, và biết phó thác trọn vẹn vào tình thương của Chúa. Ước gì khi gặp phải những đau khổ thử thách, chúng con sẽ cảm nghiệm được tình Chúa thương con và trung thành bước theo con đường của Chúa đến cùng.- Amen.

________________

7. Baraba và Đức Giêsu.

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)

Văn sĩ Fabran Lagerkvist của Thụy Điển đã đoạt giải Nobel văn chương năm 1966 nhờ quyển tiểu thuyết nổi tiếng có tựa đề là “Baraba”. Baraba là một tên cướp được nhắc đến trong vụ án của Chúa Giêsu. Theo các sách Tin Mừng kể lại: Baraba là một tên cướp khét tiếng đã phạm nhiều tội ác và sa lưới pháp luật. Hằng năm vào những ngày lễ lớn, quan Tổng trấn đại diện cho Đế quốc Rôma tại Palestina có thói quen ân xá cho một tội nhân. Năm đó, Tổng trấn Philatô đã đưa Chúa Giêsu và Baraba ra trước mặt dân chúng và hỏi họ nên tha cho ai. Toàn dân đã la lớn: tha cho Baraba và đóng đinh Chúa Giêsu.

 Dựa vào sự kiện lịch sử này, văn sĩ Lagerkvist đã tưởng tượng ra quãng đời còn lại của Baraba. Baraba đã trở nên một con người quyền thế được mọi người biết đến. Baraba có được tất cả, bởi vì chính Chúa Giêsu đã chết thay cho ông. Thế nhưng ông không hề muốn nhắc đến Chúa Giêsu và cũng không muốn biết Ngài là ai.

 Lý do khiến văn sĩ Lagerkvist được trao giải Nobel văn chương là vì qua nhân vật Baraba, ông đã họa được chân dung đích thực của con người. Baraba chính là con người được cứu độ nhờ Chúa Giêsu, nhưng vẫn không hiểu lý do tại sao. Con người ngày nay không tin vào Chúa Kitô và nhất là muốn loại bỏ Ngài ra khỏi con người thời đại. Với những tiến bộ vượt bực trong khoa học kỹ thuật, con người chẳng khác nào một thứ Baraba trong tác phẩm của Lagerkvist: con người tưởng mình là Đấng cứu độ của chính mình, con người tưởng mình có thể loại bỏ mọi chiều kích siêu việt của cuộc sống, con người tưởng mình có thể sống mà không cần một Đấng cứu độ nào.

 Thưa anh chị em,

Dưới cái nhìn lịch sử thì quả thực cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá là hành động tội ác của những người Do Thái và La Mã cách đây hai ngàn năm. Những người Do Thái đã cuồng tín kêu gào đóng đinh Chúa Giêsu vào thập giá. Các binh sĩ La Mã đã đánh đập, hành hung Ngài và cuối cùng treo Ngài trên thập giá.

 Nhưng dưới cái nhìn của người có niềm tin, thì cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá là một mầu nhiệm. Mầu nhiệm bởi vì một cách nào đó, người có niềm tin cũng cảm thấy mình đã thực sự tham dự vào việc đóng đinh ấy. Chúng ta tuyên xưng rằng Ngài đã chịu đóng đinh vì chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, nghĩa là do chính tội lỗi của chúng ta ngày nay, cho dù cách xa hai ngàn năm, vẫn là một chối bỏ, một tiếng reo hò, một sỉ vả hoặc chính là một cái đinh đóng vào thân thể Chúa Giêsu.

 Thử hỏi nếu tôi là người đương thời có liên quan đến vụ án Chúa Giêsu, tôi sẽ đứng trong nhóm người nào và với thái độ nào? Phải thú nhận rằng tôi không dễ gì làm được như ông Simon thành Syrênê đã vác thập giá đỡ Chúa Giêsu. Nhưng cũng đừng vội vã quả quyết rằng tôi không thể đứng về phía đám quần chúng đả đảo Chúa, không thể là Phêrô chối Chúa, hoặc là nhóm môn đệ trốn chạy, hay là Philatô lên án người vô tội, hoặc là đám quân lính đánh đòn và đóng đinh Chúa. Trái lại, kinh nghiệm bản thân tôi cho thấy rõ ràng tôi rất yếu đuối, dễ dàng về phe kẻ mạnh thế, không dám can đảm bênh vực công lý và dễ dàng trung thành với Chúa trên môi miệng cũng như khi mọi sự đều xuôi chảy, nhưng lại phản bội Chúa dễ dàng trong hành động cụ thể và khi gặp nghịch cảnh.

 Anh chị em thân mến,

Với Chúa Nhật hôm nay, Tuần Thánh đã bắt đầu. Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem để hoàn tất mầu nhiệm Vượt Qua đem lại ơn cứu độ cho loài người. Bề ngoài, cuộc tiến vào thủ đô Giêrusalem giữa tiếng tung hô của đám đông nô nức phất cao càch lá “Hoan hô con Vua Đavít” có vẻ một cuộc toàn thắngvang dội. Thực ra đây là một cuộc mở màn thương khó mỉa mai nhất và có lẽ cũng là giai đoạn bi thương nhất của cuộc thương khó. Bởi vì chúa biết rõ trong niềm phấn khởi chóng qua của dân chúng đã chất chứa một sức phản bội sẽ bùng nổ dữ dội trước mặt Tổng trấn Philatô, trong tiếng kêu gào với những bàn tay nắm chặt đưa lên: “Đả đảo! Đóng đinh nó đi! Đóng đinh nó vào thập giá!”

 Rước là đi theo Chúa Giêsu trong vài giờ không phải là một điều khó khăn cho lắm. Đi theo Chuá giữa lúc Ngài được tung hô chúc tụng là điều dễ dàng. Nhưng tiếp tục đi theo Ngài khi Ngài đã bị mọi người bỏ rời và lên án, điều đó khó hơn nhiều. Tin Mừng không thấy nói đến một ai dám lên tiếng bênh vực cho Chúa Giêsu vào lúc đó, mà chỉ thấy lên tiếng đòi phóng thích cho tên đạo tặc Baraba. nếu kitô hữu được định nghĩa là người đi theo Chúa kitô thì chắc chắn chúng ta sẽ có lúc nghiệm thấy nỗi khó khăn khi phải đến nơi mà mình không muốn đến. Con đường bước theo Chúa có lúc vui, lúc buốn. Chúng ta phải có mặt ở trong đám đông hoan hô Chúa khi vào thành và cũng không được vắng mặt khi Ngài hấp hối trên thập giá.

Trong những ngày thánh này, chúng ta hãy tìm thời giờ đọc lại chậm rãi chương 14 và chương 15 của Tin Mừng theo Thánh Marcô. Hãy để cho tâm tình, lời nói và hành động của Chúa Giêsu thấm nhuần và biến đổi chúng ta. Trong cuộc khổ nạn của Chúa, chúng ta bắt gặp rất nhiều tình huống tăm tối của đời thường: vu khống, phản bội, ghen tương, bất công, nhục nhã, đau khổ, sợ hãi, cô đơn, hèn nhát, cái chết. Nhưng trên hết, chúng ta bắt gặp một tình yêu. Tình yêu vô cùng lớn của Chúa Giêsu đối với Chúa Cha và nhân loại. Chỉ có tình yêu mới làm cho mọi khổ đau có giá trị cứu độ.

 Đừng đọc vội vã, hãy ngừng lại khi Chúa có điều muốn nói với chúng ta, đừng ngắt lời Ngài. Chúng ta có thể thấy mình giống với Giuđa, Phêrô hay Philatô. Chúng ta không ai vô tội trước cái chết của Con Thiên Chúa. Ngài vẫn còn hấp hối cho đến tận thế.

 Đừng theo Chúa như một người quay vidéo cho đám tang, bởi lẽ mọi sự Ngài chịu là vì chúng ta và cho chúng ta. Sau khi đã suy niệm lâu dài về cuộc khổ nạn, chúng ta sẽ thấy mình yêu Thánh giá của Chúa hơn, yêu thánh giá của mình hơn và trân trọng thánh giá của người khác hơn.

___________

8. Suy niệm của Noel Quesson.

CUỘC KHỔ NẠN CHÚA GIÊSU

Cái chết của Chúa đã làm đổi thay thế giới, làm xúc động bao tâm hồn và cũng gây cảm hứng cho nhiều văn nghệ sĩ. Bao kiệt tác đã lấy cái chết của Chúa làm chủ đề. Một họa sĩ đã vẽ cảnh tháo đinh, đưa xác Chúa Giêsu xuống khỏi Thập giá. Đặc điểm của bức họa là người trong cảnh đều có khuôn mặt quen thuộc của những người cùng thời với họa sĩ. Và người đang tháo đinh ở Chúa ra chính là họa sĩ. Người ta hỏi họa sĩ về chuyện này, ông cắt nghĩa: Tôi đã từng đóng đinh Chúa vào Thập giá, đinh sắt là tội của tôi. Cần phải tháo gỡ những chiếc đinh tội lỗi ra khỏi thân xác của Chúa.

 Để tháo gỡ chúng ta khỏi quyền lực tội lỗi, Chúa đón nhận tất cả một cách ý thức và chủ động.

 Chẳng những bằng lời nói, Chúa còn chuẩn bị đi vào khổ nạn bằng hành động. Chúa lập phép Thánh Thể, dùng một lối khác diễn tả tình yêu vĩnh cửu Người dành cho nhân thế. Chúa dùng chính thịt máu làm của nuôi chúng ta, đó cũng như nói tình yêu và cái chết của Chúa đem lại sự sống muôn đời cho tâm hồn người ta.

 Chúa Giêsu đi vào cuộc khổ nạn hoàn toàn đơn độc. Cái chết cũng đơn độc, và khi Chúa Giêsu mang thân phận con người, Chúa không muốn thoát khỏi số phận đó. Trong vườn Cây Dầu, Chúa không biết chia sẻ đau buồn với ai. Bao nhiêu âu lo chồng chất mà không ai hiểu, hay an ủi một lời. Chúa để ba môn đệ thân tín gần chỗ Người cầu nguyện, nhưng ba lần Chúa trở lại đều thấy họ ngủ say. Trên thập giá nhìn xuống, Chúa thấy mình hoàn toàn trơ trọi, bên Người chỉ còn Gioan, Mẹ Maria và vài phụ nữ. Chính Thiên Chúa Ngôi Cha như cũng như xa vắng, vì thế Chúa thốt lên lời cầu nguyện như một tiếng than van: “Lạy Chúa, Lạy Chúa, sao Chúa bỏ con!”.

 Chúa Giêsu bị kết tội trước tòa đạo cũng như trước tòa đời. Hội đồng công nghị, cơ quan tối cao của Do Thái giáo kết án Chúa vì đã tự xưng là Con Thiên Chúa. Trong khi Philatô, Tổng trấn đại diện Đế quốc La mã xử Chúa vì đã nhân danh mình là Vua. Còn Chúa Giêsu, thay vì chối bỏ những lời cáo buộc, Người chỉ bình thản quả quyết mình là Con Thiên Chúa và là Vua. Nhưng cả hai danh hiệu này không phải có ý nghĩa như những người tố giác đã hiểu. Chúa là Con Thiên Chúa toàn năng. Người đã từng làm nhiều phép lạ, nhưng không làm gì để tự bảo vệ và thoát khỏi tay địch thù. Chúa không phải vị Vua như mọi người mong chờ. Chúa là Con Thiên Chúa, là Tình yêu tột đỉnh, yêu đến mức sẵn sàng chết vì người khác. Chúa là Vua, Người cai trị mọi tâm hồn bằng tình yêu mà xét xử nhân loại cũng theo luật Tình yêu. Chỉ khi ta nhìn Chúa chết trên thập giá, ta mới hiểu Người đã là Con Thiên Chúa và là Vua như thế nào.

 Lạy Chúa, xin giúp chúng con nhận ra tội lỗi và thật lòng sám hối, chiến thắng tội lỗi là tháo gỡ những mũi đinh chúng con đã đóng vào chân tay Chúa.

____________________

9. Những bất ngờ.

Bài thương khó chúng ta vừa nghe, đã ghi lại một chuỗi những diễn biến thật bất ngờ. Thực vậy, mới chỉ một tuần trước, các vị lãnh đạo tôn giáo còn tỏ ra dè dặt với Chúa Giêsu, thì hôm nay họ ra mặt tố cáo Ngài, đích thân bắt bớ Ngài, công khai xách động quần chúng ghét bỏ Ngài, cương quyết tiêu diệt Ngài.

 Mới ngày nào đông đảo dân chúng đã tràn ra đường để đón rước Ngài, chúc tụng Ngài là Con vua Đavid, thì hôm nay họ kéo nhau vào sân tổng trấn Philatô, hò hét và yêu cầu giết chính Đấng mà họ mới hoan hô. Bây giờ họ coi Ngài xấu xa nguy hiểm còn hơn một tên cướp. Mới chỉ vài giờ trước, mười hai tông đồ đã được rước lễ bởi chính tay Chúa Giêsu, đã được phong chức giám mục bởi chính Trái Tim Ngài, đã được dạy dỗ bởi chính miệng Ngài, bây giờ tất cả đều thay đổi kẻ thì bán Thầy, kẻ thì bỏ Thầy, kẻ thì chối Thầy. Thế nhưng trong cái bối cảnh sụp đổ kinh hoàng ấy, chúng ta thấy xuất hiện những người tốt mới thật bất ngờ.

 Đúng vậy, đâu có ngờ trên quãng đường nặng nhọc, kẻ vác đỡ thập giá cho Chúa Giêsu lại là một người đi qua đường.

Đâu có ngờ trong giây phút đen tối nhất, kẻ tuyên xưng Chúa được Chúa phong thánh và đưa vào thiên đàng lại là một tên trộm bị đóng đanh bên phải Ngài. Đâu có ngờ trong cảnh sụp đổ của niềm tin, kẻ đã chúc tụng Chúa và tin vào sự công chính của Ngài lại là một sĩ quan ngoại đạo đã vâng lệnh đóng đinh Ngài.Đâu có ngờ trong lúc bối rối đầy sợ sệt, kẻ đã ra mặt chôn cất Ngài và dâng cho Ngài ngôi mộ của mình lại là một nghị viện.

Trước đây tất cả những người ấy kể như xa Chúa, nhưng trong hoàn cảnh bi đát nhất của Chúa, họ đã xuất hiện như những người tốt, và đó là một sự xuất hiệt đầy bất ngờ. Tuy nhiên cái bất ngờ nhất đối với chúng ta đó là những lựa chọn của Chúa Giêsu.

 Thực vậy, Ngài có thể tránh khỏi cuộc tử nạn, nhưng Ngài đã tự nạp mình. Ngài có thể lợi dụng dịp may đông đảo quần chúng qui tụ với sự hiện diện của các cấp chính quyền và tôn giáo, để làm một vài phép lạ gây uy tín cho đạo và lấy lại thanh thế cho chính mình, nhưng Ngài đã yên lặng.

 Ngài có thể đổi lòng đám đông đang chống đối Ngài một cách điên cuồng, thành làn sóng người nhiệt thành ủng hộ Ngài, nhưng Ngài cam lòng chịu đựng cô đơn.

 Ngài có thể khiến muôn vàn thiên thần từ trời xuống, để bênh vực Ngài, nhưng Ngài đã để mình bị hành hạ, xỉ vả và kết án. Ngài như kẻ quá yếu, và yếu một cách ngu dại. Ngài như kẻ bị thua và thua một cách đầy nhục nhã. Thế nhưng Ngài thực sự mạnh mẽ khi vượt thắng mọi thử thách đớn đau, để luôn trung thành với tình yêu.

 Dù như bị Chúa Cha bỏ rơi, Ngài vẫn mến yêu cậy tin phó thác và Ngài đã kêu lên: Lạy Cha, Con xin phó thác hồn con ở trong tay Cha. Dù bị bao người hành hạ, xỉ vả, Ngài vẫn yêu thương họ và Ngài đã cầu nguyện: Lạy Cha xin tha cho họ vì họ lầm không biết. Tình yêu của Ngài đã thắng vì tình yêu ấy mạnh hơn sự chết, mạnh hơn tất cả mọi tội lỗi nhân loại và chính Tình yêu ấy đã cứu chuộc loài người.

_________________

10. Lễ lá.

Lắng nghe và suy nghĩ về bài thương khó của Chúa Giêsu, chúng ta hiểu được tình thương của Ngài thật bao la, cũng như hiểu được tội lỗi thật xấu xa, đến nỗi Ngài đã đổ ra cho đến giọt máu cuối cùng, để tẩy sạch dấu vết của nó trong tâm hồn chúng ta. Adong ngày xưa đã vấp phạm vì kiêu căng, muốn trở nên bằng Thiên Chúa. Còn Đức Kitô hôm nay, để cứu chuộc chúng ta Ngài đã hạ mình xuống như lời thánh Phaolô đã viết:

- Phận Ngài là Thiên Chúa, nhưng Ngài đã không đòi cho mình được đồng hàng với Thiên Chúa, Ngài đã hạ mình xuống, mang thân phận tôi đòi, trở nên giống chúng ta, Ngài đã vâng phục cho đến chết và chết trên thập giá.

 Chúa Giêsu không phải chỉ nên giống chúng ta ở dáng bộ bên ngoài, nhưng Ngài đã mặc lấy bản tính nhân loại. Ngài không phải chỉ là một kẻ lạ mặt, đứng bên lề cuộc đời chúng ta. Ngài cũng không phải là một ông cảnh sát lăm le biên phạt những hành động sai trái của chúng ta.

Trái lại, Ngài đã nhập cuộc, Ngài đã tham dự vào kiếp người và cùng đi với chúng ta qua vạn nẻo đường đời. Ngài cũng đã vất vả lao động, chịu đói chịu khát, mệt mỏi vì đường xa, Ngài muốn chia sẻ với chúng ta mọi cảnh huống của cuộc sống, và nhất là Ngài đã chết vì yêu thương chúng ta như lời Ngài đã nói:

- Không ai yêu hơn người hiến mạng sống mình vì bạn hữu.

 Kể từ nay, thập giá không còn là một hình phạt dành cho những kẻ nô lệ và phản loạn, nhưng là một dấu chỉ hùng hồn nhất nói lên tình thương của Chúa.

 Và từ đỉnh cao thập giá, chúng ta hãy nhìn vào những ước vọng thầm kín, cũng như hãy nhìn vào chính con người chúng ta.

 Thực vậy, chúng ta là những kẻ kiêu căng hợm hĩnh, chúng ta không muốn vâng phục, trái lại luôn chống đối quyền bính. Hãy nhìn vào thái độ khiêm nhường của Chúa Giêsu. Chúng ta là những kẻ mải miết chạy theo những vui thú cho thân xác. Hãy nhìn vào thân xác Chúa Giêsu bị đóng đinh vào thập giá giữa những đớn đau phải chịu. Nếu trái tim chúng ta thờ ơ nguội lạnh đối với Thiên Chúa, trong khi đó lại qúa quyến luyến với tiền bạc, với địa vị, với danh vọng hay một tạo vật nào đó. Hãy nhìn vào tình yêu Ngài đã dành cho chúng ta. Chính Ngài đã nói với thánh nữ Angèle de Foligno như thế này:

- Cái chết của Cha, cùng với những khổ đau, không phải là một trò cười.

Chúng ta hãy ngước nhìn lên thập giá và hãy thân thưa với Chúa như lời thánh Phaolô:

- Chúa đã yêu thương tôi và đã nộp mình chịu chết vì tôi, một kẻ tội lỗi đáng thương.

Thực vậy, ngước nhìn thập giá và suy gẫm về tình thương của Chúa, chúng ta sẽ cảm thấy ghê tởm tội lỗi, mong ước được tẩy rửa tâm hồn mình nên trong trắng như tấm áo ngày chịu phép rửa tội.

 Trong Tuần Thánh này, chúng ta hãy kết hiệp những hy sinh của chúng ta vào với những khổ đau của Chúa Giêsu, hầu nhờ đó chúng ta sẽ được nếm thử niềm vui Phục sinh, là niềm vui sẽ không bao giờ bị tàn úa.

______________________

11. Cuộc Thương Khó.

Winston Churchill, cố thủ tướng Anh Quốc, đã chia sẻ kinh nghiệm riêng của ông và cho chúng ta biết rằng sự hoan hô ủng hộ của dân chúng không phải là bằng chứng của sự thành công thực sự. Xưa kia, có một lần sau khi nói chuyện với một cử tọa khoảng 10 ngàn người hiện diện hoan hô thủ tướng, một người bạn đã hỏi: “Thưa thủ tướng, ngài không cảm thấy xúc động vì 10 ngàn người đã đến nghe ngài nói chuyện sao?” Churchill trả lời: “Không hẳn thực sự là như thế. Một trăm ngàn người sẽ đến nhìn khi tôi bị treo lên”.

 Hôm nay Chúa nhật lễ lá, chúng ta bắt đầu Tuần Thương Khó bằng việc cử hành việc Chúa Giêsu tiến vào thành Giêrusalem để hoàn tất mầu nhiệm Vượt Qua của Ngài. Sách Giáo lý Công giáo số 272 đã viết: “Thiên Chúa Cha đã mạc khải sự Toàn năng của Ngài một cách hết sức mầu nhiệm trong sự tự nguyện chịu nhục… nhờ đó Ngài đã chiến thắng sự ác”. Chúa Kitô chịu đóng đinh vào thập giá là “quyền năng của Thiên Chúa và là sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Bởi vì sự điên rồ nơi Thiên Chúa thì khôn ngoan hơn loài người, và sự yếu đuối nơi Thiên Chúa thì mạnh sức hơn loài người”.

 Ngày xưa, có hai anh em nọ sống chung với nhau trong cùng một căn nhà. Người anh tốt lành, siêng năng làm việc và kính sợ Thiên Chúa. Còn người em bất lương, lừa lọc, gian manh, và phạm đủ thứ tội như cướp của, giết người. Người anh khuyên răn mãi mà người em vẫn chẳng thay đổi tính nết. Một đêm nọ người em chạy về nhà với quần áo dính đầy máu. Nó tự thú với người anh: “Tôi đã giết người”. Vài phút sau căn nhà bị cảnh sát bao vây và hai anh em đã biết rằng không còn cách nào trốn thoát được. “Tôi không có ý giết nó”, người em sợ hãi nói, “Tôi cũng không muốn chết”. Vào lúc ấy cảnh sát đang gõ cửa. Người anh bèn nảy ra ý tưởng: anh thay đổi quần áo của mình cho người em, và mặc lấy bộ quần áo còn đang dính đầy vết máu của người em. Cảnh sát xông vào nhà bắt người anh, bỏ tù, và chờ ngày bị kết án tử hình. Sau cùng, người anh đã hy sinh chết thế cho em mình.

 Qua câu chuyện hình sự về cái chết hy sinh của người anh vì thương em, chúng ta hiểu phần nào về sự đau khổ và cái chết của Chúa Giêsu được diễn tả trong bài Thương Khó. Đây là câu chuyện của tình yêu, tình yêu Thiên Chúa dành cho con người chúng ta.

 Thánh Phaolô đã viết: “Chúa Giêsu Kitô, tuy là thân phận Thiên Chúa, đã không nghĩ phải dành cho được ngang hàng với Thiên Chúa; trái lại, Người hủy bỏ chính mình mà nhận lấy thân phận tôi đòi, đã trở nên giống như loài người… Người đã tự hạ mình mà vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá”.

 ___________________

12. Cuộc Thương Khó.

Chúa Giêsu rất thương xót những người đau khổ. Ngài đã làm phép lạ để cứu chữa họ, và dạy mọi người phải yêu thương nhau chứ không dạy phải làm khổ cho nhau. Đối với Chúa Giêsu đau khổ là điều xấu. Khi nghĩ về cuộc thương khó trong vườn Giệtsimani, Ngài đã bồi hồi, xao xuyến, sợ hãi đến đổ mồ hôi máu.

 Thánh Kinh cho ta thấy căn nguyên của đau khổ là tội lỗi. Vì đau khổ là xấu nên con người phải tránh gây đau khổ cho nhau bằng mọi hình thức. Đồng thời phải tích cực xây dựng sự công bằng và bác ái. Rất nhiều đau khổ ở thế gian do con người, tội lỗi và sự bất công gây ra. Khi chấp nhận đau khổ để cứu chuộc nhân loại, Chúa Giêsu dạy cho chúng ta một số nguyên tắc luân lý:

1. Chỉ chấp nhận đau khổ và hy sinh vì hạnh phúc của người khác. Sự hy sinh phải nhằm vào những mục đích tốt, và những mục đích đó phải có một giá trị cao hơn sự thiệt thòi.

 Chúa Giêsu đã tự ý chịu đau khổ để tiêu diệt tội lỗi theo đường lối của Thiên Chúa Cha. Khi Chúa Giêsu lên Giêrusalem để hoàn tất sứ mạng Chúa Cha trao phó, Ngài đã phải đụng chạm với sức mạnh của chính quyền, xung khắc với sự tự do của con người. Và sự đau khổ đã đến như một hậu quả tất yếu vì sứ mệnh của Ngài. Ngài đã phải chọn lựa giữa việc chu toàn sứ mạng dù phải chấp nhận sự đau khổ và cái chết trên thập giá hơn là sự đào ngũ, chạy trốn của người hèn nhát.

2. Để sự đau khổ trở nên một giá trị cho người khác, nó phải là tự nguyện như chính Chúa Giêsu đã tự hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc nhân loại: “Không ai đoạt được mạng sống tôi, nhưng tôi tự ý hiến mạng sống mình”.

 Thiên Chúa ban cho con người tự do để cộng tác vào việc sáng tạo của Thiên Chúa. “Con người thường là những hợp tác viên vô ý thức của thánh ý Chúa, nhưng con người cũng có thể chủ ý hợp tác vào kế hoạch của Ngài bằng hành động, lời cầu nguyện, và bằng cả những đau khổ của mình”.

 3. Đau khổ hy sinh sẽ trở nên sai trái khi nó hủy diệt chính con người của mình. Chúa Giêsu đã không đánh mất bản tính Thiên Chúa của Ngài khi chết trên thập giá. Ngài chết trên thập giá nhưng Ngài vẫn là Thiên Chúa, độ lượng, tha thứ và nhân từ. Đau khổ không làm Ngài rơi vào hận thù và tuyệt vọng. Chính tình yêu làm cho đau khổ trở thành giá trị. Con đường khổ giá từ Giêrusalem lên núi sọ chịu đóng đinh của Chúa Giêsu chính là con đường của tình yêu.

 Sách Giáo lý Công giáo số 609 viết rằng: “Khi gắn bó với tình thương của Chúa Cha đối với mọi người, trong trái tim nhân tính của mình, Chúa Giêsu “đã yêu thương họ đến cùng”, “bởi vì không có tình yêu nào lớn hơn là thí mạng sống mình vì những người mình yêu thương”. Bởi vậy, trong đau khổ và trong khi chết, nhân tính của Ngài đã trở thành dụng cụ tự do và tuyệt hảo của tình thương thần linh của Ngài muốn cứu vớt mọi người”.

 Bắt đầu Tuần Thánh này, Giáo Hội nhắc nhở chúng ta nhìn vào thánh giá để thấy những ý nghĩa sâu xa của mầu nhiệm tình yêu đó:

 Nhìn vào thánh giá ta thấy đau khổ bên ngoài và tình yêu Thiên Chúa bên trong, sự chết của con người và sự sống lại của Thiên Chúa, bóng tối tội lỗi của trần gian và ánh bình minh cứu độ, sự ích kỷ của ta và sự hy sinh của Thiên Chúa, sự kiêu căng của ta và sự khiêm tốn của Thiên Chúa, sự bất lực của ta và sức mạnh vô song của Thiên Chúa, sự thù hận của con người và sự tha thứ của Thiên Chúa, sự hèn hạ của ta và sự cao cả của Thiên Chúa. Nhìn vào thánh giá ta thấy nhân tính và thiên tính của Chúa Giêsu Kitô.

 Quả vậy, như lời thánh Phaolô đã dạy: “Lời rao giảng về thập giá là một sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ, thì đó là sức mạnh của Thiên Chúa”.

 ________________________

13. Hoan hô- Đả đảo.

Hôm nay toàn thể Giáo Hội tưởng niệm Chúa Kitô vào thành Giêrusalem để hoàn tất mầu nhiệm Vượt Qua của Ngài. Vì thế ngày lễ hôm nay gồm có hai phần: phần đầu kính nhớ việc Chúa vào thành thánh bằng cuộc rước kiệu lá, phần hai là thánh lễ tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa.

 Trước hết, ngày Chúa nhật trước khi đi thụ nạn, Chúa Giêsu lên thủ đô Giêrusalem lần cuối cùng. Dân chúng lũ lượt kéo nhau đi như cuộc biểu tình vĩ đại, trên đường vào thành thánh, họ trải áo choàng trên đường và chặt những nhánh lá cây rải trên đường để Chúa đi qua, tay cầm cành lá, miệng reo hò tung hô Chúa, họ dành cho Chúa một nghi lễ đón rước như cho một vị vua của họ. Họ vừa đi vừa tung hô: “Hoan hô con vua Đavid”, “Vạn tuế Đấng nhân danh Thiên Chúa mà đến”. Người người nồng nhiệt hò la, Chúa Giêsu im lặng chấp nhận để họ đón rước và tung hô như thế. Ngài là một vị vua vinh quang nhưng khiêm hạ, Ngài không phải là vị vua như dân Do Thái mong đợi, nghĩa là vua phần xác, đến để giải phóng dân tộc họ khỏi ách đô hộ ngoại bang Rôma, đem cơm áo ấm no cho họ. Nhưng Ngài là vua trong lòng của họ, đem đến tình thương và hòa bình.

 Đàng khác, cũng trong ngày lễ hôm nay, chúng ta nghe đọc bài tường thuật về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Cuộc khổ nạn diễn ra vào ngày thứ sáu sau Chúa nhật lễ lá, nghĩa là chỉ sau ít ngày nhiệt liệt tung hô Chúa Giêsu, dân Do Thái lại biểu tình đả đảo, chống đối, hò la đòi giết Chúa. Ngài đã bị bắt, bị trói và bị dẫn đến trước mặt thượng tế Caipha, rồi đến trước tổng trấn Philatô, bị xét hỏi, bị đánh đập, bị kết án và cuối cùng bị hành quyết trên núi Sọ như một tên trọng phạm của xã hội.

 Ngày lễ hôm nay cho chúng ta thấy hai thái độ trái ngược nhau của dân Do Thái: hoan hô Chúa và đả đảo Chúa, đưa Chúa lên ngai vua và hạ bệ Chúa trên thập giá. Chắc chúng ta khó chịu, bực tức và lên án thái độ đổi thay, lòng dạ tráo trở của những người đó phải không? Nhưng chúng ta hãy ý tứ, có người đã viết như thế này: “Giữa Chúa nhật lễ lá và thứ Sáu Tuần Thánh có thể phản chiếu cả cuộc đời của các Kitô hữu: Hôm nay chúng ta hoan hô, chúc tụng Chúa: vạn tuế, vạn tuế, ngày mai chúng ta có thể sẽ gào thét: đả đảo, hãy đóng đinh, hãy đóng đinh hắn vào thập giá. Hôm nay chúng ta yêu thương, ngày mai chúng ta oán ghét. Hôm nay chúng ta hân hoan, ngày mai chúng ta buồn sầu. Hôm nay chúng ta hiền hòa, ngày mai chúng ta hung dữ. Hôm nay chúng ta tin tưởng, ngày mai chúng ta hoài nghi. Vâng, danh sách các mâu thuẫn giữa thiện và ác còn có thể tiếp tục nối dài, và thực sự giữa Chúa nhật lễ lá và thứ sáu Tuần Thánh có thể phản chiếu cả cuộc đời của các Kitô hữu”.

 Để làm sáng tỏ những tư tưởng trên, một diễn giả đã dùng một cành lá dừa. Cành lá dừa xanh tươi tượng trưng cho những đặc tính tích cực của Chúa nhật lễ lá như hoan hô, chúc tụng, yêu thương, hân hoan, hiền hòa, tin tưởng. Mỗi lần nêu lên một khía cạnh tiêu cực của cuộc sống như khước từ, oán ghét, buồn phiền, hung dữ, hoài nghi, diễn giả tuốt bỏ phần lá xanh, chỉ còn để lại cọng của cành lá dừa. Cuối cùng, cành lá dừa xanh tươi đã biến thành một bó roi có thể dùng để hành hạ nhau, biến thiên đàng thành địa ngục.

Chắc tất cả chúng ta đều hiểu và thấm thía những điều trên đây? Cuộc sống của chúng ta có nhiều tiêu cực hơn tích cực, chúng ta làm khổ nhau nhiều hơn làm đẹp lòng nhau. Có phải chúng ta xích mích, gây chia rẽ bất hòa nhiều hơn là xây dựng, yêu thương, đoàn kết? Chúng ta tôn vinh Chúa ở trong nhà thờ nhưng chúng ta có tôn vinh Chúa trong cuộc sống ở ngoài nhà thờ không? Mỗi khi chúng ta không tôn trọng bất cứ người anh em nào là chúng ta không tôn vinh Chúa. Vì thế, chúng ta hãy xin Chúa cho chúng ta luôn trung thành với lời chúng ta hoan hô “vạn tuế” để trong cuộc sống, chúng ta quyết đem ra thực hành chương trình xây dựng hòa bình và tình thương của Chúa.

________________

14. Suy Niệm của JKN.

Câu hỏi gợi ý:

  1. Đức Giêsu có run sợ trước đau khổ và sự chết không? Cuộc khổ nạn và cái chết của Ngài là do Ngài bị ép buộc hay do tự nguyện? Động lực khiến Ngài tự nguyện là gì?
  2. Cái chết khủng khiếp của Đức Giêsu nói lên điều gì? Có phải vừa nói lên sự công thẳng và nghiêm túc của Thiên Chúa đối với tội lỗi, vừa nói lên tình thương bao la của Thiên Chúa đối với con người không? Công thẳng ở chỗ nào? Tình thương ở chỗ nào?
  3. Bài học thực tế mà chúng ta học được qua mầu nhiệm Vượt Qua được cử hành trong Tuần Thánh là gì? Thiên Chúa và Đức Giêsu yêu thương và hy sinh cho chúng ta như thế, các Ngài mong ước điều gì nơi chúng ta?

 

CHIA SẺ

1. Đức Giêsu chịu đau khổ để cứu nhân loại khỏi đau khổ – Mầu nhiệm được cử hành trong Tuần Thánh – làm cho chúng ta hết sức cảm động – là Đức Giêsu đã chấp nhận chịu đau khổ và chết thay cho chúng ta, để giải thoát chúng ta khỏi đau khổ và sự chết trong cảnh giới vĩnh cửu. Tất cả đều vì yêu thương chúng ta: «Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết đối với tội, chúng ta sống cuộc đời công chính. Nhờ Người mang những vết thương của anh em mà anh em đã được chữa lành» (1Pr 2,24).

Theo niềm tin Kitô giáo, Đức Giêsu chính là Con Thiên Chúa. Ngài chẳng những là người hoàn toàn vô tội, mà còn là một con người hoàn hảo nhất của nhân loại. Thế nhưng Ngài lại phải chịu những cực hình khủng khiếp, đau đớn nhất của con người. Những đau khổ ấy, Ngài đã tự nguyện chịu, mặc dù từ thâm tâm Ngài cũng rất sợ hãi trước đau khổ. Việc Ngài lo buồn đến mức đổ mồ hôi máu trong vườn Cây Dầu (x. Lc 22,44) nói lên nỗi sợ hãi hết sức cao độ ấy. Nhưng dù biết trước những cực hình khủng khiếp đã khiến Ngài phải sợ hãi như thế, Ngài vẫn tự nguyện đón nhận, vì muốn hoàn thành thánh ý Chúa Cha là cứu độ loài người, và vì chính Ngài cũng yêu thương con người, muốn cứu họ khỏi tội lỗi và hậu quả khủng khiếp của tội lỗi. Dù bản năng có ham sống sợ chết, ham sướng sợ khổ, Ngài vẫn vui lòng chấp nhận đau khổ và chết, để con người được sống và sống hạnh phúc: «Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha» (Mt 26,39).

 

2. Đức Giêsu thực hiện sự công bình và tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại tội lỗi – Vì tội của nguyên tổ và của riêng từng người, đáng lẽ nhân loại chẳng những bị mất hạnh phúc vĩnh cửu mà còn phải chịu đau khổ đời đời. Sự công bình nơi bản tính của Thiên Chúa đòi buộc mọi tội lỗi đều phải đền trả, nghĩa là con người phải chịu hình phạt xứng đáng. Nếu thế con người sẽ phải đau khổ đời đời! Nhưng tình yêu vô biên của Ngài đối với con người đòi hỏi Ngài phải ra tay cứu họ, nếu không thì không còn là tình yêu nữa! Vừa bắt con người phải đền tội, vừa phải ra tay cứu họ, đối với trí óc của con người điều đó quả là mâu thuẫn và nan giải! Nhưng sự khôn ngoan vô biên của Ngài đã giải quyết nan đề ấy bằng cách cho Con của Ngài xuống thế làm người, đại diện cho toàn nhân loại, chịu đau khổ và chết, để đền tội thay cho cả loài người. Theo cách đó, sự công bằng và tình yêu của Ngài đều được thỏa mãn.

Đức Giêsu – là Ngôi Hai, Con Thiên Chúa, cũng là Thiên Chúa trong bản tính nhân loại – đã đảm trách việc hòa giải giữa hai đòi hỏi trái ngược nhau của sự công bằng và tình yêu Thiên Chúa, và cũng là hòa giải giữa con người với Thiên Chúa. Vì thế, sứ mạng của Đức Giêsu là phải làm sao cho con người thấy được công lý của Thiên Chúa phải được thực hiện nghiêm túc thế nào, đồng thời cũng biểu lộ cho con người thấy tình yêu của Thiên Chúa đối với con người bao la thế nào.

Chân lý, công lý và tình thương, đó là những thuộc tính hết sức quan trọng trong bản tính Thiên Chúa. Thiết tưởng người Kitô hữu – là người ý thức hơn ai hết con người là hình ảnh của Thiên Chúa – cần phải phản ánh và thể hiện ba thuộc tính ấy trong đời sống của mình. Đức Giêsu đã nhấn mạnh sự quan trọng của ba thuộc tính ấy: «Những điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, tình thương và tính chân thật» (Mt 23,23).

 

3. Tình yêu của Thiên Chúa được biểu hiện nơi Đức Giêsu – Thiên Chúa yêu thương con người, điều ấy đã được Thánh Kinh nói đến rất nhiều: «Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa» (1Ga 3,1); «Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời» (Ga 3,16); «Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống» (1Ga 4,9); «Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta» (Rm 5,8).

Tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại được thể hiện cụ thể qua tình yêu của Đức Giêsu đối với con người: «Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy» (Ga 15,9); «Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng» (Ga 13,1).

4. Hãy thể hiện tình yêu của Thiên Chúa ra cho tha nhân – Đức Giêsu đã chấp nhận đau khổ để con người được hạnh phúc, chấp nhận chết để con người được sống. Chính tình yêu đối với con người đã thúc đẩy Ngài làm điều ấy. Sự việc ấy cho thấy đau khổ của ta có thể biến thành hạnh phúc cho người khác, cái chết của ta có thể biến thành sự sống cho người khác. Nghĩa là ta có thể chấp nhận đau khổ để người mình yêu được hạnh phúc, chấp nhận chết để người mình yêu được sống. Vì thế, đau khổ và chết cho người mình yêu là cách tuyệt hảo nhất để biểu lộ và thể hiện tình yêu: «Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình» (Ga 15,13). Thiết tưởng người Kitô hữu cần sử dụng thường xuyên cách biểu lộ và thể hiện tình yêu tuyệt hảo này trong đời sống (đáng lẽ phải) đầy tràn yêu thương của mình.

Cũng như tình yêu của Chúa Cha đối với Đức Giêsu là gương mẫu cho tình yêu của Ngài đối với nhân loại: «Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy» (Ga 15,9); thì Ngài rất mong tình yêu của Ngài đối với chúng ta cũng là gương mẫu để chúng ta yêu thương nhau: «Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em» (Ga 15,12). Thánh Gioan đã diễn tả ý tưởng trên như sau: «Nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế thì chúng ta cũng phải yêu thương nhau» (1Ga 4,11); «Chúng ta hãy yêu thương nhau, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước» (1Ga 4,19); «Đức Kitô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em» (1Ga 3,16). Vậy, chúng ta hãy áp dụng tinh thần yêu thương và hy sinh cho người mình yêu, trước hết và đặc biệt cho những người gần gũi với chúng ta nhất: cha mẹ, vợ con, anh chị em, bạn bè… sau đó cho những người xa hơn, và cuối cùng cho cả những người ghét và làm hại chúng ta. «Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn Luật Đức Kitô» (Gl 6,2).

Tóm lại, hãy trở nên hiện thân cho tình yêu Thiên Chúa giữa tha nhân, giữa trần gian. Thiết tưởng đó là những điều thực tế mà trong Tuần Thánh này chúng ta phải quyết tâm thực hiện trong đời sống mình. Nếu không Tuần Thánh này cũng chỉ là một tuần vô bổ, trôi qua không dấu vết trong đời sống chúng ta.

 

Cầu nguyện

Tôi nghe thấy tiếng Chúa nói với tôi: «Con ơi, Cha yêu con, yêu con vô cùng. Cuộc tử nạn và cái chết của Đức Giêsu chính là bằng chứng rrt nhất cho tình yêu của Cha. Cha mong mỏi con đáp lại tình yêu của Cha như một tình nhân mong được người mình yêu đáp trả lại bằng tình yêu. Cách đáp trả tình yêu mà Cha mong muốn nhất nơi con, chính là con ban rải yêu thương một cách thật quảng đại,thậm chí phung phí, cho những người sống chung quanh con, những người con thường gặp hằng ngày. Hãy trở nên hiện thân của tình yêu Cha giữa mọi người».

___________________

15. Ơn cứu chuộc.

Chúa Giêsu đã chịu nạn chịu chết vào ngày Thứ Sáu, chúng ta quen gọi là ngày Thứ Sáu Tuần Thánh hay ngày Thứ Sáu chịu nạn. Xưa kia người ta cho ngày thứ sáu chịu nạn là một ngày đáng ghét hơn bất cứ ngày nào khác trong năm, bởi lẽ ngày hôm đó có một người vô tội đã bị kết án tử hình và đã bị giết chết một cách rất tàn nhẫn, bất công. Vì sự kiện đó người ta đã định nghĩa ngày Thứ Sáu chịu nạn là “Thêm một người vô tội được ghi tên vào trang sổ dài trong lịch sử nhân loại, cuốn sổ của biết bao nhiêu người bị tố cáo một cách oan uổng, bị đánh đập, bị hành hạ tàn nhẫn, và có khi bị giết chết”. Theo ý nghĩa này thì quả thật ngày Thứ Sáu chịu nạn là một ngày xấu xa, một ngày đen đũi.

Nhưng đối với chúng ta, ngày Thứ Sáu chịu nạn không phải là một ngày đáng ghét, chúng ta phải nghĩ ngược lại, ngày đó là một ngày đáng ghi nhớ, một ngày có ý nghĩa thật tốt đẹp và hoàn toàn cao cả, một ngày tốt đẹp hơn hết mọi ngày, bởi vì ngày đó là ngày Chúa Giêsu đã chết để cứu chuộc chúng ta, là ngày mở ra một trang sử mới của loài người.

Quả thực, không phải Chúa Giêsu đã chịu thua trước bạo lực, trước rủi ro hay số phận, cái chết của Ngài không phải là một sự thất bại, thua cuộc, nhưng là một sự nghiệp anh hùng và cao quý, vì chỉ có cái chết của Ngài mới có đủ khả năng đền bù tội nguyên tổ và mọi tội lỗi của con người một cách cân xứng, bởi vì tội phạm đến trời thì chỉ trời mới tha được. Hơn nữa, muốn cứu chuộc chúng ta, thật ra Chúa Giêsu đâu có cần phải xuống thế, phải nghèo khổ, phải nhục nhã, phải bị giết chết một cách tức tưởi như vậy, nhưng tất cả những sự ấy Ngài đã lãnh nhận chỉ vì Ngài yêu thương chúng ta, yêu thương đến cùng, yêu thương không bờ bến.

Như vậy, không gì chắc chắn bằng Chúa Giêsu đã đổ máu ra chết cho tất cả chúng ta, nhưng cũng không gì chắc chắn bằng Chúa Giêsu đã chết một cách vô ích cho chúng ta nếu chúng ta không muốn tham dự vào công lênh cứu chuộc của Ngài bằng nỗ lực riêng của mỗi người chúng ta. Chúa Giêsu đã làm bật lên mạch nước, nhưng chúng ta cần cúi xuống mà uống, nguồn mạch Chúa Giêsu sẽ vô ích nếu chúng ta không muốn uống. Nói rõ hơn, ơn cứu chuộc đòi hỏi chúng ta một nghĩa vụ, đó là chúng ta phải cộng tác với ơn Chúa, như thánh Âu tinh đã nói: “Thiên Chúa dựng nên chúng ta, Ngài không cần hỏi ý kiến chúng ta, nhưng để cứu chuộc chúng ta, Ngài cần sự cộng tác của chúng ta”.

Thực vậy, khi bị treo trên thập giá, trước khi thở hơi cuối cùng, Chúa Giêsu đã kêu lớn tiếng: “Mọi sự đã hoàn tất”. Như vậy, công việc cứu chuộc của Chúa đã xong, nhưng công việc của chúng ta thì chưa xong, chúng ta còn phải luôn luôn kiện toàn đời sống của mình, từ đó chúng ta mới hiểu câu nói của thánh Phaolô: “Tôi bổ khuyết nơi tôi những gì còn thiếu trong cuộc khổ nạn của Chúa Kitô”. Vì thế, chúng ta hãy nhớ hai điều: Thứ nhất, người thế gian thường xét đoán theo hiệu quả, còn Chúa thì đoán xét theo cách thức người ta chu toàn và kiện toàn bổn phận Chúa trao. Nói cách văn hoa, ở đời này, tất cả chúng ta đều là những diễn viên trên sân khấu trần gian, khi màn bi hài kịch cuộc đời hạ xuống, Thiên Chúa không hỏi chúng ta đã giữ vai trò gì mà chỉ hỏi chúng ta đã diễn xuất thế nào về vai trò được trao cho. Thứ hai, khi chấm dứt cuộc sống ở trần gian, có hai câu hỏi được đặt ra: người đời sẽ hỏi: “Người ấy để lại những gì?”, Còn thiên thần thì hỏi: “Người ấy đem đi được những gì?”. Điều đó có nghĩa là trong cuộc hành trình trên trần gian, chúng ta có thể đem theo mình nhiều thứ, nhưng khi đến trước tòa Thiên Chúa, chỉ còn những việc thiện đi theo chúng ta mà thôi.

Tất cả những điều tìm hiểu trên nhắc nhở chúng ta: hãy ý thức hơn về ơn cứu chuộc, hãy thấm nhập ơn cứu chuộc vào chính tâm hồn mình, và hãy sống ơn cứu chuộc trong đời sống hằng ngày. Ước mong chúng ta hãy dành nhiều thời giờ trong Tuần Thánh này để suy nghĩ về ơn cứu chuộc của Chúa và sự cộng tác của mỗi người chúng ta để hoàn thành cuộc đời mình. Cụ thể, trong những ngày cuối cùng của Mùa Chay này, ngoài việc cầu nguyện, suy ngắm sự thương khó Chúa, ăn chay để tỏ lòng thống hối, chúng ta còn phải xưng thú tội lỗi để tháo những chiếc đinh nhọn ra khỏi tay chân Chúa.

Đinh nhọn đây có thể là những thù hận và vu cáo bất công như những người đầu mục Do Thái đã làm. Đinh nhọn cũng có thể là sự khiếp nhược chối bỏ Thầy hay phản bội nộp Thầy như các môn đệ Chúa đã làm. Đinh nhọn cũng có thể là những sự độc ác vô lương tâm như tên trộm bên trái Chúa đã chê trách Chúa trên cây thập giá. Đinh nhọn cũng còn là những sự dửng dưng, thậm chí hùa theo kẻ mạnh để làm khổ người thân yếu cô thế như đám đông dân chúng đã la to: “Đóng đinh nó vào thập giá…”

Ngày nay chung quanh chúng ta không thiếu những người đau khổ là hiện thân của Chúa Giêsu trên thập giá. Họ chính là những người mắc bệnh nan y mà không tiền chữa trị, hoặc là những người đang chịu đựng những lời khích bác và vu khống bất công của những kẻ thù giấu mặt mà không ai động viên an ủi. Họ cũng chính là những người đang gặp đau khổ như què quặt, đui mù, đi xin ăn mà không biết ngày mai sẽ ra sao…

Chúng ta có thể làm gì? Hãy cảm thông với họ như các phụ nữ gặp gỡ Chúa trên đường thập giá, hãy giúp đỡ họ như ông Si-mon vác đỡ thập giá Chúa, như bà Vêrônica trao khăn cho Chúa lau mặt, hãy bênh vực công lý như người trộm lành bên hữu Chúa, hãy giải thoát họ khỏi những đau khổ ấy như hai môn đệ xưa đã tháo đinh và cất xác Chúa xuống khỏi thập giá…

Tóm lại, chỉ có tình yêu mới làm cho mọi khổ đau có giá trị cứu độ, vậy chúng ta hãy cảm nếm thật sâu xa nỗi khổ đau thân xác và tinh thần của Chúa Giêsu, nhưng đừng quên nhận ra những khổ đau của anh em chung quanh. Càng suy niệm về cuộc khổ nạn, chúng ta sẽ thấy mình càng yêu thánh giá của Chúa hơn, yêu thánh giá của mình hơn và kính trọng thánh giá của người khác hơn.

 ______________________


16. Thánh giá.

Chúa nhật vừa qua, chúng ta đã suy nghĩ về việc chết đi cho chính mình để sinh nhiều hoa trái cho Nước Thiên Chúa. Một cách diễn tả khác cho sự thật này là hình ảnh vác thập giá của chính chúng ta. Các bài đọc Kinh Thánh hôm nay mời gọi chúng ta suy niệm về thực tại thập giá và đau khổ trong cuộc sống của Chúa Giêsu. Việc suy niệm này chắc chắn làm chúng ta nghĩ đến những đau khổ mà chúng ta gặp phải trong cuộc sống. Chúng ta đã ẵm lấy thập giá đau khổ và hy sinh trong cuộc sống của chúng ta như thế nào?

Khi chúng ta đương đầu với đau khổ trong cuộc sống và ẵm lấy thập giá mà Chúa Giêsu trao cho, thì chúng ta làm điều mà Chúa Giêsu đã làm trước chúng ta và Người đã chuẩn bị con đường dẫn đến chiến thắng cuối cùng trong cuộc đời của chúng ta. Dầu vậy, đôi khi con đường trước mắt có vẻ tối tăm và bấp bênh, những lúc đó chúng ta cần xác tín Chúa Giêsu luôn ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế. Người sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng ta và Người cũng không bao giờ để chúng ta phải chịu đau khổ quá sức mình. Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Philipphê đã nhắc cho chúng ta, cuối cùng, Chúa Giêsu sẽ chiến thắng và Người sẽ lãnh nhận vinh quang trọn vẹn mà Chúa Cha muốn ban cho Người. Đây cũng là lời hứa cho chúng ta, nếu chúng ta chọn lựa trung thành chịu đựng đau khổ cùng với Người.

Kinh Thánh cũng như giáo huấn của Giáo Hội không bao giờ khẳng định đau khổ tự nó là một điều tốt, tuy nhiên, cả hai lại khẳng định giá trị cứu độ của đau khổ. Khi chúng ta kết hiệp đau khổ của mình với đau khổ của Chúa Giêsu thì chúng ta có thể nói như thánh Phaolô: “Những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức”. Khi chúng ta gặp phải bất kỳ một loại đau khổ nào thì đoạn Kinh Thánh này đem lại cho chúng ta một niềm hy vọng lớn lao. Thiên Chúa cho phép chúng ta kết hiệp đau khổ của chúng ta với đau khổ của Ngài, và vì thế trở nên những người cộng tác với Ngài trong việc đem lại ơn cứu độ cho mọi người. Đây là dấu chỉ đích thật cho phẩm giá cao cả của con người. Khi suy niệm về mầu nhiệm đau khổ của Chúa Kitô, chúng ta kín múc được một sức mạnh từ việc nhận thức chúng ta được kết hiệp với Ngài trong một cách thức mầu nhiệm.

Lạy Chúa Giêsu, chỉ có Chúa mới có thể đem lại sức sống và sự thiện hảo đến cho con trong những tình huống đau thương nhất. Xin giúp con luôn biết tín thác vào Chúa, trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống.

 ________________


17. Trung thành với lời tung hô.

Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến. Với thái độ tung hô vạn tuế của dân chúng trong ngày hôm nay, chúng ta đã xác tín Đức Kitô là vị vua phải đến để kiến tạo hòa bình, để trả lại cho con người sự tự do hầu có thể phát triển toàn diện nhân phẩm của mình. Ngài là niềm hy vọng của những kẻ nghèo khó, bất hạnh và khổ đau, Ngài là niềm an ủi của những kẻ bị bóc lột, bị bạc đãi, bị xúc phạm và bị ném ra bên ngoài xã hội. Đồng thời chúng ta tuyên xưng Ngài là vị lãnh đạo, xử dụng tình thương làm khí cụ để xây dựng một xã hội loài người trên công bình.

Nếu tham dự vào cuộc rước kiệu trong Chúa nhật lễ lá với lời hoan hô chúc tụng Chúa Giêsu là Đấng nhân danh Thiên Chúa mà đến, thì chúng ta có bổn phận phải tiếp tục bước theo Ngài. Bởi vì con đường Ngài đã đi cũng phải là con đường chúng ta bước theo, mặc dầu chúng ta biết con đường này là con đường sỏi đá, con đường gai góc, con đường thập giá. Chính con đường này sẽ dẫn chúng ta tới đỉnh đồi Canvê, để rồi qua những khổ đau và nhất là qua cái chết trên thập giá, chúng ta cũng sẽ được tiến đến cuộc chiến thắng Phục sinh.

Vì thế, có người đã viết về sự liên quan giữa Chúa nhật lễ lá và ngày thứ sáu tuần thánh như sau:

-      Giữa Chúa nhật lễ lá và ngày thứ sáu tuần thánh có một sự phản ảnh cho cuộc đời người Kitô hữu.

Thực vậy, hôm nay chúng ta tung hô chúc tụng Chúa, nhưng ngày mai chúng ta có thể sẽ gào thét đóng đinh Chúa vào thập giá. Hôm nay chúng ta yêu thương Ngài, nhưng ngày mai có thể chúng ta sẽ ghét bỏ Ngài. Hôm nay chúng ta hân hoan, nhưng ngày mai chúng ta lại buồn sầu. Hôm nay chúng ta hiền hòa, nhưng ngày mai chúng ta lại gian ác. Hôm nay chúng ta tin tưởng, nhưng ngày mai chúng ta lại thất vọng.

Phải, danh sách các mâu thuẫn giữa thiện và ác còn có thể tiếp tục nối dài và thực sự giữa Chúa nhật lễ lá và thứ sáu tuần thánh, là cả một đời người tín hữu được phản chiếu.

Để làm sáng tỏ những tư tưởng này, một diễn giả đã dùng hình ảnh cành lá dừa. Cành lá dừa xanh tươi, tượng trưng cho những đặc tính tích cực của Chúa nhật lễ lá, như hoan hô chúc tụng Chúa, yêu thương, hân hoan, hiền hòa và tin tưởng. Thế nhưng mỗi lần nêu lên một điểm tiêu cực của ngày thứ sáu tuần thánh cũng như của chính cuộc sống như: Oán ghét, hoài nghi, gian ác, buồn phiền và khước từ Chúa, thì diễn giả ấy liền tước bỏ phần lá xanh, và chỉ để lại chiếc cọng của nó mà thôi.

Cuối cùng, cành lá dừa xanh tươi đã trở thành một bó roi cỏ để dùng để hành hạ nhau, biến thiên đàng thành địa ngục.

Ước chi tuần thánh là thời gian chúng ta được hướng dẫn để tiếp tục bước theo những dấu chân cuối cùng của Chúa Giêsu nơi dương thế, để chúng ta luôn trung thành gắn bó với đấng chúng ta tuyên xưng hôm nay: Chúc tụng đấng nhân danh Chúa mà đến.

_______________________

18. Cuộc khổ nạn.

Trong suốt ba năm, Đức Giêsu đã đi từ ngôi làng này đến ngôi làng khác, làm việc lành, giảng dạy, và chữa bệnh cho dân chúng. Khi đi đến bất cứ nơi đâu, Đức Giêsu cũng đều được đám đông vây quanh lắng nghe và tìm kiếm nhiều điều nơi Người. Đây là ba năm mà Người đã hoạt động một cách trọn vẹn và tích cực ngoài sức tưởng tượng. Tuy nhiên, trong suốt thời gian đó, Đức Giêsu vẫn ở thế chủ động. Người đã đi đây đi đó ít nhiều theo ý của Người.

Nhưng khi Người giao nộp mình vào tay kẻ thù trong Giệtsimani (Người bị một trong những môn đệ của Người giao nộp), thì tất cả thế chủ động của Người chấm dứt. Điều này tượng trưng cho một điểm xoay chuyển trong sứ vụ của Người. Kể từ đây, Người bắt đầu phải chịu đựng đau khổ. Và đó là lúc bắt đầu cuộc khổ nạn của Người. Từ thời điểm đó, Người không còn làm chủ những điều đang diễn tiến nữa. Bấy giờ, các sự việc được thực hiện nhắm vào Người, hơn là do người.

Từ đó, Người bị ngăn chặn, giam giữ và giải đến cho Hêrôđê, Cai pha, Philatô thẩm vấn, đánh đập, đội mão gai, bắt vác thánh giá, lột quần áo, đóng đinh, bị chế nhạo… và cuối cùng, Người đã chịu chết. Đức Giêsu đã hoàn tất sứ vụ của Người, không chỉ bằng những hành động của Người, mà đặc biệt hơn, còn bằng những điều người ta làm cho Người nữa – bằng cuộc khổ nạn của Người. Chúng ta phải hiểu rõ một điều: Chúa Cha không ném Người vào tay những kẻ độc ác. Đức Giêsu đã chịu chết một cách tự nguyện. Người đã hiến mạng sống của Người.

Nhiều lúc, cuộc sống của chúng ta được xác định bằng những điều xảy đến với chúng ta, hơn là những việc chúng ta thực hiện: theo một ý nghĩa rất thật, thì đâu chính là cuộc khổ nạn của chúng ta. Nếu chúng ta có thể thực sự chấp nhận được cuộc khổ nạn này, cũng như những hành động của chúng ta, thì điều đó sẽ dẫn đến sự cứu độ cho chúng ta.

Điều quan trọng là nhận ra phạm vi mà chúng ta hoạt động. Khi còn bé, chúng ta chỉ biết trông cậy vào “lòng thương xót” của những người lớn. Trong hành trình cuộc đời, chúng ta còn có số phận, sự phản bội, những rủi ro, đủ mọi loại bệnh tật, mất mát tình bạn, thất bại trong các tương quan, thất vọng đối với người bạn đời hoặc con cái, cái chết của những người thân yêu, công việc làm ăn vất vả v.v…

Tất nhiên, chúng ta cũng có những lúc vui vẻ và những giai đoạn được sống an bình. Nhưng sự thật là vẫn có nhiều điều vượt ra ngoài tầm kiểm soát của chúng ta. Đó là những yếu tố làm nên kiếp người. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có sự chọn lựa trong cách thức đáp trả lại những gì mà cuộc sống gửi đến chúng ta. Cách đáp trả này có thể làm nên con người chúng ta, hoặc bẻ gãy chúng ta.

Đức Giêsu vẫn tồn tại với tư cách là chính bản thân Người, đầy sức mạnh, trong sạch, và tốt đẹp. Chúng ta sẽ trở thành con người nào, nếu cảnh mất mát, khủng hoảng, hoặc những sự tước đoạt thì giờ đã lấy đi của chúng ta vẻ bên ngoài thành công, tầm quan trọng cá nhân, thậm chí ngay cả nhân cách nữa?

Câu chuyện Cuộc Khổ Nạn chứng tỏ cách thế Đức Giêsu đáp trả lại những điều xảy đến với Người. Người đã chấp nhận tất cả cảnh bạo lực, biến đổi chúng, và chuyển chúng thành tình yêu và ơn tha thứ. Đây là sự chiến thắng của tình yêu vượt lên trên tất cả những sức mạnh tàn phá. Không có gì ngoài tình yêu nơi Đức Giêsu. Ngay cả khi người ta đóng đinh vào tay chân Người. Người vẫn yêu thương. Điều này giúp chúng ta suy nghĩ đến những lúc chúng ta trải qua cảnh khó khăn.

__________________

19. Tội lỗi của ta.

Đó là vào đầu tháng 11, lá cây phủ đầy các con đường, rải rác trên mặt đất. Người ta kêu gọi mỗi gia đình thu gom những lá cây của nhà mình vào những giỏ nhựa, và chuyển đến cho những người hốt rác. Bây giờ, khi sử dụng những lá cây như một biểu tượng của tội lỗi, chúng ta hãy nhận xét xem sự việc diễn tiến ra sao.

Một số người không hề cảm thấy phiền toái gì cả, khi nhìn thấy những lá cây rơi xuống, phủ đầy trên bãi cỏ, bồn hoa và lối đi. Họ nhìn thấy chúng ta bắt đầu mục nát và làm cho không khí bốc mùi hôi thối. Nhưng mỗi ngày, họ đều bước lên trên những lá cây thối rữa đó, dường như thể chúng chưa bao giờ hiện diện. Đây là những người mà đối với họ, tội lỗi không là gì cả. Hêrôđê là một trong những người này.

Một người quét ra ngoài đường những lá cây trên bãi cỏ và lối đi cả nhà họ. Tại đó, chúng trở thành một đống xấu xí khó coi, và tạo ra một mối nguy hại đối với các tài xế. Nhưng người đó không hề bận tâm, họ cứ để mặc cho người khác đến dọn sạch đống rác đó đi. Người này nhắc nhở chúng ta về những kẻ làm phiền người khác vì tội lỗi của họ. Philatô, bọn quân lính và đám đông thuộc loại người này.

Hầu hết người ta thường quan tâm đến việc dọn dẹp những lá cây của nhà họ, nhưng họ không màng đến việc nhặt một chiếc lá trên bãi cỏ nhà hàng xóm. Đây là phần đất và trách nhiệm của người đó. Loại người này đại diện cho những người biết nhận trách nhiệm đối với tội lỗi của mình. Phêrô là một ví dụ.

Cuối cùng, có một người đang chú ý. Người này không chỉ thu gom những lá cây trên bãi cỏ nhà mình, mà còn thu gom cả những lá cây ngoài đường nữa. Và người đó làm công việc này một cách âm thầm, không hề phàn nàn gì cả. Người đó nhắc nhở chúng ta đôi chút về Đức Kitô, Đấng đã chịu chết vì tất cả chúng ta. Nhưng Đức Kitô là một người duy nhất không hề phạm tội.

Tuần Thánh không phải là một tuần lễ để chúng ta ẩn núp phía sau người khác. Chúng ta phải nhận trách nhiệm đối với tội lỗi của mình. Nếu biết nhìn nhận tội lỗi của mình, chúng ta không có gì phải sợ hãi, bởi vì Đức Kitô đã đến gánh tất cả tội lỗi của chúng ta. Sau đó. ít nhất chúng ta có thể cố gắng cảm thấy một số trách nhiệm đối với tội lỗi của đồng loại và của cả thế giới nói chung.

Không ai là một hòn đảo. Mỗi người chúng ta đều là một phần tử ở trên mảnh đất của nhân loại.

 _____________________


20. Thái độ.

Không có điểm nào trong việc trở nên nhạy cảm về nỗi đau khổ. Người ta có thể quá bị đụng chạm, đến nỗi họ trở nên cay cú, và sẽ không bù đắp lại được. “Một sự hy sinh quá lâu dài, có thể làm cho trái tim trở thành chai đá” (W.B. Yeats).

Tuy nhiên, nỗi đau khổ có thể trở thành một cơ hội. Đây không phải là vấn đề lý tưởng hóa nỗi đau khổ, nhưng là đương đầu với nó trong niềm hy vọng. Giá trị của nỗi đau khổ không hệ tại ở cảm giác đau đớn của nó, nhưng hệ tại ở thái độ của người chịu đau khổ. Nỗi đau khổ có thể thanh tẩy linh hồn con người, và biến đổi tính cách của người đó. Nỗi đau đớn có thể mang lại hiệu quả. Nỗi đau khổ là một phần thiết yếu trong quá trình trở thành con người thực sự, nghĩa là một người có lòng thương xót và trưởng thành.

Chúng ta không được coi nỗi đau khổ như là một sự trừng phạt của Thiên Chúa. Thiên Chúa không trừng phạt bất cứ ai. Quả thật Thiên Chúa để cho chúng ta chịu đau khổ, chỉ vì điều tốt đẹp có thể xuất phát từ nỗi đau khổ mà thôi. Nỗi đau khổ có thể đưa chúng ta đến gần với Người hơn. Qua đau khổ, chúng ta cảm nghiệm được sức mạnh và tình yêu của Người.

Thật là một sự an ủi lớn lao cho chúng ta, khi nhận biết rằng Đức Kitô, Đấng Vô Tội và Không Hề Phạm Tội, lại đi trên con đường đau khổ trước chúng ta, và Người đã đi đến tận cùng. Trên thánh giá, Người gom tất cả nỗi đau của nhân loại, và biến thành của riêng Người.

Trong suốt thời cộng sản, thi sĩ Irina Ratushinkaya đã sống một thời gian trong các trại lao động ảm đạm ở nước Nga. Bà nói “Cách thức tốt nhất để giữ được nhân cách của bạn trong các trại này, là quan tâm nhiều hơn đến nỗi đau khổ của người khác, hơn là của bản thân bạn” Chúng ta không thể học hỏi được về lòng thương xót, nếu không biết đau khổ.

Trong Cuộc Khổ Nạn của Người, chúng ta nhận thấy cách thức Đức Kitô quan tâm đến người khác – Người quan tâm đến những phụ nữ thành Giêrusalem đồng cảm với Người, Người quan tâm đến tên trộm, và tất nhiên Người quan tâm đến mẹ của Người. Nơi Người, không có gì khác ngoài tấm lòng yêu thương. Ngay cả khi bị đóng đinh tay chân trên thánh giá, Người vẫn tiếp tục yêu thương.

Đức Giêsu không chịu chết để giải thoát chúng ta khỏi đau khổ. Người đã chết để dạy cho chúng ta cách thức chịu đau khổ. Mặc dù con đường đau khổ chật hẹp và khó khăn, nhưng từ khi Đức Giêsu đi qua đó, thì nó không còn như vậy nữa. Một ánh sáng rạng ngời chiếu tỏa trên nó. Những ai biết liên kết những đau khổ của mình với những đau khổ của Đức Kitô, thì những đau khổ đó sẽ trở thành nguồn ân sủng cho toàn thể cộng đồng, và họ sẽ được chia sẻ vinh quang Phục sinh của Đức Kitô.

__________________

21. Vào thành.

Trong một trung tâm cải tạo tại Hoa kỳ, người ta có thể đọc bài thơ vô danh như sau:

 

Tôi đã kêu xin Thiên Chúa cho tôi sức mạnh để đạt thành công, Ngài đã khiến tôi trở thành yếu đuối để tôi học vâng lời trong khiêm tốn. Tôi đã xin cho được sức vóc để làm những việc trọng đại, Ngài đã cho tôi tật nguyền để tôi làm những điều tốt lành hơn. Tôi đã xin Chúa cho tôi của cải giàu sang để được sung sướng, Ngài đã cho tôi cái nghèo khó để tôi biết sống khôn ngoan. Tôi đã xin được chức quyền để mọi người kiêng nể kính trọng và Ngài đã cho tôi sự yếu đuối để tôi cảm thấy tôi cần đến Thiên Chúa.

 

Tôi đã xin có bạn đường để khỏi phải sống lẻ loi, Ngài đã cho tôi một con tim để yêu thương hết mọi người. Tôi đã kêu xin những điều khiến cho cuộc đời tôi vui sướng, Ngài đã cho tôi cuộc sống. Để tìm vui trong mọi sự, tôi đã không nhận được gì trong số những điều tôi kêu xin cùng Thiên Chúa, nhưng tôi đã nhận được những gì tôi hy vọng. Các lời nguyện không thành, lời của tôi đã được khứng nhận và tôi là người hạnh phúc nhất trên trần gian.

Lời cầu nguyện của người vô danh trên đây cho chúng ta thấy một cái nhìn khác về cuộc đời và các giá trị đích thực vượt xa nhãn quang chúng ta hiểu. Sứ điệp Mẹ Giáo hội muốn nhắn gởi chúng ta qua Phụng vụ Chúa nhật lễ lá đó là biết nhận ra các chiến thắng của Chúa Giêsu và của tình yêu trong những thất bại ê chề bề ngoài của một người tử tội. Ngôn sứ Isaia và bài ca thứ ba trong bốn bài ca trình bày gương mặt của người tôi tớ khổ đau, nó diễn tả kinh nghiệm bị bắt bớ mà ngôn sứ phải gánh chịu là người loan báo Lời Chúa cho những kẻ thất vọng. Ngôn sứ nêu gương sống tin yêu và hy vọng khi nhẫn nhục chịu đựng cảnh đối xử.

Qua đó, bài ca nêu bật các đặc thái sau đây của người tôi tớ Giavê:

 

-     Thứ nhất người tôi tớ được đưa vào trong khung trời mầu nhiệm của Thiên Chúa và sẵn sàng chấp nhận thực hiện ơn cứu độ Thiên Chúa muốn ban cho dân Ngài.

-     Thứ hai để thực hiện chương trình ấy theo ý muốn và nhãn quan của Thiên Chúa, người tôi tớ sống đón nhận thánh ý của Ngài mà không phản đối cũng không chần chừ tìm cách thoái thác và viện dẫn lý do.

-     Thứ ba tuy là người vô cùng khôn ngoan, người có Lời Chúa trong mình, người tôi tớ chứng nhận mọi xỉ nhục, mọi khinh bỉ. Bị xỉ nhổ, bị đánh đòn như người điên dại và không còn phẩm giá gì nữa và nhất là không chấp nhận dàn xếp lèo lái để tránh né cái khó khăn và khổ đau xuất phát từ sứ mệnh đã lãnh nhận từ Thiên Chúa Cha.

Thái độ sống đó của người tôi tớ khổ đau diễn tả cách hành xử siêu việt khác hẳn cách hành xử kiêu căng hiếu chiến của loài người. Cách hành xử đấy đưa nhân loại vào vòng bạo lực không có lối thoát.

Rồi trong bài đọc II Chúa nhật Lễ lá trong thơ gởi giáo đoàn Philipphê thánh Phaolô đã mời gọi tín hữu hãy noi gương cách hành xử của Chúa Giêsu Kitô và sống theo tinh thần của Ngài, tinh thần của người tôi tớ đau khổ. Thánh Phaolô đã lấy lại bài ca diễn tả lại lòng tin của cộng đoàn tiên khởi vào Chúa Kitô. Bài ca nêu bật bản tính Thiên Chúa và cuộc sống đời đời của Chúa Kitô trong liên hệ với Thiên Chúa Cha và nhấn mạnh đến ý nghĩa cuộc đời dương thế và bản tính nhân loại của Ngài. Đó là một bài khảo luận Kitô học súc tích. Từ ngữ nòng cốt trình bày mấu điểm thần học căn bản trên đây là sự từ bỏ trọn vẹn, đổ hết ra làm cho trống rỗng đi.

Tuy phận mình là Thiên Chúa, khi nhập thể làm người để hiện thực chương trình cứu độ của Thiên Chúa Cha, Chúa Giêsu đã lột bỏ mọi vinh quang siêu việt thần thiêng của Ngài. Chúa đã đổ hết bản tính Thiên Chúa của Ngài, đã trở thành trống rỗng hoàn toàn để chia sẻ thân phận yếu hèn thấp kém và tội lỗi vong thân của con người.

Chúa Giêsu đã ra khỏi chính mình để hoàn toàn sống vâng phục thánh ý Thiên Chúa Cha là Đấng đã dùng chính cái chết và thập giá của con Ngài để trao ban ơn cứu rỗi cho nhân loại. Chính thái độ khiêm hạ vô cùng và tự hủy bỏ mình đó đã khiến Thiên Chúa Cha tôn vinh Chúa Kitô và trao ban trở lại cho Ngài mọi phẩm giá cao trọng và một quyền bính trên trời dưới đất. Phẩm giá cao trọng và quyền năng ấy trong cách hành xử của Thiên Chúa không phải là kết quả sức mạnh của con người, mà là hoa trái của khổ đau và nhục nhã khiêm cung.

Chúa Giêsu Kitô được đặt làm Chúa và là Đấng Cứu thế. Người đã từ bỏ điều kiện Thiên Chúa của mình để sống như người phàm, như người tôi tớ đau khổ. Từ nay trở đi loài người chỉ có thể gặp gỡ Thiên Chúa qua chính cuộc đời của Chúa Giêsu và thập giá. Thập giá giúp chúng ta tẩy rửa lòng tin của mình khỏi mọi thần tượng do chính chúng ta đã tạo ra trong cuộc đời mình. Thiên Chúa của thập giá là một người Thiên Chúa tự lột bỏ, tự đổ dốc hết phẩm giá cao vời của mình đi để chia sẻ thân phận tội lỗi khốn cùng của con người.

Thiên Chúa của thập giá không phải là một vị Thiên Chúa luôn kéo chúng ta ra khỏi lòng cuộc sống trần gian và thế giới này, nhưng Ngài là Đấng bước vào trong lịch sử con người để yêu thương, hoán cải và trao ban cho lịch sử loài người một ý nghĩa. Khi trở thành người anh em của chúng ta, Ngài cống hiến cho chúng ta sự hiệp thông thần linh của Ngài và kêu mời chúng ta trở thành anh chị em với nhau.

Trong tuần lễ đặc biệt sắp tới này, chúng ta hãy xin Chúa giúp cho chúng ta được theo Chúa cho đến cùng trên con đường thập giá Chúa đã đi qua.

________________

22. Tin tưởng hay thất vọng

– Lm. Minh Nhiên.

Trong một lần nói chuyện, Đức Tổng giám mục Fulton Sheen chỉ vào thánh giá ngài đang đeo trên ngực rồi nói: ” Thánh giá bạc mà tôi đang đeo đây, tôi đeo để đền tạ.” Khi hỏi lý do, ngài trả lời: “Một hôm vào thăm một người bạn gốc Do thái bán đồ nữ trang ở Nữu Ước. Ông nói với tôi: “Tôi có một ít thánh giá bạc cho Đức Cha”, và ông trao cho tôi một bao đựng khoảng hơn một trăm thánh giá. Tôi hỏi: “Ông kiếm được ở đâu nhiều vậy?” Ông trả lời: “Từ các nữ tu, họ mang đến và nói với tôi: “Chúng tôi không còn đeo tượng thánh giá nữa, vì chính những tượng này đã làm ngăn cách, chia rẽ chúng tôi với thế giới hôm nay. Ông trả cho chúng ta bao nhiêu tiền với số bạc này”. Tôi cân và thấy nặng khoảng 30 miếng bạc”. Rồi ông nói với tôi: “Tôi nghĩ rằng tượng thánh giá đã là một cái gì biểu hiệu quí giá đối với các Kitô hữu. Phải chăng có gì không ổn, có gì trục trặc với tôn giáo của Đức Cha?” (Through the Year with Fulton Sheen, trg 14-42).

Người ta bán tượng thánh giá và cho rằng thánh giá là căn cớ làm cho họ xa lạ với thế giới hôm nay. Giuđa đã bán Chúa và nộp Chúa bằng cái hôn của mình để lấy 30 đồng bạc. Ngày hôm qua cũng như ngày hôm nay, người ta đã đang bán Chúa với những giá của khác nhau, và với những lý do khác nhau.

Ngày hôm xưa Phêrô chối Chúa qua những lời chất vấn của cô đầy tớ gái. Ngày hôm qua một số người đã chối đạo trước những hạch sách đe dọa của quan quyền, và ngày hôm nay với những lý do này hay lý lẽ nọ cũng đã khiến cho có những người chối Đức Kitô, không dám nhận mình là Kitô hữu.

Dù cho con người có yếu đuối sa ngã, Thiên Chúa vẫn luôn luôn yêư thương con người. Ánh mắt Chúa đã tìm, đã gặp, và đã cảm hóa được Phêrô, ánh mắt ấy cũng đã đi tìm Giuđa, nhưng không gặp được vì Giuđa thất vọng và lẩn tránh, dầu vậy chuyện kể rằng Chúa vẫn luôn hướng tìm và chờ đợi. Ngày tận thế đã đến, tất cả các thánh đều vui mừng ca hát, nhảy múa, reo hò trong hoan lạc sung sướng. Mọi người đều vui trừ một mình Chúa Giêsu. Ngài đứng yên lặng dưới bóng rợp cạnh cửa thiên đàng. Một vài vị thánh đến hỏi thăm xem Ngài đang làm gì thế. Ngài trả lời: “Cha đang đợi Giuđa”.

Chắc hẳn trong đời sống nhiều lần chúng ta đã lam phiền lòng Chúa và thái độ của chúng ta có thể phần nào giống như của Phêrô hoặc Giuđa: ăn năn thống hối hay thất vọng buông xuôi. Hôm nay bắt đầu bước vào tuần trọng nhất trong năm phụng vụ, Giáo hội mời gọi chúng ta đừng nhẫn tâm xa tránh ánh nhìn đầy ắp yêu đương của Chúa, nhưng hãy thật tình trở về, khiêm nhượng xin ơn tha thứ, và tin cậy vào tình Chúa thương yêu.

________________

23. Con Đường Tình Yêu

Lm. Kiều Công Tùng.

Nghi thức tuần thánh khởi đầu bằng một cuộc kiệu Lá để tưởng niệm việc Chúa Giê-su vào thành Giê-ru-sa-lem. Một cuộc kiệu tưng bừng tiếng tung hô: “Hoan hô thái tử nhà Đa-vít! Chúc tụng Vua Ít-ra-en”, nhưng lại nhuốm buồn vì liền ngay sau đó chúng ta được nghe trình thuật về cuộc thương khó của Chúa. Trong suốt Tuần Thánh này, có ba cuộc kiệu như thế. Hai cuộc kiệu còn lại vào chiều thứ Năm tuần thánh – kiệu Mình Thánh Chúa, và Đêm Vọng Phục Sinh – kiệu Nến Phục Sinh. Những cuộc kiệu trong khung cảnh cuộc thương khó vừa mở ra trước mặt chúng ta một con đường, vừa như là một nhắc nhớ: đằng sau buồn thương có niềm vui cứu độ, qua khổ nạn sẽ là Phục Sinh.

 

Đường đưa tới vinh quang

Bài thương khó theo thánh Mát-thêu đã gợi lên những hình ảnh xem ra hoàn toàn trái ngược với cuộc khải hoàn vào thành Giê-ru-sa-lem. Thật vậy, việc Chúa được dân chúng tung hô đón rước khi Ngài vào thành thánh chỉ là hình ảnh báo trước vinh quang đích thực Ngài sẽ nhận được khi Chúa Cha cho Ngài sống lại từ cõi chết. Nhưng để được vinh quang ấy, Đức Giê-su phải đi vào con đường khổ nạn, phải tự hiến mình làm hy lễ dâng lên đẹp lòng Cha.

Rất nhiều lần chiêm ngắm bức ảnh Chúa hấp hối, chúng ta thấy được gì phía sau hình ảnh một Chúa Giê-su đẹp đẽ uy nghi quì gối bên một phiến đá dưới ánh trăng vàng đầy thơ mộng? Chúng ta có nhận thấy một Đức Ki-tô đang gập mình xuống đất, oằn oại trong cơn khủng hoảng vượt quá sức mình? Chúng ta có hiểu được lời Ngài thổ lộ với các môn đệ: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được” (Mt 26, 38) và cả tiếng kêu thống thiết trên thập giá: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27, 46). Nỗi đắng cay như vây kín và xiết chặt lấy Ngài, đắng cay của người bị bạn mình phản bội, của Thầy bị môn đệ chối từ và bỏ rơi, của Đấng cứu tinh bị dân mình loại trừ. Tất cả đều do sự ích kỷ, lòng kiêu căng và nỗi tham vọng của con người. Thân xác Chúa khổ sầu đến nỗi mồ hôi máu đổ ra và tâm hồn Ngài gần như tan nát không phải vì những roi đòn và nhục mạ, nhưng chính là gánh nặng của tội lỗi nhân loại. “Người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta” (Is 53, 4).

Qua khổ nạn mới đến Phục Sinh. Đó chính là chương trình mầu nhiệm của Thiên Chúa, nhờ đó Chúa Cha và Chúa Con được tôn vinh. Còn trong thực tế cuộc sống, có nhiều người lại muốn đạt đến vinh quang bằng những con đường ngắn nhất và dễ nhất. Cuối cùng, những gì mà họ có được chỉ là hư ảo, tầm thường nhất và cũng mau qua nhất.

 

Đường nở hoa tình yêu

Đức Giê-su chịu chết khổ hình nhằm cứu chuộc nhân loại và cũng để tôn vinh Thiên Chúa Cha. Nhiều khi ta tự hỏi: có cần phải như thế với một Thiên Chúa quyền năng? Hẳn rằng điều làm cho Hiến Lễ Thập Giá của Đức Giê-su trở nên có giá trị và đem lại ơn Cứu Độ không phải là đau khổ hay sự chết, mà là tâm tình vâng phục trong yêu mến đối với Chúa Cha; nhưng chính đau khổ và Thập Giá lại là cách thế diễn tả tâm tình đó thật tuyệt vời. Sự vâng phục yêu mến của Đức Giê-su đã được I-sai-a báo trước qua hình ảnh người tôi trung: “Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi, còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui” (Is 50, 5). Còn thánh Phao-lô đã ca ngợi: “Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2, 7 – 8). Lời cầu nguyện của Đức Giê-su thưa với Chúa Cha trong vườn cây Dầu đã nói lên tất cả sự vâng phục yêu mến: “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha” (Mt 26, 42).

Con Thiên Chúa đâu có lạ gì với những đau khổ của phận người khi bước vào trần gian. Đứng trước con đường khổ nạn, Ngài không hỏi tại sao cũng chẳng buông lời nguyền rủa, nhưng Ngài đã bước đi và đi tới cùng với tất cả tình yêu, tình yêu thật lớn lao dành cho Cha và nhân loại, và lập tức bao nhiêu đau khổ kia trở nên ý nghĩa. Con đường Thập Giá bỗng nở hoa rộn ràng. Cây Thánh Giá đã trở nên lộng lẫy với vương miện tình yêu. Qua đó, Đức Giê-su cũng dạy cho con người một bí quyết để sống hạnh phúc, để có hòa bình: Tình yêu và tha thứ. Như thế, con đường mà Phụng Vụ Tuần Thánh đang mở ra cho chúng ta chẳng phải là “con đường có lá me bay, chiều chiều ta lại cầm tay nhau về”, nhưng là con đường đã in dấu chân, đã thấm mồ hôi và đã mang cả trái tim của Thầy Giê-su – Con Đường Thập Giá.

 

Cùng Chúa ta lên đường

Lời Chúa hôm nay muốn đưa chúng ta vào mầu nhiệm thánh giá của Đức Giê-su không phải để gợi lên trong ta niềm thương cảm đau xót, nhưng là muốn mời gọi chúng ta hãy can đảm bước theo Đức Giê-su trên con đường thập giá. Rước lá đi theo Chúa trong vài giờ là điều dễ. Theo Chúa giữa lúc Ngài được tung hô, chẳng khó khăn gì. Nhưng tiếp tục theo Ngài và ở lại khi Ngài bị mọi người bỏ rơi, điều đó khó hơn nhiều.

Pascal đã nói: “Chúa Giê-su sẽ còn hấp hối đến tận thế”. Mỗi năm có hàng triệu thai nhi bị loại khỏi lòng mẹ một cách bất công. Và còn bao nhiêu người đang ở trong điều kiện sống chẳng xứng với phẩm giá của mình. Đó chính là Đức Ki-tô đang hấp hối giữa thế giới hiện đại. Chúng ta vẫn gặp những ki-tô hữu đang bị lo lắng, buồn rầu, ấm ức… dày vò nghiền nát. Đó chính là Đức Ki-tô đang hấp hối trong nhiệm thể Ngài. Và chính đời sống chúng ta nhiều khi cũng nhuốm phiền muộn, bất an, lo sợ, nghi ngại và xáo trộn. Nếu ta biết đón nhận với lòng khiêm tốn và tình yêu để cứu rỗi thế gian thì trong ta, Đức Ki-tô cũng đang tiếp tục hấp hối và thân thưa với Chúa Cha rằng: “Xin đừng theo ý con, nhưng xin vâng ý Cha hoàn toàn”. Đã hơn 2000 năm rồi, tất cả những gì đã xảy ra dường như vẫn đang còn diễn lại. Chúng ta vẫn đang cùng Đức Giê-su đi vào đời và ở trong đời với lý tưởng cứu thế. Chớ gì lời Đức Giê-su mời gọi: “Hãy vác thập giá mình hằng ngày” (Lc 9, 23) luôn vang vọng bên tai chúng ta mỗi khi phải đối mặt với thử thách hay khi bị lăng nhục nhạo cười… Sau khi đã hiểu thấu ý nghĩa cuộc khổ nạn của Chúa, hẳn chúng ta sẽ thấy yêu Thánh Giá của Chúa hơn, và cũng mến Thánh Giá của mình hơn, đồng thời biết kính trọng Thánh Giá của người khác nữa.

Chiêm ngắm Đức Giê-su chịu Thương Khó, có lẽ mỗi người chúng ta đều rất sốt sắng với lời hát: “Ôi bởi con mà Chúa mang thảm hình… Xin giúp con đường thiêng liêng theo lối…” Chớ gì chúng ta luôn có được tâm tình của Đức Giê-su hôm nay, để hân hoan tiến bước vào đời tiếp tục con đường nên Thánh và cứu thế của Ngài, Con Đường Tình Yêu dẫn tới Giê-ru-sa-lem Thiên Quốc.

________________

24. Chú giải của Noel Quesson.

(Mc 14,1 – 15,47)

Trang Tin Mừng hôm nay muốn giúp mọi Kitô hữu đang ước ao sống trọn một tuần lễ “thánh”. Những lễ nghi trong tuần này là những lễ nghi đẹp đẽ nhất, ý nghĩa nhất trong năm. Nhưng chúng ta chỉ thực sự sống những lễ nghi đó cách nội tâm, nếu cá nhân mỗi người trong ta đã suy gẫm những “biến cố” tạo nên “tuần lễ” này, chắc chắn, đó là những biến cố quan trọng nhất trong lịch sử nhân loại: Chúng ta đã làm nghiêng ngả dòng lịch sử và thay đổi bộ mặt hành tinh trái đất chúng ta.

Đọc bài thương khó một lần, cách phớt qua, là không đủ. Cần phải để cho nó thẫm nhiễm trong ta. Nên đọc đi đọc lại. Chúng ta chưa lưu ý đúng mức “vị trí” mà bài thương khó nắm giữ trong toàn bộ “Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô”! Trong trình thuật của Mác-cô, bài thương khó là phần thứ năm của Tin Mừng. Ngày nay, chúng ta sẽ nghĩ gì về một tiểu sử, màphần quan trọng nhất trong đó, lại dành để kể lại cái chết của một nhân vật ta muốn nói tới? Ta lại càng ngỡ ngàng hơn khi những trình thuật đó đã được viết sau sự kiện sống lại, bởi những người đang sống trong ánh sáng của biến cố Phục sinh vinh hiển. Thế mà, các nhà trước tác lại không nhấn mạnh đến biến cố Phục sinh đó. Trong bản văn bằng tiếng Hy-Lạp của Mác-cô, bài thương khó đã chiếm tới 160 dòng chữ viết…và cuộc Phục sinh chỉ có 46 dòng, hay 19 dòng, nếu ta không kể những câu 16,9 đến 20, là những câu được một người khác với Mác-cô thêm vào văn bản sau đó.

Đúng vậy, cái chết cua Đức Giêsu phải là vấn đề chủ yếu: có một “bí mật” nào đó cần phai được khám phá.

Còn tôi, các ông chẳng có mãi đâu!… Điều gì làm được thì cô đã làm: “Cô đã lấy dầu thơm ướp xác tôi để chuẩn bị ngày mai táng” (Mc 14,8).

Toàn thể phần đầu Bài Thương Khó (14,1-42) kể lại “âm mưu ám hại Đức Giêsu”, “việc xức dầu tại Bê-ta-ni-a”, “Giu-đa phản bội”, “chuẩn bị mừng lễ Vượt qua”, “báo trước việc Giuđa phản bội”, “thiết lập Bí tích Thánh Thể và “cơn hấp hối tại Ghét-sê-ma-ni”… tất cả những chi tiết đó cho ta thấy, Đức Giêsu bắt đầu sống trong nội tâm Ngài Cuộc thụ Khổ, trước khi nó diễn ra trên thân xác cách cụ thể. Các bạn hãy đọc 42 dòng đầu chương 14 của Máccô. Trong khi đọc như thế, các bạn hãy tìm hiểu tư tưởng và tâm tình của Đức Giêsu. Phải, trước khi xảy ra cuộc bắt giữ, khởi đầu cho tiến trình thụ khổ bên ngoài, Đức Giêsu đã sống trọn vẹn cuộc thụ khổ đó trong lương tâm, trong ý thức trước về việc tự nguyện dâng hiến của mình: Người đã thấy trước mình sẽ được “mai táng” (14,8), “bị phản bội” (14, 10.14,17), “phải đổ máu” (14,24), “bị mọi người bỏ rơi và bị Phêrô chối từ” (14, 27-30). “hấp hối” (14,34-36) Nhưng Đức Giêsu đã bắt đầu ý thức vấn đề sớm hơn nhiều. Thế thì Người đã nói đến cái chết sắp tới của Người từ lúc nào? Hiển nhiên hơn cả là lúc “Phêrô tuyên xuống Đức tin tại Xê-da-rê (Mc 8,31): kể từ ngày đó, đã ba lần Đức Giêsu nói với các bạn hữu Người về cái chết dữ dằn và khổ nhục của mình (Mc 8,3,31 – 9,30 – 10,33). Nhưng cũng cần phải ngược lên xa hơn. Các bạn hãy đọc câu 14 của chương I Tin Mừng Mác-cô: Đức Giêsu tiếp tục sự nghiệp của Gioan Tẩy Giả, khi Người biết rằng điều đã xảy đến cho cái ngôn sứ sẽ xảy đến cho ông và cũng xảy đến cho Người. Do đó, Đức Giêsu trải qua phần lớn đời Người, trong sự cảm nhận trước cái chết của mình. Phần chúng ta thì sao? Chúng ta có tìm cách tránh né khỏi phải nghĩ đến cái chết không? Đối với chúng ta, cái chết của ta không phải là “tác động” quan trọng nhất của đời người và hướng dẫn mọi hành động khác sao?

 

Bữa ăn vượt qua (Mc 14,12.13.14.16).

Trong đoạn này, đã bốn lần sử dụng từ “Vượt qua”. Lễ Vượt qua của người Do Thái là để tướng niệm công cuộc “giải phóng”! Một dân tộc bị áp bức tự giải phóng mình với sự trợ giúp của Thiên Chúa. Trong những đau khổ trần gian những gì áp đặt ta, không gì có thể hủy diệt ta, kể cả trong cái chết của mình … nhờ đức tin, chúng ta có thể tiếp gặp sự hiện diện tuy bí ẩn nhưng hiển nhiên của Thiên Chúa, để giúp ta vượt thoát nhưng khó khăn đó, tới hạnh phúc bát diệt. Đức Giêsu đã trải qua cái chết của Người như một cuộc “vượt qua”: thay vì trốn chạy thực tế đau đớn và nhục nhã của thân phận làm người, Người đã phó mặc cho số phận bằng một thái độ liên kết yêu thương với Thiên Chúa! Cảm nghiệm về cái chết như thế, Người đã “thay đổi ý nghĩa” cho nó: “Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập giá” (Pr 2,8). Lạy Chúa, Xin. cho con biết chấp nhập mọi trái ý trong cuộc sống: đau khổ, thử thách, bệnh tật, già nua, thất bại, cô đơn, tội lỗi… như một cuộc vượt qua, như một bước đường dẫn đến Chúa.

Đây là Mình Thầy… Đây là Máu Thầy… Đức Giêsu đã nói như thế, sau khi dâng lời chúc tụng Thiên Chúa.

Chúng ta hãy ghi nhận một số chi tiết lý thú: trong Tin Mừng Mác-cô, Đức Giêsu “truyền phép rượu”, sau khi các môn đệ đã uống rượu đó (“tất cả đều uống” câu 23… Người bảo họ: “Đây là Máu Thầy câu 24…). Chi tiết này có thể dẹp bỏ những tranh cãi về phụng vụ và các nghi thức chặt chẽ… như thể tuyệt đối đọc những lời trên bằng tiếng La-tinh hay tiếng địa phương, rước lễ trên tay hay phải đặt Mình Thánh nơi miệng… Lạy Chúa, xin giúp chúng con đừng quá để ý đến những chuyện tầm phào đó, nhưng hãy tiến vào tình yêu mầu nhiệm của Chúa, Đấng đã phó mình trước, cách vui tươi, trong một thái (độ “tạ ơn” (câu 22) “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hi sinh mạng sống mình” (Mc 10,45; Ga 10.18). Còn chúng ta thì sao? Tại sao chúng ta không lợi dụng việc suy niệm cuộc thướng khó để “ngay từ bây giờ và một cách tự nguyện hiến dâng” cái chết của ta, hợp ý cùng cái chết của Đức Giêsu? Đó là cách thế tuyệt diệu giúp chúng ta không còn sợ cái chết nữa, nhưng có thể bình thản nhìn nó đến, trong bình an, như Đức Giêsu và cùng với Người.

Chẳng bao giờ Thầy còn uống rượu nho này nữa, cho đến ngày được uống thứ nrợu mới trong nước Thiên Chúa.

Đó là niềm vui, sự yên tĩnh, an bình biết bao! Đó là thái độ thanh thản chờ đợi “ngày đó”, ngày của Thiên Chúa, ngày mà Thiên Chúa cuối cùng sẽ hiển trị, ngày mà tất cả sẽ là sự sống, tình yêu, hạnh phúc, bữa tiệc mới, rượu mới… ngày đó “sẽ không còn sự chết, cũng chẳng. còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, nhưng là tiệc cưới của con chiên” (Kh 21,4)… đó là “ngày cuối cùng”, kết thúc thời gian, hoàn tất công trình của Thiên Chúa, ngày thế mạt… và tất cả chúng ta đang tiến tới ngày đó . Lạy Chúa, xin tạ ơn Chúa . Chớ gì mỗi bữa tiệc thánh thể là bước chuẩn bị dẫn chúng con tới bữa tiệc? rượu mới trong nước của Chúa Cha”, trong tình yêu.

 

TIẾN ĐẾN TÌNH TRẠNG CÔ ĐỘC HOÀN TOÀN.

Chúng ta hãy theo sát Đức Giêsu. Người báo trước: “mọi người ” sẽ bỏ rơi Người (Mc 14,27), Phêrô, người có trách nhiệm, sẽ chối từ Người (Mc 14,30). Người chọn “ba ” người trong các môn đệ để ở bên Người trong cơn hấp hối, và ba lần Người trở lại với họ để nài xin họ cùng thức, nhưng họ đều “ngủ” cả (Mc 14,33-37.40–41), tất cả đều “bỏ Người trốn chạy hết” (Mc 14,50)… và trên thập giá, người cảm thấy ngay Thiên Chúa cũng bỏ rơi Người (Mc 15,34). Thật là cô độc hoàn toàn. Mọi người đều phải chết cách cô lẻ. Đức Giêsu đã không tìm cách tránh né. Người vâng theo định mệnh con người”.

Anh em ngồi lại đây. Thầy đi cầu nguyện (Mc 14,32)… Lạy Cha Cha có thể làm được mọi sự. Xin cho con khỏi uống chén đắng này. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (14,36).

Vào lúc ba giờ chiều, Đức Giêsu kêu lớn tiếng: “ê-lô-I, Ê-lô-i, La-ma-sa-bác-tha-ni!” nghĩa là: “Lạy Thiên Chúa của con, sao Chúa nỡ bỏ con” (Mc 15,34). Như thế, trong cuộc thụ khổ, Đức Giêsu không ngừng cầu nguyện. Trên đây là hai lối cầu nguyện: cầu nguyện tại Ghét-sê-ma-ni và cầu nguyện tại Gôn-gô-tha. Máccô còn cho ta biết, Đức Giêsu đã cầu nguyện bằng tiếng mẹ đẻ tiếng A-ra-mên, thứ tiếng mà khi Người còn là cậu bé, Đức Maria đã dạy Người cầu nguyện: “Ap-ba” có nghĩa là “Ba ơi”, “Ê-lô-i” có nghĩa là “Thiên Chúa của con”… Lạy Chúa, xin giúp con khi gặp đau khổ dám cầu nguyện thưa gửi như Chúa:

1. Xin cho con khỏi đau khổ này!

2. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.

Nếu tôi có sách Kinh thánh (nhưng một gia đình Công giáo đã chắc gì có Kinh thánh!), tôi sẽ đọc lại trọn Thánh Vịnh 21. Đức Gỉêsu đã dùng Thánh Vịnh này để cầu nguyện trên thập giá. Khởi đầu Thánh Vịnh hoàn toàn có tính chơ vơ cô lẻ nhưng khi kết thúc thì lại hớn hở mừng vui một cách hết sức nghịch lý. Đây là một trong những chìa khóa bí mật của huyền nhiệm mà ta đang tìm hiểu trong cuộc thương khó này.

 

HAI LỜI TỐ CÁO ĐỂ NÓI TRƯỚC MẶT THIÊN HẠ RẰNG: ĐỨC GIÊSU LÀ “CON THIÊN CHÚA” VÀ LÀ “VUA”.

Trong Tin Mùng Mác-cô, có hai lời tố cáo Đức Giêsu: Một lời tố cáo có tính “tôn giáo” (Mc 14,53-65), trước Thượng hội đồng, trước “tất cá các vị Thượng tế… và một lời tố cáo mang tính “chính trị ” (Mc 1 5, 1 -20), trước Phi -la-tô, viên tổng trấn đại diện cho Rôma…để “bí mật ” về căn tính đích thực của kẻ bị kết án đó, Đức Giêsu Na-da-rét, được công bố trước mặt thiên hạ.

 

Ông có phải là Đấng Kitô, con Đấng chí tôn không?

Phải, chính thế. Rồi các ông sẽ thấy con người ngự bên hữu Đấng toàn năng, và còn thấy Người ngự giá mây trời mà đến.

 

Ông là Vua dân Do Thái sao? Đúng như Ngài nói đó.

Bây giờ “bí mật” đã được tiết lộ. Cuối cùng thì Đức Giêsu cũng đã nói ra Người là ai. Trong suốt đời sống công khai của mình, Đức Giêsu đã yêu cầu mọi người đoán nhận ra bí mật này phải im lặng, bởi vì con người chỉ có thể “hiểu được” Thiên Chúa, khi nhìn lên thập giá: Người là “Con”, nhưng không như con người nghĩ tưởng. Người là “Vua”, nhưng không như người ta chờ mong. Người con đó hoàn toàn yêu thương, không giữ lại cho mình chút nào: Đó là tình yêu tuyệt đối, liều chết cho “kẻ khác”… ông Vua này yêu thương trọn vẹn, không dành quyền thống trị: mà trở nên “tôi tớ”, tặng ban mạng sống mình cho “muôn dân”.

Đây là một điều hết sức mới lạ, hết sức gây ngo ngàng, đến nỗi không ai có thể hiểu được: những kẻ qua đường thì “lắc đầu” trước ông Vua người Do Thái này (Mc 15,29-30), những người tố cáo thì tiếp tục buộc Người muốn phá Đền thờ (14,58), các thượng tế vẫn nghĩ rằng’nếu là Thiên Chúa thì hẳn là sẽ xuống khỏi thập giá (15,31-32), hai tên trộm cướp bên tả và bên hữu thì sỉ nhục Người (15,32), còn các tông đồ thì chẳng thấy mặt mũi đấu cả!

Viên đại đội trưởng đứng đối diện với Đức Giêsu, thấy Người tắt thở như vậy liền nói: “Quả thật, ông này là con Thiên Chúa”.

Ta cần ghi nhận, cách Đức Giêsu chết đã làm phát sinh thái độ Đức tin trên… chứ không phải biến cố “Phục sinh” xảy ra sau này. Phải, trước khi suy niệm về cuộc sống lại vinh hiển, cần phải suy gẫm về “cái chết” của Đức Giêsu: Cái chết này nói lên nhiều điều. Lạy Chúa, qua cái chết đó, Chúa nói gì với con? Con sẽ đọc lại trình thuật này… Con sẽ lắng nghe… bí mật của Chúa.

_____________

25. Chú giải mục vụ của Jacques

Hervieux

ĐẤNG MÊSIA TIẾN VÀO THÀNH GIÊRUSALEM (Mc 11,1-11)

Sau một cuộc hành trình dài, Chúa Giêsu cũng các môn đệ đã đến Giêrusalem. Đây chính là thời kỳ quan trọng –Maccô cũng như ba vị thánh sử kia (Mt 21,1-10; Lc 19,28-40; Ga 12,12-19), đã kể lại biến cố này bằng một bối cảnh rất rõ ràng. Bản tường thuật của Maccô đầy tràn các hình ảnh Kinh Thánh. Nghĩa là các Kitô hữu sơ khai vẫn ấp ủ và chiêm ngắm việc Chúa Giêsu vào thủ đô như là hình ảnh báo trước việc Đấng Phục Sinh sẽ trả lời trong vinh quang.

Bối cảnh cho giai đoạn này cũng rất đặc sắc. Từ Giêricô, Chúa Giêsu tiến về thành thánh từ hướng đông. Ngài băng qua các làng Betphaghê và Bêtania, theo hướng xuôi xuống triền núi Ôliviê (c.2a). vào thời Chúa Giêsu, có một truyền thống Do Thái xa xưa cho rằng chính Thiên Chúa –và Đấng Mêsia của Ngài- chắc chắn sẽ theo lộ trình đó để đến phán xét vào thời cuối cùng. “Vào ngày ấy, Người sẽ dừng chân trên núi Ôliviê đối diện với Giêrusalem về hướng đông” (Dc 14,4). Chính bối cảnh tiên tri này đã mang lại âm sắc độc đáo cho biến cố xảy ra ngay sau đoạn khơi mào: sự thanh tẩy Đền thờ (11,15-18).

Trong lúc ấy, việc Đấng Mêsia vào thành vẫn chưa mang vẻ uy nghi gì cả. Chúa Giêsu chưa phát biểu gì. Ngài chỉ phái hai môn đệ đi tìm cho Ngài một con vật để cỡi (c.1b-6). Kiểu tường thuật này được lặp lại trong việc chuẩn bị chi cảnh cuối cùng (14,12-16). Trong cả hai lần, Chúa Giêsu muốn chính mình sắp đặt mọi sự, và muốn mọi việc Ngài ủy thác phải được thi hành hoàn hảo. Điều này càng nhấn mạnh tính chất linh thiêng của biến cố sắp xảy ra. Đó là một sáng kiến cao cả và hoàn toàn không do ngẫu nhiên. Việc Chúa Giêsu ra lệnh đem về cho mình “một con lừa nhỏ có cột dây, chưa có ai cỡi” (c.2) rất đáng ta chú ý đến. Con vật đó phải còn nguyên tuyền, chưa ai dùng đến. Đó phải là một con vật thánh. Ở xứ Israel, lừa là một gia súc quen thuộc với công việc gia đình. Và trong Thánh Kinh, đó là con vật để cỡi theo truyền thống của vua chúa (1V 32-35). Chính trong trường hợp này, qua việc chọn lấy một con lừa, Chúa Giêsu đã hoàn tất một trong những lời tiên tri mang tính Mêsia được biết đến nhất. “Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy vui lên! Này đây Vua ngươi ngự đến, Ngài công minh và vinh quang, nhưng khiêm tốn cỡi trên lừa còn nhỏ. Ngài sẽ cất khỏi Êphraim các cỗ chiến xa và khỏi Giêrusalem các xe trận. Người sẽ bẻ gẫy cung nỏ chiến tranh và tuyên bố hòa bình cho mọi dân nước” (Dc 9,9-10).

Nghịch lý đã được bộc lộ ra ở đây. Chúa Giêsu muốn tỏ mình ra là Đấng Mêsia của Israel. Ngài khiêm hạ, đem đến sự an bình. Con vật tầm thường của Ngài cỡi trái ngược hẳn với đoàn hộ tống của vua chúa thân chinh: ngựa chiến oai phong, chiến xa. Trang phục kín đáo của Ngài cũng không xứng với danh xưng dân chúng gán cho Ngài. Ngài là “Chúa” (c.3). Dưới ngòi bút của Maccô, tước hiệu này có lẽ chỉ là do sự lầm lẫn khi viết ra. Maccô rất ít khi dùng đến tước hiệu này khi Chúa Giêsu còn sống (7,28 và 12,36-37). Trước tiên, nó muốn ám chỉ Đấng mà các Kitô hữu sẽ thờ phương sau khi Ngài sống lại vinh quang, đó chính là Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ.

Những câu 7-10 gợi lên nghi thức phong vương. Các môn đệ dắt lừa con tới, trải áo làm yên, Chúa Giêsu ngồi lên (c.7). Những cử chỉ này làm nhận biết tính cách vương đế của Thầy họ. Và dân chúng phấn khởi (c.8). Họ trải thảm cho Chúa Giêsu đi, thảm danh dự trong các ngày lễ thánh (xem chuyện Jêhu trong 2V 12b-13) #. Việc chặt lá cây là mượn hình ảnh ngày lễ Trại. Thời Chúa Giêsu vào dịp lễ này người ta hoan hỉ đón mừng vương quyền của Giavê. Niềm mong chờ Đấng Mêsia bỗng trở nên sống động nhờ một cuộc diễn hành trong đó dân chúng tán tụng Thiên Chúa, tay cầm các nhành vạn tuế và lá dừa (x. Lv 23,39-40) miệng tung hô.

Chúa Giêsu là vị anh hùng y như trong nghi thức trên đây. Người ta tung hô đón tiếp Ngài. Họ hoan hỉ hộ tống Ngài vào thành (c.9). những lời ca tụng tán dương dân chúng dành cho Ngài mang một sắc thái lễ nghi rõ rệt. Chúng được trích từ Thánh vịnh 118, và cũng được hát trong dịp lễ trại “Hosana!” là một từ ngữ Hy Bá Lai có nghĩa “Xin cứu giúp chúng tôi!”. Dần dà, lời kêu cầu xin giúp đỡ này trở thành một tiếng tán dương, một lời “hoan hô”. Chúa Giêsu đã được hoan hô, được công nhận là Mêsia, “Đấng sẽ đến” (Tv 118,26). Maccô còn làm cho thời điểm này mang tính Mêsia hơn khi ông thêm vào: “Vạn tuế vạn phúc triều đại đang tới, triều đại vua Đavit, tổ phụ chúng ta” (c.10a). dân chúng nhận ra Chúa Giêsu là Con Vua Đavít, vị vua đã hoàn thành được những lời hứa hẹn của Thiên Chúa với các vị vua Giuđa (2V 7,12-16). Tiếng kêu cuối cùng của dân chúng có thể khiến ta ngạc nhiên, tựa như một âm vang: “Hoan hô Chúa!” (c.10b).

Sau cùng, thánh sử khéo léo ghi nhận đích đến của đám rước hoan hỉ này: “Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem và đi vào Đền thờ” (c.11a). Vị Vua Mêsia hoàn tất cuộc diễn hành tại nơi trung tâm của thành thánh: nơi thờ phượng Thiên Chúa. Toàn bộ hành trình của Chúa Giêsu hướng về Giêrusalem như nơi Ngài chọn để hoàn tất sứ vụ. Những cuộc gặp gỡ, tranh luận sau đó đều xảy ra xung quanh hoặc chính trong nơi thánh này của Israel (11,12-12,44). Những từ Maccô dùng để kết thúc bản tường thuật không làm ta ngỡ ngàng chút nào. Khi đã vào đền, Chúa Giêsu “rảo mắt nhìn xem mọi sự” (c.11b). Chắc hẳn Thầy đã biểu lộ sự hiện diện uy nghi của mình qua việc đảo mắt dò xét xung quanh. Và Maccô biết điều bí mật đó.

Nhưng trong cái nhìn của Chúa Giêsu vẫn ẩn náu một vẻ bình thản lạ lùng. Hội hè lễ lạc đã xong hẳn. Một tấn kịch đang hình thành và sắp mở màn. Ngài đợi đến ngày hôm sau mới ra tay hành động bởi vì trời đã về chiều. Chúa Giêsu cùng với Mười Hai môn đệ trở về nghỉ ở Bêtania (c.11b). Cuộc rút lui chiến thuật này thật đầy ý nghĩa. Bêtania, tiếng Hy Bá Lai có nghĩa là “nhà của kẻ nghèo”. Với vẻ trang trọng lạ thường, việc Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem có thể làm người ta quên đi điều này: Con Người đến đó để trải qua cuộc khổ nạn (10,32-34).

Người ta thường cho rằng cuộc khải hoàn của Chúa Giêsu vào Giêrusalem chỉ xảy ra vắn vỏi. Mọi người đều tin rằng bản văn tường thuật hiện nay chỉ mang màu sắc hội hè sau khi Chúa Giêsu Phục Sinh mà thôi. Cộng đoàn sơ khai hẳn rất thích thú đọc lại, qua ánh sáng Kinh Thánh, về một biến cố nguyên tuyền, đồng thời lại khiêm nhường nhất. Gioan đã nói lại điều đó khi ông viết: “Thoạt đầu các môn đệ không hiểu điều này, nhưng khi Chúa Giêsu đã được vinh hiển rồi, họ mới nhớ lại rằng điều đó chỉ về Ngài…” (Ga 12,16). Chúng ta chỉ kết luận rằng vào dịp lễ độc đáo đó, Chúa Giêsu đã được dân chúng tiếp rước nồng hậu nhưng vẫn hàm hồ. Những biến cố kế tiếp sẽ chứng tỏ điều này.

 

ÂM MƯU CHỐNG LẠI CHÚA GIÊSU (14,1-2)

Lần đầu tiên độc giả có dịp đặt mình vào bối cảnh “Lễ Vượt Qua”. Trước kia, Vượt Qua chỉ là một dịp lễ hội của dân du mục. Vào mùa xuân, khi gia súc đã qua mùa sinh sản, người ta dâng cúng cho thần thánh các con chiên sinh ra đầu tiên (x. Xh 12,1-11). Đến khi dân Israel đã định cư, họ tổ chức một lễ hội khác, cũng mang dáng dấp nông nghiệp như trên, gọi là “bánh không men”. Họ mừng mùa gặt mới. Hai lễ hội này –Vượt Qua và bánh không men- nhanh chóng được nhập làm một với nhau. Thay vì tổ chức mừng đón thiên nhiên đâm chồi nẩy lộc khi xuân đến, họ lại tưởng nhớ việc được giải phóng khỏi ách nô lệ (ra khỏi xứ Ai Cập) và thiết lập dân Thiên Chúa (Dt 16,1-8). Ở Israel, Vượt Qua đã trở thành lễ hội quan trọng và lớn nhất của dân Do Thái. Do đó không phải ngẫu nhiên mà bản tường thuật khổ nạn lại được đặt vào khung cảnh của lễ hội này. Nó tạo nên một bầu khí phụng vụ rõ nét.

Và thế là một sự diễn ra rất chính xác (c.1b). Trước đây ta thấy đã có một âm mưu chống lại Chúa Giêsu, dù mới chỉ là nét phác họa sơ sài (c.3,6). Nhưng âm mưu này chỉ liên quan đến nhóm biệt phái và các kẻ thuộc phe Hêrôđê. Nhưng khi Chúa Giêsu trở lại Giêrusalem, kế hoạch bắt Ngài được vạch ra chính xác hơn, phát xuất từ giới tư tế, và được giới thường dân hùa theo, nhất là sau “vụ việc” Đền thờ (11,15-18; 12,12). Đến bây giờ các thượng tế, với sự giúp đỡ của các ký lục, đang cố tìm ra cách thức cụ thể để bắt Chúa Giêsu. Họ “tìm mưu” hầu tránh gây kích động nơi dân chúng (c.2). Vào dịp lễ Vượt Qua rất nhiều khách hành hương tuôn về Giêrusalem, họ là những người Do Thái tản mác khắp bốn phương thiên hạ. Đó hẳn là một thời cơ thuận lợi để nổi dậy: Vả lại, Chúa Giêsu được dân mến mộ vì những lời giảng dạy sáng chói trong Đền thờ (12,12-57). Các thủ lãnh Do Thái phải nhanh chóng hành động, trước khi ngày lễ bắt đầu: phải đảm bảo trật tự công cộng.

 

XỨC DẦU THƠM Ở BÊTANIA (14,3-9)

Đây chính là lời dẫn nhập về Cuộc Khổ Nạn. Câu chuyện xảy ra ở Bêtania, một làng nhỏ gần Giêrusalem, nơi Chúa Giêsu thường ghé lại nghỉ ngơi khi rời thành Giêrusalem (11,11). Người tiếp đón Ngài không ai khác hơn là chính người phong cùi trước đây tên là Simon (c.3a). Ông đã được lành bệnh và đã tiếp đón Chúa Giêsu vào nhà mình.

Chỉ một mình Maccô ghi lại cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và một phụ nữ đang khi Ngài ngồi ăn ở nhà một người bạn (c.b). Ta không biết tên của người phụ nữ ấy. Tác giả Tin Mừng không chú trọng đến con người, mà là hành động của cô ta. Cô mang một bình dầu thơm quý, “rất tinh tuyền”. Có lẽ đó là loại dầu thơm chiết xuất từ một loài cây cỏ Ấn Độ. Đập bể bình ra, “Cô đổ dầu thơm trên đầu Người” (c.3c). Maccô nhấn mạnh đến sự hoang phí này. Người phụ nữ không ngần ngại đập bể bình để đổ thật nhiều và thật nhanh. Chuyện đổ dầu thơm lên đầu Chúa Giêsu là việc quá dễ dàng: Chúa Giêsu ngồi vào bàn theo lối xưa, nghĩa là Ngài tựa mình dài lên một cạnh bàn tiệc. Cử chỉ bất ngờ này mang ý nghĩa gì? Về phía người phụ nữ, chắc chắn đó là một cử chỉ tỏ lòng tôn kính Thầy. Có thể cô đã nhận ra tính cách Thiên sai nơi Chúa Giêsu. Bởi vì khi xức dầu lên đầu cho ai, người ta xác định kẻ ấy là vua. Theo như sự mong đợi của người Do Thái thì Đấng Mêsia đã được “xức dầu” (x. Is 61,1). Nhưng việc vừa xảy ra khiến các môn đệ Chúa Giêsu phản ứng dữ dội.

Người ta quên rằng ngoài Simon, Chúa Giêsu và người phụ nữ còn có nhóm Mười Hai môn đệ nữa chứ. Họ mới là những kẻ nổi xung lên, cho rằng làm như thế là phí phạm quá. Họ ước tính bình dầu thơm đó phải hơn ba trăm đồng: tương đương với ba trăm ngày công vất vả của một nông dân chớ đâu phải ít gì! (c.4-5). Thà rằng đem bán lấy tiền cho kẻ khó còn hơn. Lời phê phán này cũng có lý đấy chứ, nhưng Chúa Giêsu vẫn bênh đỡ cho hành vi của cô ấy: “Cô ấy vừa làm cho Tôi một việc nghĩa” (c.6). Các môn đệ phải nhận thức ra điều này. Người ta chẳng thiếu gì người nghèo để mà giúp đỡ. Hẳn thực là theo luật Môsê thì Thiên Chúa đã đòi hỏi dân Ngài phải ra tay cứu giúp kẻ bần hàn, xóa bỏ bất công: “Ước chi kẻ nghèo khó sẽ không có nơi ngươi” (Đnl 15,4). Nhưng cũng không nên quá nhiều ảo tưởng. “Vì sẽ không hề thiếu người nghèo khó trong xứ đâu. Bởi thế Ta truyền dạy rằng: Ngươi phải mở rộng tay ngươi cho anh em ngươi, cho kẻ bần cùng và nghèo hèn trên đất ngươi” (Đnl 15,11). Chúa Giêsu không hề phủ nhận việc phải cấp tốc giúp đỡ người nghèo. Ngoài ra, ngay chính trong đám môn đệ, vẫn có một kẻ đặc trách việc phân phát tiền bố thí. Theo Gioan, đó chính là phần vụ của Giuđa, thủ quỹ của nhóm Mười Hai (Ga 12,4-6). Vậy rõ ràng là các Tông đồ, mà đầu tiên là Giuđa, đã tỏ ra giả dối khi lên án người phụ nữ đó phí phạm. Và Chúa Giêsu bất ngờ mặc cho hành động của cô ta một ý nghĩa cao cả hơn thế nữa: vả lại, “Cô ấy đã lấy dầu thơm để chuẩn bị ngày mai táng” (c.8). Ý Chúa Giêsu muốn nói về hành động mang tính tiên tri của cô ấy. Cô đã thấy trước sự ướp thơm tử thi Chúa Giêsu. Đó là một việc rất có giá bởi lẽ ta nên nhớ rằng nấm mồ nơi chôn cất Chúa Giêsu là mồ của kẻ đã bị kêu án tử; phải nhanh chóng táng xác Ngài và cũng không cần chi mà phải ướp dầu thơm (15,46). Ta cũng nên lưu ý rằng theo đạo Do Thái hồi ấy, người ta vẫn thường coi trọng việc thực thi bác ái. Theo truyền thống thì chôn xác kẻ chết là một nghĩa cử rất đáng biểu dương, tương tự như việc bố thí cho kẻ nghèo khó vậy (x. Tb 1,16-18).

Chúa Giêsu đã không ngần ngại liên kết hành động của người phụ nữ vô danh đó với thảm kịch Ngài sắp phải chịu. Và Maccô cũng không bỏ qua việc kết thúc bài tường thuật bằng cách ghi nhận lời tuyên bố long trọng của Thầy mình là: Khắp cả thế giới hễ nơi nào được loan báo Tin Mừng, thì biến cố này cũng sẽ được biết đến (c.9). Khi ghi lại cảnh này, thánh sử biết rằng việc xức dầu ở Bêtania hẳn sẽ được nối kết với lời rao truyền “Tin Mừng” loan báo cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Ta nhận thấy Maccô rất quan tâm đến việc thông truyền Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô cho cả thế giới (1,1; 8,35; 10,29; 13,10). Tâm điểm của Tin Mừng này là cuộc khổ nạn và Phục Sinh của Đấng Mêsia, và dĩ nhiên, cử chỉ khiêm hạ của người phụ nữ kia phải chiếm một vị trí thích hợp ở đó.

 

NGẢ GIÁ ĐỂ GIUĐA PHẢN THẦY (14,10-11)

Như ta đã nói ở trên, trong số các môn đệ chống đối việc người phụ nữ xức dầu thơm cho Chúa Giêsu (14,3-9), chắc chắn có “Giuđa Iscariot, một trong nhóm Mười Hai” (c.10a). nhờ vào Tin Mừng Gioan, ta biết thêm rằng chính y là người quản lý tiền bạc cho nhóm Tông đồ. Ngoài việc lo lắng chi tiêu cho cả nhóm, y còn đảm trách luôn việc bố thí cho người nghèo. Vậy mà y chẳng bận tâm gì đến những nhiệm vụ ấy, bởi lẽ “y là một tên trộm cướp… y ăn cắp” hết thảy những gì người ta cho vào trong túi ấy (Ga 12,4-6). Và ta có cần phải tưởng tượng nhiều lắm mới nhận ra chính y là kẻ biển lận và dễ bị mua chuộc phản bội lại Thầy mình nhất không? Thực tế cho thấy rằng chính y là kẻ “đã đi gặp các thượng tế, để tính chuyện nộp Chúa Giêsu cho họ”. Bù lại, y sẽ nhận được tiền (c.10b-11a). Như thế mưu mô mà họ đã âm thầm nuôi dưỡng (14,1b) nay sắp tới lúc chín muồi. Và qua những dòng đơn sơ Maccô đã chỉ cho thấy rằng chỉ vì một lợi lộc bẩn thỉu một tên phản bội đã len lỏi vào hàng ngũ bạn hữu của Chúa Giêsu. Chúa đã chọn Giuđa làm Tông đồ như những Tông đồ khác, tin tưởng y, cùng sống với y và giúp đỡ y (3,13-19). Cần ghi nhớ rằng một trong những nguyên nhân dẫn Chúa Giêsu đến cái chết lại đến từ một trong các kẻ thân cận với Ngài.

Bây giờ Giuđa chỉ còn tìm dịp thuận tiện để giao nộp Chúa Giêsu (c.11b). Dịp này sẽ xảy ra trong vài giờ nữa, không cần phải chờ đến hết ngày (14,43-50).

 

CHUẨN BỊ CHO BỮA TIỆC LY (14,12-16).

Trình thuật này làm độc giả ngạc nhiên bởi vì được mô tả khá chính xác. Trước hết nó cho biết thời gian và ý nghĩa của bữa ăn tiệc ly Chúa Giêsu dùng chung với các môn đệ. Về thời gian, Maccô cũng như Matthêu (26,17-19) và Luca (22,7-13)-cho rằng bữa tiệc của Chúa Giêsu xảy ra trùng hợp với bữa tiệc Vượt Qua của người Do Thái, được tổ chức vào đêm trước lễ Vượt Qua (c.12a). và Chúa Giêsu cũng rất ít có được khả năng ăn mừng lễ Vượt Qua Do Thái. Bởi vì hôm sau, ngay chính lễ Vượt Qua, Ngài sẽ chết. Nhưng theo luật tòa án hồi bấy giờ, người ta không thể kêu án và xử án bất kỳ ai một khi lễ Vượt Qua đã bắt đầu. Về phương diện lịch sử, trình tự thời gian mà Gioan ghi lại có vẻ hợp lý hơn. Năm ấy, lễ Vượt Qua Do Thái xảy ra vào ngày thứ Bảy, ngày Sabbat (Ga 19,31). Chúa Giêsu bị đóng đinh vào trước hôm đó, ngày thứ sáu, vào giờ mà người ta cắt tiết chiên để ăn mừng lễ (Ga 18-28). Như thế, Chúa Giêsu dùng bữa tiệc ly cùng với các môn đệ vào ngày thứ Năm. Sự xê xích thời gian này rất quan trọng. Dù sao đi nữa, chính vì lễ đã quá gần nên mới có bữa tiệc này, và người ta nhận ra ngay là cả ba Tin Mừng nhất lãm đều biến bữa tiệc này thành tiệc Vượt Qua. Sự chết và sống lại của Chúa Giêsu gắn liền với “lễ Vượt Qua mới”: việc giải thoát khỏi ách sự Ác và sự Chết-Phaolô là người đầu tiên có thể nói lên: “Đức Kitô, Chiên Vượt Qua của ta, đã bị sát tế. Ta hãy mừng lễ, đừng với men cũ… nhưng với bánh không men của lòng tinh tuyền và chân thật” (1Cr 5,7-8)..

Bản tường thuật tiếp tục với một văn phong gần như kiểu chuyện “thần kỳ”. Các môn đệ hỏi Ngài về địa điểm dọn tiệc, Chúa Giêsu trả lời khá kỳ cục (c.13-15). Có hai điểm nổi bật trong đoạn này. Điểm thứ nhất là các môn đệ sẽ gặp một người đội vò nước. Lẽ thường thì chỉ có phụ nữ mới đi lấy nước. Như vậy, Chúa Giêsu đã mặc cho đặc điểm kỳ lạ này một dấu chỉ trù định trước. Điều kỳ cục thứ hai, đó là việc tìm được một căn phòng “đã sắp sẵn” cho bữa tiệc. Hình như Thiên Chúa đã quan phòng hết mọi sự, và Chúa Giêsu được coi như là một tiên tri biết hết mọi chuyện sẽ xảy ra, biết từng chi tiết một. Làm sao giải thích điều này? Hầu chắc là Maccô đã được linh hứng khi viết những trang này, theo kiểu viết Kinh Thánh thông thường hồi đó. Trong sách Samuel thứ I, tiên tri Samuel đã thấy trước được những lần gặp gỡ (theo thánh ý Chúa) và chàng trai trẻ Saul. Những cuộc gặp gỡ này phải chứng tỏ được rằng Thiên Chúa đã chọn chàng trai trẻ này để làm vua Israel (1S 10,1-10). Cũng tương tự như thế, cuộc gặp gỡ được báo trước hai môn đệ với người đàn ông đội vò nước sẽ là dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa đã quyết chọn Chúa Giêsu làm Vua -Mêsia. Đoạn này còn được xác quyết chắc chắn bằng một đoạn khác của Maccô: đoạn kể về việc Chúa Giêsu vào Giêrusalem (11,1-11). Ở đó, Chúa Giêsu cũng phái hai môn đệ đi trước để tìm gặp con lừa con. Biến cố này rõ rệt là mang tính chất Mêsia và lần nào thì sự việc cũng xảy ra y như những lời dặn dò trước cả. Mọi sự đều diễn ra phù hợp với nhận định tiên tri của Thầy (c.16).

Ta kết thúc đoạn này bằng cách lưu tâm đến việc lặp lại tới hai lần tính từ “Vượt Qua” (c.12b và 12d) và danh từ “vượt qua” (c. 14,16) là nhằm mục đích kêu mời độc giả chú trọng đến ý nghĩa tối hậu của bữa tiệc Chúa Giêsu sắp tham dự. Nó là dịp lễ mừng nhắc nhở lại việc ra khỏi Ai Cập, đồng thời chính là dịp loan báo sự chết và sống lại của Đấng Mêsia cứu thế.

________________

26. Chú giải của Fiches Dominicales

BÀI THƯƠNG KHÓ ĐỨC GIÊSU KITÔ THEO THÁNH MACCÔ

 

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

1. Một trình thuật có sự liên kết rất chặt chẽ.

Trình thuật Cuộc Khổ Nạn chiếm một khoảng lớn trong Tin Mừng Máccô, bởi vì nó chiếm đến hai chương, gồm một đoạn nhập đề và hai phần, tất cả đều liên kết với nhau rất chặt chẽ.

Nhập đề (14,1-11) mở đầu trình thuật bằng ba phối cảnh, hướng dẫn độc giả vào cuộc, đó là:

+ Âm mưu chống Đức Giêsu, nguồn gốc của tấn thảm kịch (14,1-2).

+ Xức dầu tại Bêtania (4,3-9), cử chỉ có tính tiên tri báo trước việc táng xác.

+ Giuđa phản bội (4,10-1 1) khai mào thảm kịch.

- Phần thứ nhất (14,12-52) của trình thuật xoay quanh bữa tiệc Vượt Qua của Đức Giêsu với các môn đệ.

+ Chuẩn bị bữa Tiệc ly (14,12-16).

+ Thông báo việc Giuđa phản bội (14,17-21).

+ Đức Giêsu lập Bí tích Thánh Thể (14,22-26).

+ Tiên báo việc Phêrô chối Người (14,27-31).

+ Lời cầu nguyện trong vườn Ghetsêmani (14,32-42).

+ Đức Giêsu bị bắt (14,43-52).

- Phần thứ hai dẫn chúng ta vào giữa tấn thảm kịch, qua việc Xét Xử và Lên án Tử cho Đức Giêsu (14,53-15,47).

+ Vụ Xét Xử diễn tiến trong hai giai đoạn:

Toà án Do Thái, trước Thượng Hội Đồng (14,53-65)

Toà án Rôma, trước tổng trấn Philatô (15,1 -15). Trong hai giai đoạn này, có kèm hai sự cố.

Phêrô chối Thầy (14,66-72)

- Quân lính nhạo cười Chúa (1 5,16-20)

+ Thi hành án tử cho Đức Giêsu (15,21 -47).

- Đức Giêsu bị đóng đinh trên thập giá (1 5,21 -32)

- Đức Giêsu chết trên thập giá (15,33-41): trọng tâm của trình thuật.

Sau cùng, Đức Giêsu được mai táng.

 

2. Chóp đỉnh của trình thuật: một người ngoại giáo tuyên xưng đức tin.

Trong khuôn khổ của quyển sách này, chúng tôi không thể quảng giải từng chi tiết của trình thuật, chỉ xin nhấn mạnh một vài điểm tiêu biểu mà thôi.

- Những biến cố được thuật lại cách hờ hững, làm chúng ta bực bội. Như thế, cùng với Máccô và các môn đệ, ta có thể nhận thức được rằng: việc thực thi kế hoạch của Thiên Chúa làm cho con người cảm thấy thật hụt hẫng. Thập giá đúng là cớ vấp phạm. Vậy mà chính ở đó mầu nhiệm Con Thiên Chúa được mạc khải! (E.Charpentier, trong “Lire ba Bible” số 55, trang 1 13).

Sự Thinh Lặng của Đức Giêsu thật đáng kinh ngạc.

E.Charpentier, giải thích: “Đức Giêsu biết rằng mầu nhiệm của Người vượt quá tầm hiểu biết của loài người. Người biết rằng: chúng ta bị “tắc nghẽn”. Bởi vậy, trong cuộc đời công khai, Người đã từ chối nói ra Người là ai. Trong cuộc thương khó, Người chịu vén mở một chút bức màn thinh lặng bởi vì Người đã bị kết án tử và không còn nguy cơ diễn dịch danh hiệu của Người theo nghĩa ham muốn quyền lực, ” (Sđd) .

Mặc dù bị thúc bách bởi những câu thẩm vấn, Người chỉ mở miệng ba lần sau khi bị bắt:

+ Khi vị thượng tế hỏi Người có phải là Đấng Mêsia, Con Thiên Chúa không, Người đáp: Phải, chính thế. Rồi Người giới thiệu mình là “Con Người”, Đấng mà ngôn sứ Đaniel đã loan báo sẽ đến vào ngày tận thế, để phán xét chung.

+ Khi Philatô hỏi với ẩn ý chính trị rằng Ngài có phải “Vua dân Do Thái” không, Đức Giêsu xác nhận lời ông: “Chính như ngài nói đó”. Nhưng rồi Ngài thinh lặng (“Đức Giêsu không trả lời gì nữa”) ngay cả khi liên quan đến số phận Ngài; điều đó nhắc ta nhớ “Người Tôi Tớ đau khổ trong sách Ngôn sứ Isaia: “Bị ngược đãi Người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xé lông ” (Is 53, 7) .

+ Sau cùng, trên thập giá, Người mượn lời kêu than của người vô tội bị bách hại trong TV 21: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con” để nói lên tiếng than van trong cơn nguy khốn và kết thúc bằng lời ca hy vọng tuyệt vời.

Sự Cô Đơn nghiệt ngã của Đức Giêsu nổi rõ trong Tin Mừng Máccô: Bị mọi người bỏ rơi, Người bước đi thui thủi một mình trong đêm tối thập giá.

- Chính trong giờ phút Đức Giêsu chết bị mọi người bỏ rơi, trong khi gánh mọi đau khổ, mọi tang tóc của nhân thế, chúng ta nghe vang lên Lời Tuyên Xưng Đức Tin của viên sĩ quan Rôma, chóp đỉnh của Tin Mừng: Quả thật người này là Con Thiên Chúa”.

- J. Hervieux nhận xét: “Máccô đã tô đậm sự cố này. Trong nhân vật sĩ quan Rôma, (người đứng trông coi việc thi hành án tử), ông nhìn thấy các dân ngoại đang ăn năn trở lại. Ngay lập tức, người ngoại này đã tặng Đức Giêsu danh hiệu cao cả trên mọi danh hiệu. ngài không những là Đấng Mêsia dân Do thái trông đợi mà còn là “Con Thiên Chúa”. Tác giả đặt vào danh hiệu này ý nghĩa mạnh mẽ nhất để chứng tỏ nét độc đáo trong đức tin Kitô giáo: Thiên Chúa làm trong Đức tin Kitô giáo Thiên Chúa làm người trong Đức Giêsu Kitô.

Người ta nhận ra cảnh trái ngược trong trình thuật: trong khi người Do Thái (đám đông qua lại, các lãnh đạo dẫn đầu) chỉ biết cười nhạo, báng bổ Đấng Mêsia bị đóng đinh, thì một người dân ngoại lại nói lên lời biểu lộ một đức tin tinh tuyền nhất (…).

Đồng thời Máccô dẫn độc giả tới chóp đỉnh của Tin Mừng. Ngay từ đầu sách, ta còn nhớ câu hỏi về Đức Giêsu: “ Ông này là ai” Với lời tuyên xưng của Phêrô, đại diện cho nhóm Mười Hai, ngưỡng cửa thứ nhất đã được bước qua: Đức Giêsu chính là Đấng” Mêsia (8,29). Nhưng đức tin mới chớrn nở còn cần phải đào sâu. ” Cuộc khổ nạn và cái chết của Đức Giêsu đã tạo điều kiện cho việc đó. Với việc viên sĩ quan tuyên xưng đức tin, bước quyết định đã hoàn tất: Đức Giêsu là “Con Thiên Chúa, điều mà Tihên Chúa Cha đã công bố khi Đức Giêsu chịu phép Rửa (1, 11). Và, theo nguyện ước của Đức Giêsu khi xảy ra biến cố tẩy uế Đền Thờ, giờ mọi dân tộc có thể nhận biết sự hiện diện của Thiên Chúa (11,17). Đã hẳn, nhờ ánh sáng của Chúa Phục Sinh và việc dân ngoại gia nhập Giáo Hội sơ khai, tư tưởng cao siêu này mới được hình thành. Hơn nữa, nó còn là kết quả của một cuộc suy tư dài lâu nơi cộng đòan Kitô hữu (gần 40 năm). Chúng ta không nên coi thường vấn đề thời gian” (“Ltevangile de Marc”, Centurion, trang 230) .

- Sau cùng, địa vị của PHự Nữ, tuy rất âm thầm kín đáo, cũng rất có ý nghĩa. Họ đi theo Chúa – việc hi hữu đối với một Rabbi Do Thái – trong sứ vụ ở Galilê, họ đi lên Giêrusalem, họ can đảm theo Chúa cho đến núi Sọ, trong khi các môn đệ bỏ trốn hết. Họ được thánh sử nhắc đến ở đây, trong tư thế “nhân chứng” duy nhất: “họ đứng nhìn”, “đứng xa xa, bởi vì họ là phụ nữ, nên không được phép lại gần người thụ hình. Họ làm nên dây liên kết ba biến cố diễn tiến liền sau: cái chết của Đức Giêsu, việc táng xác trong mồ, và nhất là vào buổi sáng Phục Sinh, việc khám phá rằng “Đức Giêsu Nagiarét”, Đấng bị đóng đinh, đã chỗi dậy (16,6).

 

II. BÀI ĐỌC THÊM

Bí mật rồi cũng được mạc khải

(“La Bible du dimanche” trang 403-404).

Xuyên suốt Tin Mừng, Máccô đã bảo vệ phẩm cách thiên sai của Đức Giêsu, bằng cách bao trùm lên Người vẻ bí mật và thinh lặng, mỗi khi Người chạm trán với sự chậm tin hoặc sự mù quáng của dân chúng. Trong suốt cuộc khổ nạn, vẻ bí mật và thinh lặng này đã trở thành nỗi cô đơn của Đức Giêsu vì Người xác tín mình là Đấng Mêsia.

Người đã đánh mất cử toạ là quần chúng và người thân cận, khi mà những biến cố đầu tiên của cuộc Thương Khó làm cho các tông đồ lìa bỏ Ngài. Trong vườn Ghetsêmani, những môn đệ lẽ ra phải thức với Người thì đã thiếp ngủ (Mc 14,37-40), họ đã chạy trốn lúc Chúa bị bắt (14,50), dù phải chạy trần truồng vì hoàn cảnh bắt buộc (15,51 -52). Trong cuộc tra vấn, khi Phêrô bộc lộ tính nhát đảm (14,62-71) và hai nhân chứng dối trá tố cáo Người (14,56-60), thì chỉ còn một nhân chứng dám hai lần phát biểu ủng hộ Người, đó là con gà trống đáng thương. Nỗi cô đơn quả là khủng khiếp: người ta nhạo cười Đức Giêsu khi Người tự nhận mình là Đấng Cứu Thế; Người là vua, nhưng là vua giấy trong căn phòng của đám lính gác; Ngài được giới thiệu cho quần chúng, nhưng họ lại là một đám đông la ó xin xử tử Ngài. Trên thập giá, khi mà các môn đệ đứng xa xa để tránh bị lộ (15,40), Đức Kitô cảm thấy cô đơn đến độ dường như Chúa Cha cũng ruồng bỏ Người luôn (15,34-35).

Đức Giêsu chịu đựng nỗi cô đơn càng lúc càng dữ dội, trong thinh lặng tuyệt đối (Mc 14,6; 15,3-4). Trái với các thánh sử khác, Máccô chỉ ghi lại một lời ngắn gọn duy nhất của Chúa trên thập giá. Sự thinh lặng này đánh dấu sự cách biệt giữa quan niệm mà Đức Giêsu hiểu về sứ mạng của mình với quan niệm của những thù nghịch nghĩ về Ngài. Nó chứng tỏ rằng Đức Giêsu luôn trung tín với chính mình giữa những cơn thử thách.

Nhưng vừa khi cái chết đóng dấu ấn vào nỗi cô đơn, thì Đức Kitô liền được tung hô là Đấng Mêsia và là Con Thiên Chúa (Mc 15,39), và một nhóm môn đệ lại hình thành quanh Người (Mc 15,40-43). Đức Giêsu không còn cô độc; Giáo Hội được thiết lập và những người ngoại giáo cũng thuộc về Hội Thánh ấy.”

____________________

27. Gợi ý bài giảng của Giáo Hoàng Học

Viện Đà Lạt

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG – KIỆU LÁ

1. Dân chúng nô nức reo hò mừng đón Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem. Họ là những kẻ đã được chữa lành bệnh, và được Người cho ăn no thỏa mới ngày nào đây. Lời hoan hô của họ rút ra từ Tv 117-118, một bài hát ngày Lễ Lều ca ngợi, cảm tạ những ơn lành Thiên Chúa đã thông ban cho Israel. Ở đây người ta ca ngợi Chúa Giêsu vì hy vọng người đến cho họ ăn no thỏa, cứu chữa họ khỏi bệnh hoạn tật nguyền và nhất là tái lập triều đại vàng son của Đavít. Họ là những kẻ mong chờ vị Cứu Thế theo mối lợi, theo tham vọng riêng. Các môn đồ cũng phấn khởi hân hoan vì cái ngày họ nôn nóng mong chờ dường như sắp đến: họ thầm mơ sẽ được ngồi bên hữu, bên tả Thầy. Còn nhà cầm quyền thì sửng sốt kinh ngạc. Lại chấn động, họ nhốn nháo cả lên: “phải chăng tên Giêsu đầy ma thuật kia bắt dầu cho nổ bùng cuộc cách mạng?”.

2. Nhưng từ trong thái độ, cách đi đứng, Chúa Giêsu đã tỏ ra một ý muốn khác hẳn. Thay vì cưỡi ngựa chiến với quân đội tiên hô hậu ủng, Người chỉ cưỡi lừa con như vị vua khiêm tốn, nhân liền mà Dacaria 9,9 đã tiên báo. Người thuận để cho đoàn lũ hoan hô. Nhưng việc Người tiến vào Giêrusalem không theo như kiểu họ tính toán. Quyền năng của Người là để phục vụ chứ không để cai trị. Người không muốn ngự trong cung điện nhưng muốn hiện diện trong tâm hồn mỗi người … để thông cảm với tất cả những vui buồn đau xót của kiếp nhân sinh. Con đường Người phải đi qua để đến với nhân loại là con đường gian khổ với cái chết trên thập giá.

3. Từ xưa, trong một thánh vịnh, vua Đavít hầu như đã diễn tả trước cảnh bị nhạo báng đau khổ và hấp hối của Chúa Kitô trên núi Sọ (Đáp ca). Trong một thị kiến trước 7,8 trăm năm, tiên tri Isaia cũng đã tiên báo phần nào những sỉ nhục, tra tấn, cười nhạo trong nhà thượng tế cai pha và trong dinh tổng trấn (Bài đọc 1). Vì là chương trình cứu thế, là thánh ý Chúa Cha, nên Chúa Kitô đã chấp nhận từ bỏ chính mình, vâng lời cho đến chết trên thập giá (Bài đọc 2). Cuộc Khổ nạn và cái chết đau thương của Người (được tả lại thực rõ ràng, sống động và tỉ mỉ do Mc trong Tin mừng thứ hai (Bài Thương khó). Tuy nhiên cuộc Khổ nạn và cái chết tức tưởi ấy lại có một kết thúc huy hoàng: vì nhờ đó toàn thể loài người được ơn cứu độ, còn Chúa Kitô thì không phải hổ thẹn như Isaia đã tiên báo, mà được Thiên Chúa cho phục sinh, tôn vinh và tặng ban danh hiệu là Chúa (Bài đọc 2).

4. Đời sống tùng phục Chúa Cha cho đến chết của Chúa Kitô vừa là tấm gương vừa là con đường phải theo. Nếu kết thúc cuộc đời đau khổ và cái chết thảm thương của Người là sự sống lại và tôn vinh, thì kết cuộc nếp sống tuân theo thánh ý Chúa của Kitô hữu cũng sẽ là sống lại vinh hiển và sự sống vĩnh cửu, và được tặng một danh hiệu chỉ mình kẻ ấy biết (x Kh 2, 17; 3, 12).

_____________

CHÚA NHẬT LỄ LÁ

       Is 50: 4-7

      Bài đọc I được trích từ tác phẩm của ngôn sứ I-sai-a đệ nhị. Vị ngôn sứ hé mở cho chúng ta Người Công Chính đau khổ, dưới dung mạo của Người Tôi Trung của Đức Chúa, dù bị nhạo báng, bị lăng nhục, nhưng không hề đả kích mà lại đặt trọn niềm tin tưởng vào Thiên Chúa.

      Pl 2: 6-11

      Tiếp đó, chúng ta suy niệm mầu nhiệm tự hạ và tôn vinh của Đức Giê-su mà thánh Phao-lô họa lại trong thư gởi cho các tín hữu Phi-líp-phê dưới hình thức một bài thánh thi Ki-tô học. Đây là bằng chứng quý báu của Giáo Hội tiên khởi.

      Mc 14: 1-15: 47

      Sau cùng, chúng ta sống lại cuộc thương khó Đức Giê-su theo Tin Mừng Mác-cô. Thánh ký nhắc cho chúng ta nhớ rằng qua con đường thương khó và tử nạn Đức Giê-su dẫn chúng ta đến sự sống.

      BÀI ĐỌC I (Is 50: 4-7)

      Với đoạn trích nầy, chúng ta dự phần vào những xác tín của vị ngôn sứ. Chính vì thường hằng chuyên tâm lắng nghe Lời Chúa, hằng này suy niệm Lời Chúa, nên ông chẳng những không tránh né sứ mạng của mình mà còn “biết lựa lời mà nâng đỡ ai mệt mỏi chán chường”. Vị ngôn sứ đã không nhận được bất cứ lòng biết ơn nào, nhưng trái lại chỉ toàn những lời lăng mạ và sỉ nhục. Ông bị đánh đòn, tra tấn (giật râu là một hình phạt rất nhục nhã), chịu những lời mắng nhiếc, phỉ nhổ vào mặt, khinh bĩ đến tột cùng.

1. Chân dung của “Người Tôi Tớ chịu đạu khổ”:

      Nhưng “người tôi trung” đặt niềm tin tưởng của mình vào Đức Chúa; ông “trơ mặt ra”, nghĩa là “kiên vững không hề nao núng”. Thánh Lu-ca nói với chúng ta rằng “Đức Giê-su đã trơ mặt ra” khi Ngài lên Giê-ru-sa-lem để chịu cuộc Tử Nạn của Ngài, nghĩa là Ngài thu hết mọi can đảm và khẳng định ý muốn của Ngài.

      Đoạn trích này thuộc bài ca thứ ba trong số bốn bài ca “Người Tôi Trung chịu đau khổ”, trong tác phẩm của ngôn sứ I-sai-a đệ nhị, vị ngôn sứ thời lưu đày Ba-by-lon, vào giữa thế kỷ thứ sáu trước Công Nguyên.

      Chân dung của “Người Tôi Trung” nầy gợi lên lúc thì dân Ít-ra-en (ngôn sứ I-sai-a đệ nhị thường gọi dân Ít-ra-en “người tôi trung của Đức Chúa”) lúc thì một cá nhân biệt phân đón nhận một sứ mạng đặc biệt. Vả lại, cách giải thích theo chiều kích tập thể và cách giải thích theo chiều kích cá nhân không loại trừ nhau; cả hai đều chồng chéo lên nhau trong nhiều đoạn văn.

      Người tôi trung nầy xử sự với một cung cách dịu dàng và khiêm tốn (bài ca thứ nhất). Ông được giao phó sứ mạng giải phóng dân Ít-ra-en và hoán cải muôn dân (bài ca thứ hai). Ông phải chịu những bách hại và những lăng nhục (bài ca thứ ba). Ông bằng lòng chịu chết một cách ô nhục, đoạn được tôn vinh (bài ca thứ tư).

2. Một sứ điệp mới:

 Ở đây chúng ta ở một khúc quanh rất quan trọng của Mặc Khải. Cho đến lúc đó những viễn cảnh Mê-si-a nhắm đến dung mạo của một vị vua vinh quang, thuộc dòng dõi Đa-vít, Đấng sẽ thiết lập triều đại công lý và hòa bình. Ấy vậy, vào lúc nầy không còn vua; vương triều Đa-vít đã bị nhận chìm vào trong phong ba bảo táp; Đền Thờ Sa-lô-mon bị thiêu hủy, dân thành Giê-ru-sa-lem phải chịu cảnh đời tôi mọi và một phần lớn dân thành bị lưu đày. Đây là thời điểm thuận tiện để loan báo một sứ điệp mới. Qua trực giác của vị ngôn sứ, khoa sư phạm của Thiên Chúa tiến một bước vĩ đại. Những sấm ngôn thuở xưa không hề bị hủy bỏ (Đấng Mê-si-a vẫn sẽ thuộc dòng dõi Đa-vít), nhưng điều mà những viễn cảnh mới hé mở, chính là sự can thiệp của “một người Thiên Chúa tuyển chọn”, của “một người Đức Chúa xức dầu tấn phong”, Đấng nầy sẽ âm thầm hành động, bên ngoài trông có vẻ thất bại, chịu nhiều đau khổ và bị giết chết, sau đó được tôn vinh.

      3. Vị ngôn sứ bị lăng nhục:

     Ở nơi nhân vật nhục nhã ê chề nầy phải nhận ra chính vị ngôn sứ I-sai-a đệ nhị. Được Thiên Chúa trao phó sứ mạng an ủi những người lưu đày bất hạnh, mệt mỏi chán chường, ông không lẫn tránh công việc phụ bạc nầy; ông cố giúp cho họ hiểu ý nghĩa của sự thử thách mà họ đang phải chịu, kêu mời họ hoán cải, hứa với họ một cuộc cứu thoát. Ấy vậy, ông vấp phải sự vô tri, ngờ vực và giận dữ của những người đã nếm mùi đắng cay của một cuộc lưu đày dài lâu.

      4. Người Công Chính bị bách hại:

      Bên kia dung mạo của một vị ngôn sứ hiện hình dung mạo của Người Công Chính thập toàn. Bản văn vang lên cung giọng Mê-si-a. Cũng chính Đức Giê-su sẽ thực hiện sứ mạng được giao phó cho Ngài trong một thái độ hoàn toàn vâng phục. Cũng chính Ngài sẽ đem Tin Mừng đến cho những người nghèo hèn khốn khổ. Như vị ngôn sứ vô tội, thay vì lòng biết ơn, Ngài sẽ bị đánh đập, nhục mạ, khổ hình mà “chẳng hổ ngươi và trơ mặt ra như đá vì biết mình sẽ không phải thẹn thùng”.

      Bài ca thứ ba nầy cho chúng ta cảm thấy trước bài ca thứ tư bi thương về Người Tôi Trung sẽ được đọc vào Thứ Sáu Tuần Thánh.

      BÀI ĐỌC II (Pl 2: 6-11)

      Đoạn trích thư của thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Phi-líp-phê là một bài thơ sáu khổ, theo thể văn xuôi có vần có điệu. Ba khổ thơ đầu tiên họa lại việc Đức Giê-su tự nguyện hạ mình, và ba khổ thơ còn lại, theo một chiều hướng ngược lại, thuật lại ba giai đoạn Thiên Chúa Cha tôn vinh Ngài.

      Trong bức thư chất chứa giọng nói nồng nàn rất thân quen nầy, chẳng có gì phải ngạc nhiên khi chúng ta gặp thấy những câu thơ khôn sánh như tuôn trào từ ngòi bút nầy. Người ta không biết phải chăng thánh Phao-lô là tác giả hay thánh nhân chỉ trích dẫn bài thánh thi giàu hình tượng nầy. Dù sao chúng ta cũng vẫn có một chứng liệu đáng chú ý, một trong những bản văn cổ xưa nhất về thần học Đức Ki-tô; nhất là bài thơ nầy mang đến một lời chứng quý báu đầu tiên (trước cả Tựa Ngôn của Tin Mừng Gio-an) về niềm tin nguyên thủy vào cuộc sống tiền hữu của Đức Giê-su.

      1. Ba giai đoạn tự hạ:

      1- Đức Giê-su, tuy vẫn là Thiên Chúa, từ bỏ không chỉ Thiên Tính nhưng còn cả vinh quang vốn dĩ nội tại ở nơi Ngài.

      2- Ngài tự hủy mình ra hư không, mặc lấy thân nô lệ thấp hèn, sống kiếp phàm nhân, để chia sẻ tận cùng những cảnh đời cơ cực yếu hèn của con người (ngoại trừ tội lỗi).

      3- Ngài còn tự hạ hơn nữa khi vâng lời chấp nhận cái chết ô nhục trên thập giá.

      2- Ba giai đoạn vinh quang:

      1- Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài và tặng ban cho Ngài danh hiệu. Danh ở đây mang lấy một ý nghĩa tuyệt đối, nghĩa là chỉ dành riêng cho một mình Ngài. Đây là Danh của Đức Chúa, Danh mà trong truyền thống Do thái dành riêng để chỉ danh khôn tả của Thiên Chúa như phần tiếp theo chỉ cho thấy: “trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu”, vì thế, “vừa nghe danh thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất, và trong cõi âm ty, muôn vật phải bái quỳ”.

      2- Diễn ngữ “cả trên trời dưới đất và trong cõi âm ty” chỉ toàn thể vũ trụ. Điều nầy muốn nói rằng không chỉ nhân loại, nhưng ngay cả toàn thể mọi loài thọ tạo đều phải cung kính thờ lạy Ngài. Đó cũng là chủ đề được gặp thấy trong sách Khải Huyền: “Tôi lại nghe mọi tạo vật trên trời, dưới đất, trong lòng đất, ngoài biển khơi và vạn vật ở các nơi đó, tất cả đều tung hô: Xin kính dâng Đấng ngự trên ngai và Con Chiên  lời chúc tụng cùng danh dự, vinh quang và quyền năng đến muôn thuở muôn đời” (Kh 5: 13).

      3- Sau cùng, người Ki-tô hữu tiên khởi đã không ngần ngại ban tặng cho Đức Giê-su Ki-tô tước hiệu “Đức Chúa” mà Cựu Ước dành riêng cho Đức Chúa, Thiên Chúa của dân Ít-ra-en. Đây là nét đặc trưng của lời tuyên xưng đức tin nguyên thủy. Cũng như thánh Lu-ca trong sách Công Vụ Tông Đồ, thánh Phao-lô nhiều lần nhấn mạnh Thiên Tính của Đức Giê-su.

      3. Mẫu gương của Đức Giê-su:

      Thánh Phao-lô rất mực yêu mến Giáo Đoàn Phi-líp-phê mà thánh nhân đã thiết lập vào năm 49-50 và là cộng đồng Ki tô hữu đầu tiên trên vùng đất Châu Âu. Phi-líp-phê là một thành phố quan trọng của miền Ma-xê-đoan; thành phố mang tên vua Phi-líp-phê, thân phụ của đại đế Alexandre, người đã xâm chiếm thành nầy vào năm 360 trước Công Nguyên.

      Khi viết cho các tín hữu Phi-líp-phê, thánh Phao-lô đang bị giam cầm có thể ở Ê-phê-sô. Thánh nhân mong ước các tín hữu Phi-líp-phê thân yêu của ngài sống trong sự hiệp nhất và nhất là trong sự khiêm hạ sâu xa. Thánh nhân lấy Đức Ki-tô làm mẫu gương cho họ noi theo.

      TIN MỪNG (Mc 14: 1-15, 47)

      BÀI THƯƠNG KHÓ ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ THEO THÁNH MÁC-CÔ (14: 1-15: 47)

Như các thánh ký khác, thánh Mác-cô dành một vị thế quan trọng cho bài trình thuật cuộc Thương Khó của Đức Ki-tô. Như vậy chúng ta có bằng chứng cho thấy Giáo Hội tiên khởi đã hiểu: biến cố đồi Can-vê không là một tình tiết xấu hổ và nhục nhã mà biến cố Phục Sinh đến để tẩy xóa đi, nhưng trái lại là tuyệt đỉnh công trình cứu độ đầy yêu thương của Thiên Chúa đối với nhân loại, là nơi Đức Giê-su hoàn tất sứ mạng cứu độ. Các Ki tô hữu tiên khởi đảm nhận sự thách đố của Thập Giá, bất chấp Thập Giá gây nên sự kỳ chướng đối với dân ngoại.

      Thánh Mác-cô đặc biệt dọi chiếu sự mâu thuẩn của những hoàn cảnh: dù bị nhạo báng, nhục mạ, bị kết án khổ hình ô nhục, nhưng Đức Giê-su vẫn khẳng định quyền năng và tính siêu việt của Ngài với một phẩm chất cao vời.

I. KHÚC DẠO ĐẦU (14: 1-31)

Khúc dạo đầu của bài Thương Khó Đức Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô gồm có hai phần: phần thứ nhất (14: 1-11) nêu bật câu chuyện người phụ nữ vô danh xức dầu thơm cho Đức Giê-su ở Bê-ta-ni-a và phần thứ hai (14: 12-31) nêu bật việc Đức Giê-su thiết lập bàn tiệc Thánh Thể. 

1. ÂM MƯU VÀ XỨC DẦU Ở BÊ-TA-NI-A (14: 1-11).

Phân đoạn này được dàn dựng theo kiểu văn chương: “hai câu chuyện trong một bài trình thuật”, nghĩa là, câu chuyện “các nhà lãnh đạo Do thái bài mưu tính kế hãm hại Đức Giê-su được một người môn đệ thân tín của Ngài là ông Giu-đa cộng tác bằng việc phản bội Ngài” (14: 1-2 và 10-11) được chen vào giữa bởi câu chuyện “người phụ nữ vô danh xức dầu cho Đức Giê-su” (14: 3-9). Câu chuyện này vừa tỏ lộ tấm lòng quảng đại của cô tương phản với sự mù quáng của các nhà lãnh đạo Do thái (14: 1-2) và sự phản bội của ông Giu-đa (14: 10-11), đồng thời cũng nhắm đến tước vị của Ngài là Đấng Mê-si-a, “Đấng được xức dầu” (“Đức Ki tô”) và hướng đến cuộc mai táng của Ngài. Phân đoạn này được cấu trúc như sau:

A. Âm mưu (14: 1-2)

     B. Việc xức dầu và ý nghĩa (14: 3-9).

A’. Giu-đa phản bội Thầy (14: 10-11).

A. Âm mưu (14: 1-2):

1. “Hai ngày trước lễ Vượt Qua và lễ Bánh Không Men”: Trước đây, lễ Vượt Qua là một dịp lễ hội lễ của các dân du mục. Vào mùa xuân, khi gia súc đã qua mùa sinh sản, người ta dâng cúng cho các vị thần thánh các con chiên sinh ra đầu tiên (x. Xh 12: 1-11). Đến khi dân Ít-ra-en đã định cư, họ tổ chức một lễ hội khác, gọi là lễ Bánh Không Men, lễ hội nông nghiệp vào mùa xuân. Họ mừng mùa gặt mới. Hai lễ hội này: Vượt Qua và Bánh Không Men, nhanh chóng được làm một với nhau. Thay vì tổ chức mừng đón thiên nhiên đâm chồi nẩy lộc khi xuân về, họ lại tưởng nhớ việc được giải phóng khỏi cảnh đời nô lệ bên Ai-cập (x. Xh 12: 15-20; 34: 18-20) và thiết lập dân Thiên Chúa (Đnl 16: 1-8). Ở Ít-ra-en, lễ Vượt Qua đã trở thành lễ hội quan trọng và lớn nhất của dân Do thái. Lễ bắt đầu vào đêm 15 trăng tròn của tháng Ni-san (tháng Ba-tháng Tư) và kéo dài trong tám ngày, trong thời gian đó, tất cả men phải cất khỏi nhà, và cấm dùng bánh không men (Xh 12: 15-20). Khi tưởng niệm cuộc giải phóng khỏi cảnh đời nô lệ bên Ai-cập, dân Ít-ra-en không chỉ kỷ niệm về một quá khứ nhưng còn hiện tại hóa những ơn lành Thiên Chúa thương ban vf ngưỡng vọng Đấng Mê-si-a Cứu Độ. Do đó không phải ngẫu nhiên mà bản tường thuật Thương Khó và Tử Nạn của Chúa Giê-su được đặt vào khung cảnh của lễ hội này. Nó tạo nên một bầu khí phụng vụ rõ nét.

- “Các thượng tế và kinh sư”: Trước đây chúng ta thấy đã có một âm mưu chống lại Chúa Giê-su, dù mới chỉ là nét phác họa sơ sài chỉ liên quan đến nhóm Biệt Phái và các kẻ thuộc phe Hê-rô-đê 3: 6). Nhưng khi Chúa Giê-su vào Giê-ru-sa-lem, nhất là khi Ngài xua đuổi quân buôn bán ra khỏi Đền Thờ, thì các thượng tế và kinh sư vạch ra kế hoạch bắt Ngài một cách chính xác hơn (11: 18; 12: 12). Đến bây giờ, họ đang cố nghĩ ra cách thức cụ thể để bắt Chúa Giê-su.

2. “Đừng làm vào chính ngày lễ, kẻo dân chúng náo động”: Họ tìm cách bắt Ngài như thế nào đừng làm kích động dân chúng. Lễ Vượt Qua là ngày đại lễ hành hương lôi kéo dân chúng rất đông từ khắp mọi miền đến thành thánh Giê-ru-sa-lem để mừng lễ. Việc bắt và hành hình Đức Giê-su công khai có nguy cơ gây ra một cuộc náo động. Điều này cho thấy Ngài rất được lòng dân chúng. Vì thế tốt hơn nên đợi khi kỳ lễ chấm dứt, lúc đó mới ra tay hành động. Tuy nhiên, những biến cố xảy đến nhanh hơn họ mong muốn, nhất là khi một trong các môn đệ thân tín của Ngài là ông Giu-đa, tên phản bội, sẵn sàng hợp tác với họ.

B. Xức dầu và ý nghĩa (14: 3-9):

3. “Đức Giê-su đang ở làng Bê-ta-ni-a, tại nhà ông Si-mon Cùi”: Câu chuyện xảy ra ở Bê-ta-ni-a, một làng nhỏ gần Giê-ru-sa-lem, nơi Chúa Giê-su thường ghé lại nghỉ ngơi khi rời thành Giê-ru-sa-lem (11: 11). Người tiếp đón Ngài được gọi là Si-mon Cùi. Chúng ta không biết ông này là ai, nhưng chắc chắn ông không còn bệnh cùi nữa, bởi vì ông đón tiếp khách vào nhà của mình. Vì thế, thánh Giê-rô-ni-mô giả thiết rằng ông đã được Chúa Giê-su chữa lành bệnh, vì thế Ngài là vị ân nhân của ông.

- “Giữa lúc Người đang dùng bữa, có một người phụ nữ đến, mang theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm cam tùng nguyên chất thứ đắt tiền”: Chỉ một mình Mác-cô ghi lại cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giê-su và một người phụ nữ đang khi Ngài ngồi ăn ở nhà một người bạn. Thánh ký không cho chúng ta biết tên của người phụ nữ ấy. Tác giả Tin Mừng không chú trọng đến con người, mà là hành động của cô ta. Cô mang một bình dầu thơm quí giá được đánh giá là ba trăm quan tiền (14: 5), quả thật đây là thứ dầu thơm hảo hạng rất đắt (x. Mt 20: 2).

- “Đổ dầu thơm trên đầu Người”: Người phụ nữ không ngần ngại đập bể bình để có thể đổ dầu thơm trên đầu Ngài thật nhiều và thật nhanh. Chuyện đổ dầu thơm lên đầu Chúa Giê-su là việc quá dể dàng: Chúa Giê-su ngồi vào bàn theo lối xưa, nghĩa là Ngài nằm duỗi dài nghiêng qua một bên, tựa đầu vào bàn tay chống cạnh bàn tiệc. Cử chỉ bất ngờ của cô mang ý nghĩa gì? Trong số những nghi thức tỏ lòng hiếu khách, việc thức dầu thơm trên đầu khách là dấu hiệu gia chủ tỏ lòng kính trọng và vinh hạnh. Về phía người phụ nữ, chắc chắn đó là một cử chỉ tỏ lòng tôn kính Ngài. Theo văn hóa Do thái, khi xức dầu lên đầu cho ai, người ta xác định kẻ ấy là vua (x. 2V 9: 6). Hơn nữa, Đấng Mê-si-a mà mọi người đang mong đợi có nghĩa là “Đấng được xức dầu” (x. Is 61: 1). Việc người phụ nữ đổ dầu thơm trên đầu của Đức Giê-su đã chỉ rõ Ngài là Đấng Mê-si-a. Vì thế, trong đám thực khách, chỉ duy mình chị nhận biết chân tính của Ngài và sự hiện diện đặc biệt của Ngài, tương phản với các thượng tế, các kinh sư và thậm chí cả ông Giu-đa.

 4. “Có vài người lấy làm bực tức, nói với nhau: ‘Phí dầu thơm như thế để làm gì?”: Người ta quên rằng ngoài ông Si-mon, Chúa Giê-su và người phụ nữ còn có nhóm Mười Hai nữa chứ. Vài người môn đệ (trong số đó có ông Giu-đa, theo Tin Mừng Gioan) chỉ thấy việc làm của cô là quá phí phạm.

5. “Dầu có thể đem bán lấy ba trăm quan tiền mà bố thí cho người nghèo”: Họ ước tính bình dầu thơm đó phải hơn 300 đồng: tương đương với 300 ngày công vất vả của một người lao động chứ đâu phải gì! Thà ràng đem bán lấy tiền mà bố thí cho kẻ khó còn hơn. Lời phê bình này cũng thấu tình đạt lý đấy chứ.

6. “Cứ để cho cô ấy làm. Sao lại muốn gây chuyện? Cô ấy vừa làm cho tôi một việc nghĩa”: Lời này giải thích thái độ khoan dung của Đức Giê-su và việc Ngài mô tả hành vi của người phụ nữ là một việc nghĩa.

7. “Người nghèo thì lúc nào các ông chẳng có bên cạnh mình…Còn tôi, các ông chẳng có mãi đâu!”: Người ta chẳng thiếu gì người nghèo để mà giúp đỡ. Hẳn thực là theo luật Mô-sê thì Thiên Chúa đã đòi hỏi dân Ngài phải ra tay cứu giúp kẻ bần hàn, xóa bỏ bất công: “Ước chi kẻ nghèo khó sẽ không có nơi ngươi” (Đnl 15: 4). Nhưng cũng không nên quá nhiều ảo tưởng. “Vì sẽ không hề thiếu người nghèo khó trong xứ đâu. Bởi thế, Ta truyền dạy rằng: ngươi phải mở rộng tay ngươi cho anh em ngươi, cho kẻ bần cùng và nghèo hèn trên đất ngươi” (Đnl 15: 11). Chúa Giê-su không hề phủ nhận ra tay giúp đỡ người nghèo. Ngoài ra, ngay chính trong đám môn đệ, vẫn có một người đặc trách việc bố thí. Theo Gioan, đó chính là phận vụ của Giu-đa, thủ quỷ của nhóm Mười Hai (Ga 12: 4-6). Vậy rõ ràng là ông Giu-đa, một trong vài môn đệ, đã phê bình chỉ trích việc làm của cô là quá phí phạm. 

8. “Cô đã lấy dầu thơm ướp xác tôi, để chuẩn bị ngày mai táng”: Chúa Giê-su bất ngờ mặc cho hành động của cô ta một ý nghĩa cao cả hơn thế nữa. Chúa Giê-su muốn nói đến hành động mang tính ngôn sứ của cô. Thân thể mà cô xức dầu thơm chẳng bao lâu sẽ bị giết chết, đoạn được mai táng vội vàng nên không đón nhận những vinh dự khâm liệm như tập tục dành cho những người qua đời. Cô đã tham dự trước nghi thức mai táng của Ngài. Đây là cách thức mới Chúa Giê-su loan báo cuộc Tử Nạn sắp đến của Ngài. Như vậy, Chúa Giê-su đã không ngần ngại liên kết hành động của người phụ nữ vô danh đó với thảm kịch Ngài sắp phải chịu.

9. “Hễ Tin Mừng được loan báo đến đau trong khắp thiên hạ, thì nơi đó việc cô vừa làm cũng sẽ được kể lại để nhớ tới cô”: Thánh Mác-cô cũng không bỏ qua việc kết thúc bài tường thuật bằng cách ghi nhận lời tuyên bố long trọng của Thầy mình là: Khắp cả thế giới hễ nơi nào được loan báo Tin Mừng, thì biến cố này cũng sẽ được biết đến. Khi ghi lại cảnh tượng này, thánh ký biết rằng việc xức dầu ở Bê-ta-ni-a hẳn sẽ được nối kết với lời rao truyền “Tin Mừng” loan báo cuộc Khổ Nạn của Chúa Giê-su. Ta nhận thấy Mác-cô rất quan tâm đến việc thông truyền Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô cho cả thế giới (1: 1; 8: 35; 10: 29; 13: 10). Tâm điểm của Tin Mừng này là cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Đấng Mê-si-a, và dĩ nhiên, cử chỉ khiêm hạ của người phụ nữ kia phải chiếm một vị trí thích hợp ở đó.

A’. Giu-đa phản bội (14: 10-11):

10. “Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, một người trong nhóm Mười Hai”: Qua những từ ngữ giản dị này: “Một người trong nhóm Mười Hai”, thánh ký nêu bật sự ghê tởm của hành động phản bội. Đây là một trong những đau khổ thấm thía nhất của Đức Giê-su, vào đêm bi thảm này: một trong số các môn đệ thân tín của Ngài, một trong những người đồng hành mà Ngài đã chọn, đã nộp Ngài. Nhiều lần Ngài đã để lộ những nỗi khổ tâm này và cũng nhiều lần Ngài nhắc khéo ông để ông biết hối lỗi mà từ bỏ ý định gian ác ấy, như vào lúc rửa chân và vào lúc thiết lập bàn tiệc Thánh Thể.

Ông Giu-đa toan tính gặp các thượng tế để tính chuyện nộp Chúa Giê-su cho họ. Ông tìm đúng người đúng chỗ. Chính ở nơi nhóm người này mà lòng căm thù sôi sục trong họ. Chính xác là họ vừa mới quyết định là thủ tiêu Đức Giê-su làm cách nào không làm kinh động đến dân chúng.

Như đã nói trên, trong số các môn đệ chống đối việc người phụ nữ xức dầu thơm cho Chúa Giê-su, chắc chắn có “Giu-đa Ít-ca-ri-ô, một trong nhóm Mười Hai. Nhờ vào Tin Mừng Gioan, chúng ta biết thêm rằng chính y là ngươi quản lý tiền bạc cho nhóm tông đồ. Ngoài việc lo lắng chi tiêu cho cả nhóm, y còn đảm trách luôn việc bố thí cho người nghèo. Vậy mà y chẳng bận tâm gì đến nhiệm vụ ấy, bởi lẽ “y là một tên trộm cướp…y ăn cắp” hết thảy những gì người ta cho cho vào trong túi y (Ga 12: 4-6). Thực tế cho thấy rằng chính y là kẻ “đã đi gặp các thượng tế, để tính chuyện nộp Chúa Giê-su cho họ”. Bù lại, y sẽ nhận được tiền. Các thánh ký khác làm rõ những động cơ phản bội của Giu-đa, đối với Mát-thêu là tham tiền (Mt 26: 15), còn đối với Lu-ca là do Xa-tan (Lc 22: 3).

11. “Nghe hắn nói, họ rất mừng và hứa cho tiền”: Những kẻ bày mưu tính kế hãm hại Ngài gặp thấy ông Giu-đa là một kẻ cộng tác bất ngờ, vfi thế hứa cho ông tiền. Như thế mưu mô mà họ đã âm thầm nuôi dưỡng (14: 1b) nay có thể thực hiện được. Tiền làm sáng mắt tên phản bội, kẻ hám lợi. Với vài hàng đơn sơ, thánh Mác-cô đã cho thấy rằng chỉ vì một lợi lộc bẩn thỉu một tên phản bội đã len lỏi vào hàng ngũ bạn hữu của Chúa Giê-su. Các tác giả Tin Mừng khác làm rõ động cơ phản bội của Giu-đa, đối với thánh Gioan, y “tên ăn cắp” (Ga 12: 6), đối với thánh Mát-thêu, y là “kẻ tham tiền” (Mt 26: 15), còn đối với thánh Lu-ca, “y do Xa-tan xúi dục” (Lc 22: 3). Cần ghi nhớ rằng một trong những nguyên nhân dẫn Chúa Giê-su đến cái chết lại đến từ một trong các kẻ thân cận với Ngài. Sự phản bội của ông tương phản với sự trung tín của người phụ nữ. Sáng kiến của ông cho phép các thượng tế và kinh sư thực hiện mưu đồ của họ.

- “Giu-đa liền tìm cách nộp Người sao cho tiện”: Bây giờ Giu-đa chỉ còn việc tìm dịp thuận tiện để nộp Chúa Giê-su. Dịp này sẽ xảy ra trong vài giờ nữa, không cần phải chờ đến hết ngày.

2. BỮA ĂN VƯỢT QUA VÀ BÀN TIỆC THÁNH THỂ (14: 12-31).

2.1. Chuẩn bị (14: 12-16)

Bản văn này được tường thuật với văn phong gần như kiểu chuyện “thần kỳ”. Các môn đệ hỏi Chúa Giế-u về địa điểm dọn tiệc, Chúa Giê-su trả lời khá kỳ lạ. Có hai điểm nổi bật trong đoạn này. Điểm thứ nhất là các môn đệ sẽ gặp một người đội vò nước. Lẽ thường thì chỉ có phụ nữ mới đi lấy nước. Như vậy, Chúa Giê-su đã mặc cho đặc điểm kỳ lạ này một dấu chỉ trù định trước. Điều kỳ lạ thứ hai, đó là việc tìm được một căn phòng “đã sắp sẳn” cho bữa tiệc. Hình như Thiên Chúa đã Quan Phòng hết mọi sự, và Chúa Giê-su được coi như là một ngôn sứ biết hết mọi chuyện sẽ xảy ra, biết từng chi tiết một. Làm sao giải thích điều này? chắc hẳn là thánh Mác-cô đã được linh hứng khi viết những trang này, theo kiểu viết Kinh Thánh thông thường hồi đó. Trong sách Sa-mu-en quyển thứ nhất, ngôn sứ Sa-mu-en đã thấy trước được những lần gặp gỡ (theo thánh ý Thiên Chúa) với chàng trai trẻ Sa-un. Những cuộc gặp gỡ này phải chứng tỏ được rằng Thiên Chúa đã chọn chàng trai này để làm vua Ít-ra-en (1Sm 10: 1-10). Cũng tương tự như thế, cuộc gặp gỡ được báo trước hai người môn đệ với người đàn ông đội vò nước sẽ là dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa đã chọn Chúa Giê-su làm Vua-Mê-si-a. Đoạn này còn được xác quyết chắc chắn bằng đoạn khác của Mác-cô: chuyện kể về việc Chúa Giê-su khải hoàn vào thành thánh Giê-ru-sa-lem (11: 1-11), theo đó, Chúa Giê-su cũng phái hai môn đệ đi trước để tìm gặp con lừa con. Biến cố này rõ rệt là mang tính chất Mê-si-a. Trong cả hai lần, sự việc cũng xảy ra y như những lời dặn dò trước của Chúa Giê-su. Mọi sự đều diễn ra phù hợp với nhận định ngôn sứ của Thầy.

12. “Ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, là ngày sát tế chiên Vượt Qua”: Hai ngày lễ này tự nguồn gốc thì khác nhau: lễ Vượt Qua, lễ của những người chăn nuôi; vào ngày lễ này, người ta sát tế một con chiên non để mừng lễ. Còn vào ngày lễ Bánh Không Men, lễ của những người trồng trọt, người ta dâng hiến những sản phẩm đầu mùa và ăn bánh không men từ những lúa mạch đầu mùa. Từ lâu, hai lễ này  được cử hành thành một đại lễ, bắt đầu với lễ Vượt Qua và kéo dài suốt một tuần lễ (Đnl 16: 1-8). Việc hiệp nhất hai lễ này trở nên dể dàng hơn vì bữa ăn Vượt Qua cũng bao gồm bánh không men. Việc sát tế xảy ra vào buổi chiều ngày 14 tháng Ni-san trước khi ngày thứ nhất bắt đầu lúc mặt trời lặn. Quả thật, các môn đệ được sai đi ra ngoài để chuẩn bị bữa ăn Vượt Qua được cử hành vào đêm 15 trăng tròn của tháng Ni-san (theo cách tính ngày của người Do thái, một ngày mới bắt đầu vào buổi chiều).

- “Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu?”: Theo luật, lễ Vượt Qua phải được mừng ở Giê-ru-sa-lem. Vì thế, con chiên bị sát tế trong khuôn viên Đền Thờ và bữa ăn Vượt Qua được tổ chức ở trong thành. Điều này khiến các môn đệ bận tâm. Đức Giê-su là một nhà giảng thuyết lưu động; thêm nữa, các môn đệ và Thầy đều là người Ga-li-lê-a.

13. “Sẽ có một người mang vò nước đón gặp các anh”: Hoạt cảnh ở đây giống đến kỳ lạ với hoạt cảnh xảy ra trước đó khi chuẩn bị cho việc Chúa Giê-su tiến vào thành thánh Giê-ru-sa-lem với tư cách là Đấng Mê-si-a. Trong cả hai hoạt cảnh, Chúa Giê-su sai hai môn đệ đi thi hành sứ mạng trong đó họ sẽ gặp thấy mọi việc như Ngài đã mô tả. Trong trường hợp thứ nhất: một con lừa đang cột sẵn ở đó; còn ở đây: một người mang vò nước đến gặp hai ông.

15. “Một phòng rộng rãi trên lầu, đã được chuẩn bị sẵn sàng”: Trong cả hai lần, những sự cố xảy ra đúng như Chúa Giê-su định liệu: trong trường hợp trước, người ta để cho hai ông dắt con lừa đi; trong trường hợp này, người mang vò nước dẫn hai ông vào nhà và chỉ cho hai ông một căn phòng rộng rãi trên lầu, đã được chuẩn bị sẵn sàng cho Ngài và các môn đệ cử hành bữa ăn Vượt Qua.

Qua những điều này, thánh Mác-cô muốn nói rằng Đức Giê-su đã dự liệu tất cả. Chính Đức Giê-su tổ chức lễ Vượt Qua sau cùng này với các môn đệ như trước đây Ngài đã tổ chức cuộc tiến vào thành thánh Giê-ru-sa-lem.

Thánh Mác-cô đồng hóa bữa cuối cùng của Chúa Giê-su với các môn đệ Ngài với bữa ăn Vượt Qua theo nghĩa nhặt, nghĩa là xảy ra vào đúng buổi chiều ngày 15 tháng Ni-san. Hai thánh ký Nhất Lãm khác đã theo niên biểu của Mác-cô. Tuy nhiên, Ga 19: 14 đặt cuộc Tử Nạn của Chúa Giê-su vào buổi chiều ngày 14 tháng Ni-san, vì thế, bữa ăn sau cùng của Chúa Giê-su là bữa Tiệc Ly, bữa tiệc áp lễ Vượt Qua. Niên biểu của Gioan xem ra cụ thể hơn, vì việc các thượng tế và kinh sư đã ra tay hành động vào ngày thứ nhất lễ Vượt Qua thì thật đáng ngờ. Bởi lẽ theo luật lệ tòa án vào thời đó, người ta không thể kêu án và xử tử bất kỳ ai một khi lễ Vượt Qua đã bắt đầu. Về phương diện lịch sử, trình tự thời gian mà Gioan ghi lại có lẽ hợp lý hơn. Năm ấy, lễ Vượt Qua Do thái xảy ra vào ngày thứ bảy, tức ngày Sa-bát (Ga 19: 31). Chúa Giê-su đã bị đóng đinh vào hôm trước đó, vào ngày thứ Sáu, vào giờ  mà người ta cắt tiết chiên để ăn mừng lễ (Ga 18: 28). Như thế Chúa Giê-su dùng bữa tiệc ly cùng với các môn đệ vào ngày thứ Năm. Sở dĩ các thánh ký Nhất Lãm làm bữa tiệc ly thành bữa ăn Vượt Qua chính là muốn đối chiếu cuộc tử nạn của Chúa Giê-su với những chủ đề hy tế và giải phóng của lễ Vượt Qua. Cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa Giê-su gắn liền với lễ “Vượt Qua Mới”: việc giải phóng khỏi ách nô lệ của sự Ác và sự Chết. Thánh Phao-lô là người đầu tiên có thể phát biểu: “Đức Ki-tô, chiên Vượt Qua của tá, đã bị sát tế. Ta hãy mừng lễ, đừng với mem cũ…nhưng với bánh không men của lòng tinh tuyền và chân thật” (1Cr 5: 7-8).

Trong đoạn văn này, chúng ta lưu ý đến việc lập lại đến hai lần tỉnh từ “Vượt Qua” (14: 12b và 12d) và danh từ “Vượt Qua” (14: 14, 16), là nhằm mục đích kêu mời độc giả chú ý đến ý nghĩa tối hậu của bữa ăn Chúa Giê-su sắp đồng bàn với các môn đệ. Bữa ăn này là dịp lễ tưởng niệm cuộc xuất hành ra khỏi Ai-cập, đồng thời chính là dịp loan báo sự chết và sống lại của Đấng Mê-si-a Cứu Thế.

2.2. Thắp sáng việc tự hiến của Đức Giê-su (14: 17-31).

Toàn bộ bản văn này được dàn dựng theo kỷ thuật “hai câu chuyện trong một bài trình thuật”, nghĩa là câu chuyện “Chúa Giê-su thiết lập bàn tiệc Thánh Thể” được xen vào giữa câu chuyện Chúa Giê-su loan báo ông Giu-đa phản bội Thầy (14: 17-21) và ông Phê-rô chối Thầy (14: 26-31). Nhờ Kỷ thuật văn chương này, thánh Mác-cô thắp sáng việc Đức Giê-su hiến dâng mạng sống, tương phản với thái độ của hai ông Giu-đa và Phê-rô.

A. Loan báo ông Giu-đa phản bội Thầy (14: 17-21)

      B. Chúa Giê-su thiết lập bàn tiệc Thánh Thể (14: 22-25)

A’. Loan báo ông Phê-rô chối Thầy (14: 26-31).

A. Loan báo ông Giu-đa phản bội Thầy (14: 17-21):

17. “Chiều đến, Đức Giê-su tới cùng với nhóm Mười Hai”: Khi màn đêm buông xuống, người Do thái mới cử hành bữa ăn Vượt Qua. Từ trước cho đến nay, thánh Mác-cô vẫn dùng từ “các môn đệ”, nhưng bây giờ, vào lúc trang trọng này, ông gọi họ chính xác là “nhóm Mười Hai”. Hiển nhiên là muốn nói đến các Tông Đồ, những kẻ đã gắn bó với Chúa Giê-su và với sứ vụ của Ngài. Nhóm người đang quây quần dự tiệc với Chúa Giê-su là hình ảnh tượng trưng cho toàn thể dân Thiên Chúa Mới (12 chi tộc Ít-ra-en).

18. “Có người trong anh em sẽ nộp thầy, mà lại là người đang cùng ăn với Thầy”: Họ được coi là một cộng đoàn thống nhất, tuy nhiên ở đây từ trong nội bộ đã xuất hiện sự chia rẽ. Chúa Giê-su đã loan báo rất rõ ràng rằng Giu-đa sẽ phản bội, tuy nhiên Ngài không nêu đích danh. Ngài nói đến đề tài có trong Kinh Thánh nói về người công chính bị bách hại, về kẻ bị người thân cận nhất phản bội: “Cả người bạn hữu tín cẩn của tôi, kẻ tôi thường san sẻ cơm bánh, cũng đã vùng lên chống lại tôi” (Tv 41: 10).

Cả bốn sách Tin Mừng đều thuật lại sự kiện này và đều nhấn mạnh Giu-đa “đang cùng ăn với Thầy” (thánh Gioan xác định “chia sẻ cùng một miêng bánh”). Theo quan niệm xưa, “đồng bàn” đồng nghĩa “đồng hội đồng thuyền”, tức “đồng sinh đồng tử”, sống chết có nhau. Như vậy, hành vi phản bội nêu bật nhân cách vô liêm sĩ của ông Giu-đa.

19. “Các môn đệ đâm ra buồn rầu”: Bầu khí trang trọng thân tình giữa Thầy trò bổng trở nên ngột ngạt. Lời loan báo của Chúa Giê-su khiến các ông sửng sờ.

 - “Lần lượt hỏi Người: ‘Chẳng lẽ con sao?”: Bởi lẽ Chúa Giê-su không thẳng thừng lột mặt nạ kẻ phản bội nên các tông đồ dồn dập hỏi nhau cho biết ai là kẻ phản bội. Chắc chắn Mác-cô muốn hết thảy mọi Ki-tô hữu cũng phải tự đặt câu hỏi này mỗi lần họ tham dự bữa ăn của Chúa.

20. “Chính là một trong trong nhóm Mười Hai đây, mà là người chấm chung một đĩa với Thầy”: Câu trả lời này cũng thật mơ hồ, vì theo tập quán, mọi người đều cùng chấm chung một đĩa. Lại một lần nữa, Chúa Giê-su vẫn chưa chịu nêu đích danh kẻ phản bội, chỉ xác nhận đó là một người trong họ. Ngài cứ để cho các ông thắc mắc.

21. “Đã hẳn, Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người”: Trong những hoàn cảnh nghiêm trọng như thế, Chúa Giê-su thường gợi lên tước hiệu “Con Người” để nói về sứ mạng của mình. Dưới tước hiệu này, Ngài ẩn dấu mầu nhiệm của Ngài.

Rồi, Chúa đã nêu rõ rằng đó là Thánh Ý Thiên Chúa. Dù việc ứng nghiệm Cựu Ước là chủ đề chính trong câu chuyện Thương Khó của Mác-cô, nhưng không có đoạn văn nào nói về những đau khổ của “Con Người”. Tuy nhiên, Chúa Giê-su viện đến Kinh Thánh để làm cơ sở cuối cùng hầu giải thích cho các môn đệ những điều sắp xảy đến với Ngài. Chỉ vì kế hoạch của Thiên Chúa đang làm việc ở nơi cuộc tử nạn của Đức Giê-su. Chúng ta rất thường gặp các lý do tâm lý trong biến cố Khổ Nạn. Điều gì thúc đẩy Giu-đa phản bội Thầy mình? Các Ki-tô hữu sơ khai không hề quan tâm tới câu hỏi này. Đối với họ điều quan trọng là hiểu cho được việc Đấng Mê-si-a bị các môn đệ chối bỏ lại đã hoàn thành chương trình của Thiên Chúa ra sao (x. Is 53: 7-9).

- “Nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn!”: Chúa Giê-su kết thúc bằng những lời rất dể gây ngộ nhận. Qua những lời này, người ta muốn biết liệu Chúa Giê-su có rõ ràng xác quyết rằng Giu-đa có bị kết án đời đời hay không. Chúng ta không thể nào nghĩ đây là lời nguyền rủa thốt ra từ miệng Đức Giê-su vào giờ Ngài ý thức rất rõ là Ngài sắp đổ máu mình để xóa tội nhân loại. Đúng hơn là lời ghi nhận đượm nỗi buồn phiền. Giả như hắn đừng sinh ra, thì không phạm một tội ác tày trời như vậy. Đừng quên rằng Chúa Giê-su đã phát biểu theo lối than vãn thường gặp trong văn phong Kinh Thánh. Ngài không xét xử kẻ phản bội, cũng không kết án y. Ngài chỉ thương hại y theo cách các ngôn sứ thường than vãn về sự bất trung của toàn thể dân Chúa: “Khốn nạn! Dân tội lỗi! Dân chất đầy tội vạ! Nòi giống ác độc! Phường con hư đốn!” (Is 1: 4). Chúng ta cũng đã thấy Chúa Giê-su đã có lần sử dụng lối nói này để quát đuổi quỷ ma (x. Mc 9: 19). Thực vậy, chúng ta không thể nào kết luận được rằng Chúa Giê-su than van như thế là Ngài đã đày Giu-đa xuống hỏa ngục. .

Sự cố đầu tiên ở bài trình thuật Tiệc Ly nhấn mạnh Đức Giê-su biết trước Giu-đa âm mưu phản bội Ngài và Đức Giê-su sẵn sàng vâng phục ý muốn Chúa Cha chấp nhận cuộc thương khó và tử nạn.

B. Thiết lập bí tích Thánh Thể (14: 22-26):

Bản văn Mác-cô nối kết bánh và rượu của bữa ăn sau cùng của Đức Giê-su với cuộc Tử Nạn ngay liền sau đó của Ngài (x. Mt 26: 26-29; cf. 1Cr 11: 23-25; Lc 22: 15-20), và giải thích chúng trong ánh sáng của các truyền thống hy tế Cựu Ước (x. Xh 24: 8; Is 53: 12) và niềm hy vọng bàn tiệc Mê-si-a trong Nước Thiên Chúa.

22. “Cũng đang bữa ăn, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các ông”: Chúa Giê-su đã làm một cử điệu mang tính nghi thức rất quen thuộc đối với người Do thái khi tham dự bữa ăn Vượt Qua với nhau trong gia đình hay trong nhóm. Như người cha chủ toạ bữa ăn trong gia đình, Ngài cầm lấy bánh và chúc tụng thiên Chúa về những ơn phúc Người đã ban cho. Lời kinh “Chúc Tụng” của người Do thái không phải là một lời nguyện chiếu lệ, trái lại rất trang trọng, bởi vì qua đó dân Ít-ra-en dâng lên Thiên Chúa lời “ca ngợi và tạ ơn” Thiên Chúa vì đã giải thoát không chỉ ông bà tổ tiên xa xưa của họ nhưng cả chính họ ngày hôm nay. Trong kinh Haggada mừng lễ Vượt Qua (nghi thức ăn mừng đại lễ Vượt Qua), người ta cũng đọc thấy “Ta mắc nợ này: là phải cảm tạ, ngợi khen…chúc tụng Đấng đã ban cho cha ông chúng ta và cả cho chúng ta hằng hà dấu chỉ. Ngài đã kéo ta ra khỏi ách nô lệ đến nơi tự do, từ cõi u sầu đến miền hoang lạc, từ chốn tan tác vào nơi vui vẻ, từ tối tăm ra ánh sáng và từ chỗ bị áp bức tới nơi giải phóng. Và trước nhan Người ta hãy hát lên bài ca mới Alleluia”. Sau khi đã hát xong lời nguyện, Chúa Giê-su bẻ bánh. Ngài phát cho các vị đồng bàn mỗi người một miếng. Vừa trao ban cho từng người, Ngài vừa nói:

- “Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy”: Trong tiếng A-ram, ngôn ngữ Chúa Giê-su dùng, tiếng “mình” không phải chỉ nói riêng đến phần thân xác, mà là đến “con người”, nghĩa là toàn bộ cuộc sống của Ngài. Như thế, Chúa Giê-su không chỉ ban ban phát thân xác của Ngài làm của ăn cho chúng ta, như kiểu giải thích duy vật của Tây Phương, nhưng toàn bộ cuộc sống của Ngài. Ngài loan báo rằng toàn bộ cuộc sống của Ngài sẽ được giải thoát khỏi sự chết và chúng ta sẽ được dự phần vào cuộc sống được giải thoát này.

23. “Và Người cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông”: Ý nghĩa của món quà tặng này còn được Ngài làm rõ hơn ngay sau đó, qua cử chỉ và lời nói của Ngài khi cầm lấy chén rượu. Mọi lời nói ở đây đều cô động lạ thường. Chúa Giê-su cầm chén rượu nho lên cao, rồi dâng lời “tạ ơn” Thiên Chúa một lần nữa. Chính từ ngữ Hy-lạp này đã phát sinh ra từ “Eucharistie” (“hành vi tạ ơn”) trong tiếng Pháp, rồi từ đó người ta dùng thuật ngữ này để chỉ về toàn bộ các nghi thức liên quan đến bàn tiệc Thánh Thể.

24. “Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì mọi người”: Ngài trịnh trọng tuyên bố. Kiểu nói: “máu Thầy” trong ngôn ngữ Do thái có nghĩa là “cuộc đời Thầy” (Lv 17: 14). Khi uống rượu đã được thánh hiến, các môn đệ không phải là đã uống máu người. Họ đâu có phải là những kẻ ăn thịt người. Họ thông phần với con người Đức Ki-tô, Đấng đã hiến dâng mạng sống mình trên thập giá (1Cr 11: 17-34).

Những lời Chúa Giê-su nói tiếp theo sau đó đã giải thích rất minh bạch ý nghĩa cái chết của Ngài. Máu Ngài đổ ra sẽ là “Máu Giao Ước”. Thuở xưa trên núi Xi-nai, Thiên Chúa đã thiết lập Giao Ước với dân Ít-ra-en, dân được tuyển chọn. Sau khi đọc lề luật Thiên Chúa cho dân Ít-ra-en nghe xong, ông Mô-sê đã ghi dấu giao ước đầu tiên này bằng máu của những tế vật (Xh 24: 3-8). Lúc này đây, qua cái chết của mình, Chúa Giê-su sẽ thiết lập điều mà Phao-lô (1Cr 11: 25) và Lu-ca (22: 20) gọi rất chính xác là “Giao Ước Mới” giữa Thiên Chúa với toàn thể nhân loại. Thực vậy, việc Chúa Giê-su hiến mình chịu chết đã đem lại một ý nghĩa “cứu độ” và phổ quát. Máu Ngài “đổ ra cho nhiều người”. “Nhiều người” là một lối nói trong tiếng Do thái để chỉ toàn thể nhân loại và kiểu nói này đã ám chỉ chắc chắn đến “Người Tôi Tớ đau khổ” sắp lãnh nhận cái chết để hòa giải các dân thiên hạ với Thiên Chúa như các ngôn sứ đã loan báo trước đó (Is 53: 12). Như thế, Chúa Giê-su đã nâng sự chết Ngài sắp phải chịu lên một tầm mức cứu độ phổ quát. Ngài hiến thân mình và mạng sống của mình để cứu chuộc thế giới.

25. “Cho đến ngày Thầy uống thứ rượu mới trong Nước Thiên Chúa”: Rồi khi kết thúc bữa ăn, Chúa Giê-su đã mở ra một viễn cảnh cánh chung. Ở đây, Chúa Giê-su loan báo Ngài sẽ chiến thắng sự chết. Ngài hứa hẹn Nước Thiên Chúa sẽ đến qua hình ảnh một bữa tiệc, ở đó rồi mọi người sẽ được ăn no uống đủ. Ở đó, “rượu mới” sẽ tuôn tràn cho mọi người, một khi sự chết đã bị tiêu diệt (chướng ngại tối hậu), hết thảy mọi dân nước trên địa cầu này sẽ thông phần với Thiên Chúa hằng sống (Is 25: 6-9).

Lễ Vượt Qua Do thái mà Chúa Giê-su tham dự cùng với các môn đệ, biến thành lễ Vượt Qua Ki-tô giáo bởi việc Chúa Giê-su thiết lập bàn tiệc Thánh Thể như một Giao Ước Mới với Dân Thiên Chúa Mới. Như vậy, lễ Vượt Qua Ki-tô giáo vừa nối tiếp, nhưng cũng vừa đoạn tuyệt và mới mẻ tận căn đối với lễ Vượt Qua Do thái.

Nếu khung cảnh bữa ăn Vượt Qua soi sáng sự biến đổi kỳ diệu của bữa ăn Thành Thể như thế nào, thì bữa ăn này, cũng là bữa Tiệc Ly, bữa ăn chia tay, mặc khải tất cả khía cạnh thống thiết của nó như thế. Đức Giê-su sắp từ biệt các môn đệ của mình, những người mà Ngài yêu thương cho đến cùng, những người mà Ngài trao gởi sứ mạng truyền đạt sứ điệp của Ngài cho hậu thế. Trong giờ phút ly biệt kẻ ở người đi này, Chúa Giê-su gặp thấy một phương tiện để ở với họ, bằng cách thiết lập bàn tiệc Thánh Thể như một kỷ vật kỳ diệu này, quà tặng của chính bản thân mình; nhờ đó các Tông Đồ cũng như những người kế nghiệp các ngài có thể lưu truyền mãi mãi sự hiện diện của Ngài. Chỉ duy một mình Thiên Chúa mới có thể vừa ra đi vừa ở lại được.

Các cộng đoàn Ki-tô hữu đều sử dụng các câu trích dẫn từ bản trình thuật trên. Mác-cô cho thấy rằng Chúa Giê-su đã thiết lập bàn tiệc Thánh Thể. Đối với các Ki-tô hữu, bữa tiệc này đã được lặp lại để “tưởng nhớ” cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Đấng Cứu Độ. Khi cùng nhau “bẻ bánh”“uống rượu chúc tụng”, người Ki-tô hữu ý thức được họ phải loan truyền cho anh em biết đến các biến cố cứu độ này. Họ biết rằng bí tích này phải thực thi sống động mầu nhiệm Chúa Ki-tô đã chết và đã sống lại. Cũng như các anh em Do thái cử hành lễ Vượt Qua thế nào thì các môn đệ Chúa Giê-su cũng lặp lại những lời nói, nghi lễ này thế ấy, đó là “Từ thời nay tới thời khác, khi con người ra khỏi đất Ai-cập, họ đã mắc nợ. Ta hãy chúc tụng Thiên Chú Chí Thánh, Đấng không chỉ giải thoát cha ông chúng ta mà cả chúng ta nữa. Trong Ngài, chúng ta được cứu thoát!”.

A’. Báo trước việc ông Phê-rô chối Thầy (14: 27-31).

Việc báo trước ông Phê-rô sẽ chối Thầy trở lại với việc loan báo ông Giu-đa phản bội Thầy trước đó (14: 17-21). Thật khó tưởng tượng rằng những Ki-tô hữu tiên khởi sáng tác một câu chuyện Phê-rô chối Thầy một cách gay gắt đến như thế.

26. “Hát thánh vịnh xong…”: Chi tiết quý báu này cho thấy bữa tiệc ly mà Chúa Giê-su đồng bàn với nhóm Mười Hai kết thúc như một bữa ăn Vượt Qua của người Do thái. Đây chính là thánh thi tạ ơn được gọi là “Hallel”, trích từ Tv 115-118, mà người Do thái hát để kết thúc bữa ăn Vượt Qua. Khi hát xong bài ca tán tụng này, người ta hát “Alleluia”: “Hãy ca tụng Thiên Chúa”.

- “Chúa Giê-su cùng các môn đệ lên núi Ô-liu”. Đức Giê-su và các môn đệ rời phòng tiệc; họ cùng nhau đi xuống thung lũng Xe-ron nằm giữa thành thánh Giê-ru-sa-lem và núi Ô-liu. Đây là nơi Thầy trò dể dàng tìm được nơi nương náu an toàn, tránh được mối đe dọa đang rình rập họ ở trong thành.

27. “Tất cả anh em sẽ vấp ngã”: Trên đường đi, Chúa Giê-su báo trước những gì sẽ xảy đến cho họ. Bầu khí hân hoan hội hè nơi bàn tiệc nay nhường chỗ cho bầu khí nặng nề, u uất. Không phải là Ngài không biết đến hậu quả nặng nề sẽ giáng xuống trên các ông một khi Ngài bị bắt đem đi.

- “Ta sẽ đánh người chăn chiên, và chiên sẽ tan tác”: Ngài loan báo là các môn đệ sẽ tản mác và sẽ vấp ngã sa ngã nữa bằng cách trích dẫn sấm ngôn Dcr 13: 7-9 này.  Vị ngôn sứ này đã loan báo rằng thời kỳ cứu độ sẽ đi trước bởi một cơn thử thách lớn lao giáng xuống trên một phần dân Thiên Chúa để thanh tẩy họ; nhóm còn sót lại này bất ngờ không có người chăn dắt, vào lúc họ sẵn sàng đón nhận Giao Ước Mới. Như vậy, thử thách đang chờ đợi nhóm Mười Hai xem ra quá ư khốc liệt.

28. “Thầy sẽ đến Ga-li-lê trước anh em”: Để an ủi các ông, Chúa Giê-su loan báo cho các ông rằng Ngài sẽ gặp lại các ông ở Ga-li-lê-a, một cách gián tiếp Ngài báo trước cuộc Phục Sinh của Ngài. Như vậy, Ngài đã cho các ông một cuộc hẹn gặp trước khi bước vào con đường thương khó và tử nạn rồi, nghĩa là, khi “sống lại”, Chúa Giê-su vẫn tiếp tục qui tụ và dẫn dắt họ. 

29. “Dầu tất cả có vấp ngã đi nữa, thì con cũng nhất định là không”: Vị thủ lãnh nhóm Mười Hai là Phê-rô, hăm hở đứng ra tuyên xưng lòng trung thành với Thầy mình.

30. “Hôm nay, nội đêm nay, gà chưa kịp gáy hai lần, thì chính anh, anh đã chối Thầy đến ba lần”: Lời tuyên xưng của Phê-rô phát xuất từ tấm lòng quảng đại bộc trực. Nhưng Chúa Giê-su không hề lạ lẫm gì sự yếu đuối của các ông.

31. “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy”: Thánh Phê-rô lại càng quả quyết hơn và tất cả mọi người đểu đồng thanh quả quyết như ông. Mãi đến bình minh hôm sau mới ứng nghiệm lời tiên báo của Chúa Giê-su về việc sẽ xảy đến cho Phê-rô (x. 14: 66-72). Lúc này ông vẫn khăng khăng rằng mình và các bạn hữu sẽ một lòng một dạ trung thành với Thầy cho dù phải chết đi nữa. Mác-cô nhấn mạnh đến sự mù quáng của các Tông Đồ trước cái chết sắp đến của Thầy. Tới lúc đó rồi mà họ vẫn hoàn toàn không biết rằng họ sẽ phải làm gì cả.

Để kết luận, ta nên nhớ rằng, Mác-cô đã lồng ghép hai đoạn văn loan báo sự hèn nhát của những kẻ rất thân cận với Chúa Giê-su như bức bình phong để thắp sáng hoạt cảnh Chúa thiết lập bí tích Thánh Thể (14: 22-25):  đó là tội phản bội của Giu-đa (14: 17-21) và tội chối Thầy của Phê-rô (14: 26-31).

II. CUỘC THƯƠNG KHÓ (14: 32-15: 15)

1. ĐỨC GIÊ-SU CẦU NGUYỆN VÀ BỊ BẮT (14: 32-52).

Hai sự cố dẫn Đức Giê-su đến gần thập giá hơn: Đức Giê-su cầu nguyện trong vườn Ghết-sê-ma-ni (14: 32-42) và Ngài bị bắt (14: 43-52). Bài trình thuật này cho thấy Ngài đối mặt với cuộc tử nạn của mình thật lẽ loi đơn độc như thế nào. Ngài không tìm thấy niềm cảm thông chia sẻ ở nơi các môn đệ thân tín nhất của Ngài; chỉ duy mối liên hệ với Chúa Cha và niềm xác tín tuân phục thánh ý Chúa Cha là niềm nâng đỡ độc nhất của Ngài trong nỗi xao xuyến tận mức trước viễn cảnh cuộc Tử Nạn sắp đến.

1.1. Đức Giê-su cầu nguyện (14: 32-42).

Bản văn Mác-cô về cơn hấp hối trong vườn Ghết-sê-ma-ni trình bày Đức Giê-su là Con Thiên Chúa nhu mì đấu tranh để chấp nhận ý muốn của Thiên Chúa trong cuộc thương khó của Ngài. Đồng thời, bản văn này cũng phác họa chân dung về các môn đệ, họ chẳng nhận thức một chút nào về những gì đang xảy ra, quả thật như một mẫu gương nên tránh.

32. “Sau đó, Đức Giê-su và các môn đệ đến một thuở đất gọi là Ghết-sê-ma-ni”: Đoạn Tin Mừng này, được thánh Lu-ca đánh giá là “thống thiết” (22: 24), mở đầu với địa danh “một thuở đất gọi là Ghết-sê-ma-ni”. Đức Giê-su cùng các môn đệ rút vào trong khu vườn này.

- “Anh em ngồi lại đây, trong khi Thầy cầu nguyện”: Chúa Giê-su có thói quen lánh vào một nơi thanh vắng để cầu nguyện một mình (1: 35; 6: 46). 

33. “Rồi Người đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gioan đi theo”: Không thể nào chịu đựng nổi một mình, Ngài dẫn theo bên mình ba người môn đệ thân tín nhất của mình: thánh Phê-rô, thánh Gia-cô-bê và thánh Gioan. Cả ba là những người đã được chứng kiến cuộc phục sinh con gái của ông Gia-ia (5: 37) và cuộc Biến Hình (9: 2). Làm sao họ lại có thể xa Thầy vào thời điểm này được?

- “Người bắt đầu cảm thấy hãi hùng và xao xuyến”: Chúa Giê-su đã tỏ ra rất là “người”. Khi cảm thấy cái chết đang gần kề không thể tránh khỏi, Ngài, cũng như mọi người khác, cảm thấy hãi hùng xao xuyến đến tận đáy lòng.

34. “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được”: Mãi cho đến lúc này, Chúa Giê-su vẫn còn giữ được phong thái thanh thản đón chờ những gì sắp xảy đến. Mác-cô chỉ nhắc đến sự buồn rầu nơi các môn đệ (14: 19). Nhưng tới đây, ông nói rõ là ngay cả Chúa Giê-su cũng thú nhận “tâm hồn Thầy buồn đến chết được”. Nếu Ngài buồn phiền đến chết được chính là do nổi cô đơn tuyệt đối mà không biết ngỏ cùng ai và vì thất bại trong sứ mạng của mình (ít là theo vẻ bên ngoài).

- “Anh em ở lại đây mà canh thức”: Trong thân phận yếu nhược của một phàm nhân, Chúa Giê-su cần đến sự hiện diện của họ bên cạnh mình như nguồn an ủi nâng đỡ Ngài trong cơn cùng khốn này.

35. “Người đi xa hơn một chút”: Ngài yêu cầu ba người bạn ở bên mình, nhưng vẫn cách xa một khoảng, bởi vì Chúa Giê-su không nghĩ rằng ngay đến những người thân cận nhất này lại có thể chia sẻ tấn thảm kịch của mình.

- “ Quỵ xuống đất mà cầu xin cho giờ ấy rời khỏi chính mình, nếu có thể được”: Ngài tách xa họ một quãng và cảm thấy mặt đất như chao đảo dưới bước chân mình. Hoàn toàn kiệt sức, Ngài sấp mình xuống đất. Cử chỉ sấp mình xuống đất cho thấy thân xác yếu nhược, nhưng cũng là thái độ cầu nguyện khiêm tốn và khẩn thiết. Không có nơi nào trong Tin Mừng mô tả Đức Giê-su cầu nguyện như thế. Ngài bắt đầu “bị cám dổ” đây là lúc chính nhân tính lâm cơn khủng hoảng muốn chống lại thiên tính. Ngài cầu mong cho “giờ đó” tránh xa khỏi Ngài, giờ mà Ngài bị mọi người lánh bỏ, giờ bị giao nộp.

36. “Áp-ba, Cha ơi”: Chỉ có Mác-cô là thánh ký duy nhất ghi lại cho chúng ta biết lời cầu nguyện tận thâm tâm của Chúa Giê-su. Ngài kêu lên với Thiên Chúa một lời nguyện xin thật thống thiết. Bằng tiếng A-ram, Ngài gọi Thiên Chúa là “Abba”, tiếng kêu của con trẻ bập bẹ gọi cha mình. Khi cầu nguyện, người Do thái không bao giờ dùng “Abba” để gọi Thiên Chúa, bởi lẽ từ này quá thân mật. Từ chính miệng Chúa Giê-su, tiếng kêu của con trẻ gọi cha mình này diễn tả một ý thức sâu sắc về mối liên hệ độc đáo giữa Ngài và Chúa Cha.

- “Cha có thể làm được mọi sự, xin tha cho con khỏi uống chén này” : “Chén” là hình ảnh Kinh Thánh để nói lên một sự thử thách, một vận mệnh đau thương, đồng thời cũng gợi lên chén máu của hy tế. Ngài biết rất rõ “Cha có thể làm mọi sự” . Đột nhiên Ngài xin Cha tha cho Ngài khỏi phải uống chén đau khổ mà Ngài phải uống cạn cho đến giọt cuối cùng.

- “Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha”: Chúa Giê-su đã chiến đấu nội tâm tận lực. Ngài bị cám dỗ (như đã được báo trước ở 1: 12-13) tránh né cái chết đang chờ Ngài. Nhưng Ngài hiểu rằng kế hoạch của Thiên Chúa phải vượt lên trên ý mình. Và Ngài phó thác hoàn toàn. Cuộc chiến đấu thật hết sức cam go. Nhưng rồi nhân tính của Chúa Giê-su đã phục tùng ý Cha. Ngài đã thắng cơn cám dỗ.

37. “Rồi Người trở lại, thấy các môn đệ đang ngủ”: Sau khi cầu nguyện xong, Chúa Giê-su trở lại với các bạn hữu lần thứ nhất. Và Ngài chỉ thấy họ ngủ say vô tư lự.

- “Si-mon, anh ngủ à? Anh không thức nổi một giờ sao?”: Khi gọi Phê-rô bằng tên tục Si-mon, hẳn Ngài đã quở trách kẻ làm đầu nhóm Mười Hai được chọn để ở bên cạnh Ngài chia sẻ với Ngài, đã xao lãng bổn phận, không thể tha thứ được. Qua lời quở trách này, chúng ta nhận thức được những ân hận của thánh Phê-rô. Những lời quở trách của Chúa Giê-su vẫn hằn sâu trong tâm khảm của ông: “Si-mon, anh ngủ à? Anh không thức nổi một giờ sao?”.

38: “Anh em hãy canh thức và cầu nguyện”: Lời khẩn khoản của Chúa Giê-su được diễn đạt theo kiểu nói Do thái thường dể bị hiểu lầm. Ở đây chúng ta thấy rõ rằng các môn đệ mê ngủ là lẽ đương nhiên, chỉ là một hiện tượng sinh lý ngược với hiện tượng tỉnh thức. Nhưng khi liên kết việc tỉnh thức để cầu nguyện, không phải Chúa Giê-su chỉ muốn nói họ đừng ngủ nữa mà là phải tỉnh thức tâm linh. Đó mới là điểm đáng chúng ta lưu ý, tương tự như dụ ngôn người canh cửa phải hết sức tỉnh táo để chờ đón chủ về bất cứ giờ nào trong đêm (13: 34).

- “Kẻo sa chước cám dỗ”: Các môn đệ được khuyên răn phải triệt để “không được sa chước cám dỗ”. Lời này rất gần gũi với lời cầu xin: “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ” trong Kinh “Lạy Cha” mà trong số ba Tin Mừng Nhất Lãm chỉ một mình thánh Mác-cô không ghi lại (x. Mt 6: 13 và Lc 11: 4b). Chước cám dỗ gì đây? Trong những lúc nguy nan khi mà các quan điểm phàm trần không nối kết được với ý Chúa, con người không được quyền đánh mất niềm tin (8: 33).

- “Vì tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu đuối”: Người ta thường hiểu lời căn dặn này theo quan niệm Hy-lạp, theo đó con người ta gồm hai thực tại đối nghịch nhau: linh hồn thì tốt lành và xác thịt xấu xa. Nhưng trong ngôn ngữ Do thái, “xác thịt”“toàn bộ con người” với những mõng dòn yếu đuối của nó. Nó trở nên tội lỗi khi nào nó không hướng về “tâm linh” cửa ngõ dẫn tới Thiên Chúa.

39-40. “Người lại đi cầu nguyện, kêu xin như lần trước. Rồi Người trở lại, thấy các môn đệ vẫn ngủ…”: Nói xong thế rồi Chúa Giê-su trở lại nơi cầu nguyện. Sau đó, Ngài trở lại lần nữa với các môn đệ và thấy họ vẫn chưa tỉnh thức. Mác-cô tỏ hết sức khoan dung. Ông chỉ nói họ vẫn li bì nặng giấc, chứ thực ra phải nói họ mê mẩn, lú lẫn mới phải. Và lần thứ hai này khi tình thế đã đến hồi nguy ngập hơn, các môn đệ vẫn không hay biết gì đến tấn thảm kịch Chúa Giê-su sẽ gánh chịu: “Các ông chẳng biết ăn nói làm sao”.

41. “Lần thứ ba, Người trở lại”: Ba lần Chúa Giê-su trở lại với ba người bạn thân tín nhất của mình. Thật cảm động biết bao khi biết rằng vị Thiên Chúa làm người toan tính dựa vào những bạn hữu nhân loại của mình trong nỗi buồn phiền vô hạn của mình. Nhưng thất vọng biết bao! Những người bạn thân nhất của Ngài rốt cuộc không thể cưỡng kháng được cơn mê ngủ. Nhóm Tông Đồ là tượng trưng một cách tuyệt vời thân phận phàm nhân mỏng dòn, yếu đuối và tội lỗi, họ không thể nâng đỡ an ủi Thầy mình trước nỗi bi thương của Thầy. Và rồi Mác-cô lại viết rằng Chúa Giê-su trở lại lần thứ ba (lần cuối cùng) với ba môn đệ thân tín nhất. Lần trở lại cuối cùng này, Chúa Giê-su cũng gặp thấy các bạn hữu của Ngài trong tình trạng chẳng khá gì hơn trước đó: vẫn ngủ say vô tư lự.

- “Giờ đã điểm. Này Con Người bị nộp vào tay phường tội lỗi”: Con đường thương khó đã khởi sự rồi. “Giờ” đã đến. Sự phản bội bởi con người sắp xảy ra trong tích tắc mà thôi. Mác-cô là tác giả đầu tiên nhắc đến “giờ” của Con Người. Trong Tin Mừng Gioan, chủ đề “Giờ” được khai triển rất sâu rộng (Ga 12: 23-30; 13: 1; 17: 1-2, vân vân).

- “Lúc này mà còn ngủ, còn nghỉ sao?”: Chúa Giê-su không còn mong chờ sự nâng đỡ nào từ họ. Ngài hoàn toàn cô độc trong cơn hấp hối ở vườn Ghết-sê-ma-ni.

42. “Đứng dậy, ta đi nào! Kìa kẻ nộp Thầy đã tới!”: Mọi sự đã hoàn tất theo như chương trình Chúa Giê-su đã dự định. Ngài vội vã đánh thức họ dậy bằng những lời lẽ như mấy lần trước. Nhờ lời cầu nguyện nâng đỡ Chúa Giê-su đã sẵn sàng giáp mặt với tên phản bội. Các bạn Ngài liệu có thể ra khỏi cơn mê ngủ được chăng?

Qua trình thuật khá cô động này, chắc chắn Mác-cô muốn giải đáp những câu hỏi đặt ra cho cộng đoàn mình: các Ki-tô hữu thành Rô-ma, bị bách hại, hẳn biết rõ Chúa Giê-su đã “chịu cám dỗ”: làm thế nào đón nhận cái chết mà không chối bỏ niềm tin? Mác-cô đã trình bày cho họ thấy Thầy đã phải đấu tranh cận lực mới nhận ra được thánh ý Thiên Chúa. Thánh sử còn ghi nhận sự trái ngược giữa tình trạng mê ngủ đáng tội của các tông đồ với sự tỉnh táo cầu nguyện của Chúa Giê-su. Ba lần Chúa Giê-su tiếp xúc với Chúa Cha rồi với loài người hẳn mang nhiều ý nghĩa. Con số “3” trong Tin Mừng là con số chỉ sự kiên trì. Trên đường tiến về Giê-ru-sa-lem, Chúa Giê-su cũng đã lặp lại ba lần rằng Con Người phải lãnh nhận cái chết (8: 31; 9: 31; 10: 32-34). Mỗi lần loan báo về Cuộc Khổ Nạn là mỗi lần Chúa Giê-su nhấn mạnh đến số phận nghiệt ngã sắp tới của Ngài. Ở đây, ba lần Chúa Giê-su kêu mời tỉnh thức và cầu nguyện còn muốn nhấn nạnh hơn nữa. Quả vậy, Mác-cô kêu gọi các môn đệ Chúa Giê-su phải phải liên lỉ cầu nguyện theo như kinh Lạy Cha: “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ” (Mt 6: 13; Lc 11: 4). Chúng ta chẳng có gì mà phải xấu hổ cả khi bị chước cám dỗ, bởi lẽ chính Thiên Chúa cũng bị cám dỗ kia mà. Nhưng chính Ngài đặt để con người ta vào tình trạng nguy kịch đó, và con người không nhận ra được hành động khoan nhân của Ngài. Từ lúc ấy đức tin sẽ lâm vào tình trạng nguy nan. Do đó chúng ta phải cầu xin Chúa cho các tín hữu qua được cơn thử thách.

1.2. Đức Giê-su bị bắt (14: 43-52).

Đoạn văn này cốt là nhiều tình tiết ngắn gọn: cuộc bố ráp Đức Giê-su (14: 43-46), chém đức tai tên đầy tớ (14: 47), Đức Giê-su đánh giá (14: 48-49) và các môn đệ trốn chạy (14: 50-52). Đoạn văn này khai triển nhiều chủ đề quen thuộc: Giu-đa phản bội, Đức Giê-su biết trước, ứng nghiệm Kinh Thánh, và các môn đệ không trung thành với Đức Giê-su.

A. Cuộc bố ráp Đức Giê-su (14: 43-46):

43. “Ngay lúc đó, khi Người còn đang nói, thì Giu-đa, một người trong nhóm Mười Hai, xuất hiện…”: Ở vườn Ghết-sê-ma-ni, Chúa Giê-su vừa nói với các bạn hữu xong thì ngay lúc đó tên phản bội xuất hiện cùng với đoàn lũ quân lính của thầy thượng tế. Một lần nữa, Mác-cô ghi rằng Giu-đa là một người trong nhóm Mười Hai để nêu bật hành vi bỉ ổi của hắn. Tên phản bội biết nơi chốn; hắn biết rằng Đức Giê-su thường đến đây; hắn không lầm khi dẫn đến đây đội cận vệ Thượng Hội Đồng được trang bị gươm giáo, và chắc chắn kéo theo những thành phần vô lại, cầm những gậy gộc nhặt được dọc đường.

44. “Tôi hôn ai, thì chính người đó”: Những người lãnh nhiệm vụ bắt Đức Giê-su lại không biết Ngài tận mặt, dù sao trong đêm tối có nguy cơ bắt nhầm người. Giu-đa ước đinh với họ một ám hiệu: “Tôi hôn ai thì chính là người đó. Các anh bắt lấy và điệu đi cho cẩn thận”. Một môn đệ thường chào thầy mình theo cách thức truyền thống này, nhưng Giu-đa đã cho nụ hôn của tình nghĩa thầy trò này một ý nghĩa khác: dấu hiệu nộp Thầy mình. Điều này càng làm tăng thêm sự khinh tởm đối với hành động của Giu-đa.

45. “Vừa tới, Giu-đa tiến lại gần Người và nói: ‘Thưa Thầy!’ rồi hôn Người”: Vào thời đó, bất kỳ môn đệ nào cũng chào thầy: “Thưa Thầy” và ôm hôn thầy để biểu lộ tình nghĩa của người môn sinh đối với thầy mình. Nhưng ở đây, lời nói và hành động của Giu-đa mới thật xấu xa, bởi vì chúng trở thành dấu chỉ điểm bắt Thầy mình.

B. Chém đứt tai tên đầy tớ (14: 47):

47. “Một trong những kẻ có mặt tại đó tuốt gươm ra…”: Thánh Mác-cô không cho chúng ta biết tên của người môn đệ này. Nhờ thánh Gioan, chúng ta biết rằng tác giả của hành động này là Phê-rô và tên đầy tớ bị chém đứt tai tên là Man-cô (Ga 18: 10). Và nhờ thánh Lu-ca, chúng ta biết tai bị chém đứt là tai phải và Chúa Giê-su đã chữa lành tai cho y (Lc 22: 50-51). 

C. Chúa Giê-su đánh giá (14: 48-49):

48. “Tôi là một tên cướp sao mà các ông đem gươm giáo gậy gộc đến bắt?”: Ở Mác-cô, chúng ta không thấy nói gì về chuyện Thầy quở trách vị “anh hùng hào hiệp ra tay bảo vệ” mình đã hành động vụng về rồ dại này cả; trái lại, Ngài vẫn giữ được phong thái hoàn toàn bình thản khi lên tiếng phản đối cách thức những kẻ đến bắt mình.  

49. “Ngày ngày, tôi vẫn ở giữa các ông, vẫn giảng dạy ở đền thờ…”: Thực vậy, Chúa đã hành xử như một bậc tôn sư hiền hòa. Những lời dạy công khai của Ngài chứng thực điều đó. Bởi đâu mà người ta gán cho Ngài cái tội kích động quần chúng và liệt Ngài vào hàng ngũ những kẻ gian ác sống ngoài vòng pháp luật?

- “Như thế này là để lời Sách Kinh Thánh được ứng nghiệm”: Chúa Giê-su quy chiếu đến bài ca: “Người Tôi Tớ chịu đau khổ” mà Ngài đã nhiều lần áp dụng vào vận mệnh của chính mình. Cách thức bắt Ngài như thế thật vô lý và không thể nào hiểu thấu được. Chỉ có thể dựa vào Kinh Thánh, chấp nhận cho đó là thánh ý của Thiên Chúa mà thôi.

D. Các môn đệ trốn chạy (14: 50-52):

50. “Bấy giờ, các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết”: Họ đã từng theo Chúa Giê-su từ xưa cho đến nay, thì dù có yếu đuối tới đâu chăng nữa, cũng không thể “bỏ mặc Thầy mà trốn chạy hết” ngay giữa lúc nguy nan ấy được. Việc họ tháo chạy đã được Chúa Giê-su báo trước: “Ta sẽ đánh người chăn chiên, và đàn chiên sẽ tan tác” (14: 27). Chẳng còn một ông nào dám đứng ra bênh vực Ngài, chẳng còn một ai đứng ra làm chứng cho Ngài, mặc dù trước đó họ đã hăm hở xác quyết lòng trung thành với Thầy dù phải chết đi nữa (14: 31). Nỗi cô đơn của Chúa Giê-su đã quá lớn rồi, nay còn lại triệt để hơn.

51-52. “Trong khi đó có một thanh niên đi theo Người…”: Mác-cô kết thúc đoạn văn buồn thảm này bằng một mẫu chuyện nhỏ khiến độc giả phải nghĩ ngợi. Chân tính của người môn đệ trẻ bỏ chạy mình trần đã lôi kéo nhiều phỏng đoán suốt nhiều thế kỷ. Thoạt đầu người ta cho rằng chàng trai trẻ vô danh đó xuất hiện là để giải cứu Chúa Giê-su, nhưng bởi vì anh ta lại tìm đường tháo chạy, nên hầu chắc đó chính là Mác-cô, thánh ký này đã chứng kiến tường tận cảnh tượng vừa diễn ra và đã xác nhận điều đó qua “dấu chứng” kỷ niệm này. Một số độc giả khác lại cho rằng nhân vật bí hiểm đó chính là hình bóng tượng trưng cho người môn đệ đón nhận cái chết trong cảnh trần trụi như chính Thầy mình. Dù anh ta là ai thì trong mạch văn hiện nay anh là một nhân vật đại diện tập thể: “Bấy giờ các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết” (14: 50).

2. CHÚA GIÊ-SU CHỊU XỬ ÁN (14: 53-15: 15).

Mác-cô trình bày hai cuộc xử án: một trước các vị lãnh đạo Do thái và một khác trước tổng trấn Phi-la-tô. Thánh ký xem phiên tòa Do thái là phiên tòa mang tính quyết định hơn, dù từ viễn cảnh luật pháp phiên tòa Rô-ma quan trọng hơn. Suốt hai cuộc xử án, Đức Giê-su vô tội hầu như hoàn toàn thinh lặng (x. Is 53: 7).

2.1. Phiên tòa trước Thượng Hội Đồng (14: 53-72).

Lại một lần nữa, thánh ký sử dụng kỷ thuật “hai câu chuyện trong một bài trình thuật”, nghĩa là câu chuyện Chúa Giê-su bị xử án trước Thượng Hội Đồng (14: 55-65) được chen vào giữa câu chuyện thánh Phê-rô chối Thầy (14: 53-54 và 66-72).  Nhờ kỷ thuật này, thánh Mác-cô nêu bật tinh thần kiên vững của Đức Giê-su và thái độ hèn yếu của ông Phê-rô. Khi viết lại sự kiện này, Mác-cô không hề có ý hạ thấp hình ảnh của vị tông đồ trưởng nơi tâm hồn độc giả. Ông chỉ muốn trình bày hai hình ảnh tương phản xảy ra vào giờ phút thử thách ấy: phong thái can trường dũng khí của Chúa Giê-su khi đối diện với các quan tòa (14: 53-65) và thái độ nhu nhược yếu đuối của người bạn thân tín nhất của Ngài. Các Ki-tô hữu Rô-ma đang bị bách hại hồi ấy được mời gọi suy gẫm về tính yếu đuối của con người: Ở đây, Phê-rô là một điển hình cho một tông đồ đã không dám liều mạng để theo Chúa Giê-su cho tới chân thánh giá (x. 8: 34-35).

Bài trình thuật này được cấu trúc như sau:

A. Thánh Phê-rô theo Thầy xa xa (14: 53-54)

    B. Chúa Giê-su chịu xử án trước Thượng Hội Đồng (14: 55-65)

A’. Thánh Phê-rô chối Thầy (14: 66-72)

A. Ông Phê-rô theo Thầy xa xa (14: 53-54):

53. “Họ điệu Đức Giê-su đến vị thượng tế. Các thượng tế, kỳ mục  và kinh sư, tất cả đều tựu lại”: Ngay khi bắt được Chúa Giê-su, người ta đưa Ngài ra xét xử liền, không cần đợi chờ. Trong cảnh này, Mác-cô đã đem vào những chức sắc tôn giáo cao nhất của Đạo Do thái. Thầy thượng tế thời đó tên là Cai-pha (Mt 28: 57). Đó là một nhân vật quyền uy lẫm liệt: vị thủ lãnh tối cao của toàn dân tộc. Ông đứng đầu Thượng Hội Đồng. đây chính là toà án tối cao của Đạo Do thái. Thượng Hội Đồng này có 71 thành viên, gồm ba nhóm: nhóm “các thượng tế” đại diện giới tư tế; nhóm “các kỳ mục” đại diện các bậc trưởng lão vị vọng trong dân; và nhóm “các kinh sư” xuất thân từ mọi tầng lớp xã hội, là những tinh hoa của nhóm Biệt Phái, họ rất tinh thông lề luật.

Việc Mác-cô thuật lại rằng toàn thể Thượng Hội Đồng đều có mặt đông đủ ban đêm để xử án Chúa Giê-su đã khiến nhiều sử gia bối rối. Bởi lẽ luật Do thái bấy giờ cấm chỉ việc triệu tập Thượng Hội Đồng vào ban đêm, như trong trường hợp này chẳng hạn. Hơn nữa, đại hội đồng này không phải tề tựu lại ở dinh thượng tế, mà ở phòng riêng của thượng tế trong nơi thánh ở Đền Thờ. Vì những lý do này và một số lý do khác dựa trên các thủ tục tố tụng được áp dụng hồi đó, người ta có thể cho rằng thực sự Chúa Giê-su khó mà bị đem ra xét xử trước Thượng Hội Đồng vào ban đêm.

Truyền thống theo Tin Mừng Gioan có vẻ đúng hơn. Chúa Giê-su bị điệu tới trước vị thượng tế và các cận thần. Và tại đó, trong đêm, Ngài đã chịu tra tấn khá kỹ càng trước khi bị giao nộp cho tòa án Rô-ma vào sáng hôm sau (Ga 18: 12-24). Như thế Mác-cô, và sau đó đến lượt Mát-thêu (26: 57-68) chắc hẳn đã sửa đổi diễn trình lịch sử đó. Với mục đích nào? Những diễn biến bên ngoài đối với thánh ký không quan trọng cho bằng chính mức độ tôn giáo. Một lần nữa, chúng ta nên nhớ rằng tác giả này nghiêng về ý nghĩa tôn giáo hơn là việc mô tả chính xác các sự kiện xảy ra. Ở đây, Mác-cô đề cao giá trị lời Chúa Giê-su long trọng công bố về chân tính sâu xa của Ngài.

54. “Ông Phê-rô theo Người xa xa, vào tận bên trong dinh thượng tế…”: Trước khi kể đến chuyện này, Mác-cô ghi nhận rằng Phê-rô theo Chúa Giê-su từ xa, và mon men đến gần dinh thượng tế. Ở trong sân, ông trà trộn với đám lính canh và cùng họ sưởi ấm quanh đống lửa. Đây chỉ mới chỉ là phần mào đầu câu chuyện về Phê-rô, vị tông đồ trưởng, chối Thầy.

B. Đức Giê-su chịu xử án trước Thượng Hội Đồng (14: 55-65):

  Thánh ký trình bày phiên tòa ở dinh thượng tế vào đêm thứ nhất lễ Vượt Qua như một cuộc xét xử quy mô (dù có vài vấn đề lịch sử nghiêm trọng được nối kết với bức chân dung nầy). Hai tội được nêu lên trong suốt cuộc xử án đó là Đức Giê-su đã đe dọa phá hủy Đền Thờ Giê-ru-sa-lem và Ngài đã nói phạm thượng vì tự nhận mình là Đấng Mê-si-a có nguồn gốc thiên giới.

55. “Bấy giờ, các thượng tế và toàn thể Thượng Hội Đồng tìm lời chứng buộc tội Đức Giê-su, nhưng họ không tìm ra”: Đến đây, Mác-cô lại quay về với việc xét xử Chúa Giê-su. Như ta đã thấy, Thượng Hội Đồng tiến hành sự thẩm cứu pháp lý cho qua chuyện, bởi vì bản án đã được ấn định sẳn rồi. Vì thế, họ chỉ quan tâm đến điều duy nhất là tìm cho ra một lý chứng để kết án từ hình Chúa Giê-su.

56. “Vì tuy có nhiều kẻ đưa chứng gian tố cáo Người, nhưng các chứng ấy lại không ăn khớp với nhau”: Thánh Mác-cô nhấn mạnh rằng những lời chứng không ăn khớp với nhau và những nhân chứng không thể đưa ra chứng cớ buộc tội Ngài được. Người ta không tìm ra được một lời cáo buộc nào có giá trị pháp lý để kết tội Ngài cả. Vì thế, Chúa Giê-su vô tội.

58. “Chúng tôi có nghe ông ấy nói rằng Tôi sẽ phá Đền Thờ này do tay người phàm xây dựng, và nội trong ba ngày, tôi sẽ xây dựng một Đền Thờ khác, không phải do tay người phàm!”: Trong số các lời cáo gian được đưa ra, thánh Mác-cô lưu ý nhiều nhất đến lời tố cáo này. Sau biến cố Phục Sinh, lời tố cáo này lại quá rõ ràng đối với độc giả, họ hiểu rằng: Đền Thờ sẽ được dựng lại sau ba ngày và không phải do bàn tay con người. đền Thờ đó chính là thân thể Đức Giê-su Phục Sinh (x. Ga 2: 19-22).

59. “Nhưng ngay cả điểm này, chúng cớ của họ không ăn khớp với nhau”: Nhưng ngay cả chuyện này cũng không đủ để kết án Chúa Giê-su. Thực ra trong Tin Mừng của mình, khi đánh đuổi và xua dẹp việc buôn bán trong Đền Thờ (11: 15-18), Chúa Giê-su không công bố Đền Thờ sẽ bị phá hủy. Chính hành động xua đuổi người buôn bán ra khỏi Đền Thờ mới thực sự gây khó chịu cho các thượng tế cũng như cho nhóm bảo vệ truyền thống. Chỉ thánh Gioan ghi lại lời tuyên bố của Chúa Giê-su, nhưng chủ từ không là “tôi” như lời tố cáo của họ mà là “Các ông cứ phá huỷ Đền Thờ này đi…” (Ga 2: 19). Còn Mác-cô chỉ chú trọng đến thời điểm.

60. “Bấy giờ vị thượng tế đứng lên giữa hội đồng hỏi Đức Giê-su”: Vì các lời tố cáo buộc tội đều không phù hợp với nhau, nên vị thượng tế phải đích thân can thiệp.

- “Đức Giê-su vẫn làm thinh, không đáp một tiếng”: Đối mặt với họ, Chúa Giê-su giữ được phẩm giá cao cả. Khi bị cáo gian và cả khi bị quan tòa tối cao tra vấn, Ngài cũng vẫn giữ phong cách trầm tỉnh và uy nghi. Thái độ im lặng của Ngài nói lên nhiều. Đấng Công Chính biết rằng mình vô tội, vẫn lặng thinh trước những lời cáo gian của kẻ âm mưu giết hại mình (Is 53: 7; Tv 38: 13-15).

61. “Ông có phải là Đấng Ki-tô, Con của Đấng Đáng Chúc Tụng không?”: Thế rồi, thời điểm quyết định cho hồi diễn này là đây: vị thượng tế hỏi Chúa Giê-su về chân tính cao trọng của Ngài. Câu hỏi được nêu thẳng ra. Đối với người Do thái thì kiểu gọi “Con Thiên Chúa nhân lành” không cao cả bằng kiểu gọi “Đấng Ki-tô”. Người Do thái không thể nào hình dung được rằng đặc phái viên được Thiên Chúa sai đến để thiết lập Vương Quốc của Ngài lại chỉ là một con người phàm trần.

62. “Phải chính thế. Rồi các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến”: Đáp lại lời tra vấn kỹ càng này, bị cáo phá tan sự im lặng cố hữu bằng một mặc khải gây bàng hoàng sửng sốt. Đây là lần đầu tiên trong Tin Mừng Mác-cô, Chúa Giê-su công khai xác nhận tước hiệu của chính mình: Đấng Ki-tô siêu việt. Từ trước tới lúc bây giờ, Ngài vẫn mập mờ giữ kín chân tính này. Giờ đây, Chúa Giê-su là tù nhân: đứng trước một cái chết không tránh khỏi được vào ngày hôm sau, Ngài vẫn không hề nhụt chí mà giải bày công khai cho mọi người biết rõ chân tính huyền nhiệm của mình. Ngài dùng lại tước hiệu “Con Người” mà Ngài vẫn dùng để xưng mình. Nhưng lần này, nhờ hai đoạn Kinh Thánh kèm theo, Ngài xác định rõ ràng tầm vóc của tước hiệu ấy. “Ngự bên hữu Đấng Toàn Năng” không phải là ngồi vào vị trí danh dự bên cạnh Chúa Tể Càn Khôn như Đấng Mê-si-a đã được loan báo trong Tv 110: 1, mà còn được dự phần vào quyền năng tối thượng của Thiên Chúa (x. 12: 35-37); và “ngự giá mây trời mà đến”, dựa vào hình ảnh trong Đn 7: 13-14, nghĩa là lãnh nhận trọn vẹn quyền năng của Thiên Chúa để xét xử và giải thoát vũ trụ vào thời buổi cuối cùng. Khi trích dẫn hai câu Kinh Thánh này, Chúa Giê-su đã xác nhận rõ đặc quyền Thiên Chúa của Ngài. Ngài là Đấng Mê-si-a ư? Phải, nhưng còn hơn cả điều mà những kẻ cùng thời vẫn hằng tưởng nghĩ nữa. Lời tuyên bố đầy tự tín này lập tức gây ra một phản ứng căm thù dữ dội.

Như vậy cho đến lúc đó, Đức Giê-su bao phủ chung quanh con người của Ngài một mầu nhiệm bát khả xua tan đi được, dù hiện giờ bị bắt, bị xiềng xích và bị xử án như một tên tội phạm nguy hiểm, Ngài vẫn lớn tiếng công bố phẩm tính siêu việt của Ngài.

63. “Vị thượng tế liền xé áo mình ra”: Vị thượng tế diễn trò xé áo mình. Theo phong tục chung, việc xé áo là dấu chỉ tang chế. Người ta gặp thấy nghi thức này tại dân Ba-by-lon cũng như tại dân Do thái. Nhưng theo luật Do thái, vị thượng tế không được phép xé áo để bày tỏ tang chế riêng tư (Lv 21: 10). Ông dành riêng hành động này cho những hoàn cảnh nghiêm trọng mang chiều kích công chúng; nhất là khi thi hành chức vụ thẩm phán của mình, như trường hợp này, ông xé áo (dù chỉ vài phần) để bày tỏ sự phẩn nộ của mình. 

- “Chúng ta cần gì nhân chứng nữa”: Theo luật Do thái, Cần phải có tối thiểu hai nhân chứng có đủ chứng cớ buộc tội thì mới có thể công bố bản án (Đnl 19: 15). Luật này được kịch tính hóa ở nơi câu chuyện của bà Su-za-na, một phần bản văn Hy lạp của sách Đa-ni-en. Vị thượng tế kêu mời tất cả thành viên làm chứng. Chẳng cần nhân chứng nào nữa: tất cả họ vừa mới nghe lời tuyên bố phạm thượng và làm chứng đều này.

64. “Quý vị vừa nghe hắn nói phạm thượng”: Thật vậy, vị thượng tế đã la lên là phạm thượng. Ông cho rằng Chúa Giê-su đã nói những lời xúc phạm đến Thiên Chúa. Theo luật Do thái, kẻ nào phạm thượng sẽ bị khép vào tội chết (Lv 24: 16). Chứng cớ vậy quá rõ rồi.

- “Tất cả đều kết án Người đáng phải chết”: Toàn thể Thượng Hội Đồng không còn chần chờ gì nữa, họ kết án từ hình Chúa Giê-su. Theo Lv 24: 10-23, tội phạm thượng liên quan đến Danh Thiên Chúa là phải bị ném đá. Các sử gia vẫn còn tranh luận là vào thời Chúa Giê-su, khi bị quân Rô-ma chiếm đóng, liệu các thủ lãnh Do thái có được quyền kết án tử hình hay không? Đối với trường hợp Chúa Giê-su, điều đó xảy ra đúng như thế. Người ta không lập ra một tòa án tôn giáo thực sự, chỉ là một trò bịp bợm công lý, hầu chỉ nhằm lên án tử cho vị Ngôn Sứ người xứ Ga-li-lê này.

Làm thế nào người ta có thể biết được những chi tiết và những diễn biến của phiên họp Thượng Hội Đồng này? Câu trả lời thật đơn giản. Trong số các thành viên Thượng Hội Đồng có những cảm tình viên của Đức Giê-su, như ông Giô-xếp thành A-ri-ma-thê và có lẽ cả ông Ni-cô-đê-mô. Vả lại sau này, theo lời chứng của sách Công Vụ, có rất đông tư tế đón nhận đức tin (Cv 6: 7).

65. “Hãy nói tiên tri đi”: Trình thuật kết thúc bằng một cảnh tượng thương tâm. Những việc đối xử đầy lăng nhục này đối với Chúa Giê-su là do các thành viên của Tòa Án tối cao bày ra. Chắc chắn chính các lính canh và đầy tớ là những kẻ đã tiến hành các trò lăng nhục này. Ngay từ phiên xử đầu tiên, Đức Giê-su chịu những nhục nhã ê chề: khạc nhổ vào mặt, lăng mạ, đánh đập…Thánh Mác-cô không bỏ qua những chi tiết tàn bạo nào, bởi vì cách hành xử dã man phi nhân tính này lại ứng nghiệm những sấm ngôn Cựu Ước về “Người Tôi Trung chịu Đau Khổ” (x. Is 50: 4-6; 53: 3-5).

Qua cả một đoạn văn dài, nhưng ta vẫn thấy Mác-cô không hề loan báo chính xác “giây phút” Chúa Giê-su bị xét xử. Quả Mác-cô còn có một ý khác, ông muốn chỉ cho cộng đoàn Ki-tô hữu của mình thấy rằng các chức sắc Do thái giáo phải chịu trách nhiệm nhiều nhất trong việc gây ra cái chết của Chúa Giê-su. Còn Ngài dù bị tố cáo và lăng nhục nhưng vẫn tỏ ra là Đấng Công Chính tuyệt hảo. Cũng có thể là Mác-cô muốn gán cho hành động xé áo của vị thượng tế một ý nghĩa tượng trưng. Thực vậy, ta nên nhớ rằng vị thượng tế bị cấm không được làm như thế (Lv 21: 10). Nếu ông đã làm như thế, vào đúng thời điểm Chúa Giê-su tuyên bố hùng hồn tước vị Mê-si-a siêu việt của Ngài, đó chẳng qua là một sự “xé áo” sâu sắc phải xảy đến mà thôi (tựa như việc màn Đền Thờ xé làm đôi: 15: 38): lề luật Do thái đã cáo chung. Và giờ đây ta phải coi Chúa Giê-su là vị thượng tế thực sự cho thời đại mới (Dt 9: 11-12).

A’. Ông Phê-rô chối Thầy (14: 66-72):

Bây giờ, thánh ký mời gọi độc giả quay trở lại câu chuyện về thánh Phê-rô còn dang dỡ khi tác giả dừng lại để kể cho chúng ta phiên toà Thượng Hội Đồng xét xử Chúa Giê-su.

66. “Ông Phê-rô đang ở dưới sân”: Mác-cô đã ngắt quãng câu chuyện thánh Phê-rô để kể phiên toà xét xử nhằm nhấn mạnh đến nỗi cô đơn kinh khủng đè nặng lên Chúa Giê-su khi Ngài lẽ loi một mình đối mặt với những kẻ xét xử mình: không một bạn hữu nào bên cạnh. Nhiều tiền cảnh đã được mô tả nhằm chuẩn bị cho thời điểm này. Vào bữa ăn cuối cùng với các môn đệ, khi Chúa Giê-su báo trước một trong số họ sẽ phản bội Thầy, tất cả họ đều hỏi nhau: “Có phải con không?” (14: 19) và Chúa Giê-su đã nghe lời tuyên thệ trung thành của Phê-rô và của các ông (14: 31). Một lúc sau đó, tại vườn Ghết-sê-ma-ni, Chúa Giê-su đã nhận thức rõ bản tính yếu nhược của nhóm Tông Đồ (14: 27). Quả thật, khi Thầy bị bắt, các ông bỏ chạy hết cả, không một ai ở lại (14: 50). Tuy nhiên, có lẽ Phê-rô ý thức được trách nhiệm của mình, nên ông đã trấn tỉnh lại mà bám theo Chúa Giê-su “từ xa”, tìm cách vào tận dinh thượng tế để dò la tin tức của Thầy (14: 66).

67. “Cả bác nữa, bác cũng đã ở với cái ông người Na-da-rét, ông Giê-su đó chứ gì!”: Hiện nay, chúng ta thấy ông đang ngồi sưởi ấm quanh một lò lửa cùng với đám người trong dinh. Một đầy tớ gái nghĩ rằng mình nhận ra ông này, và lên tiếng tố giác ông là môn đệ Chúa Giê-su. Ông đã kịch liệt bác bỏ:

68. “Tôi chẳng biết, chẳng hiểu cô muốn nói gì!”. Ông đã kịch liệt bác bỏ. Đây là lần nói dối thứ nhất. Bị sa vào bẫy, người môn đệ cắt đứt với Thầy và tìm cách lẫn tránh: “Rồi ông bỏ đi ra phía tiền sảnh” .

69. “Bác này cũng thuộc bọn ấy”: Người tớ gái gặp lại ông, cô liền tố cáo ông với những người đứng đó. Vị tông đồ lại chối tiếp.

70. “Đúng là bác thuộc bọn chúng, vì bác cũng là người Ga-li-lê!”: Gọng kìm càng lúc càng siết chặt hơn. Bây giờ ông lại bị nhận diện bởi giọng nói miền tỉnh lẽ (như Mt 26: 73 nói rõ).

71. “Tôi thề là không người mà các ông nói đó”: Gọng kìm càng lúc càng xiết chặc. Liệu lần này, ông còn chối được nữa không nhỉ? Quá rõ rồi mà. Nhưng ông lại ngoan cố chối phăng. Mác-cô rất tinh vi trong việc mô tả lại diễn tiến việc tông đồ này phản bội Thầy. Thoạt đầu ông làm như không biết gì cả. Câu “tôi chẳng biết” lặp lại đúng như khi ông không hiểu được rằng Đấng Mê-si-a sẽ phải chịu đau khổ (8: 31-32). Nhưng ở đây sự hèn nhát nằm ở chỗ là ông thề độc rằng mình chẳng hề có liên hệ gì đến người mà các ông nói đó”.

72. “Ngay lúc đó, tiếng gà gáy lần thứ hai”: Tiếng gà gáy báo hiệu ánh bình mình sắp đến khiến vị tông đồ trưởng chợt nhớ lại lời báo trước của Thầy: “Hôm nay, nội đêm nay, gà chưa kịp gáy hai lần, thì chính anh, anh đã chối Thầy đến ba lần” (14: 30) và nhận thức một cách sâu sắc sự yếu đuối của mình.

- “Ông òa lên khóc” : Đã đến lúc Phê-rô ý thức được sự phản bội của mình. Những tiếng khóc nức nở này chính là thái độ hối hận của một kẻ phạm tội vì hèn nhát.

Cả bốn Tin Mừng đều tường thuật hoạt cảnh thánh Phê-rô, vị tông đồ trưởng, chối Thầy. Đáng lưu ý là vị lãnh tụ Giáo Hội đã để lưu truyền  cho các thế hệ sau tình tiết dádn xấu hổ làm mất thể diện của ông và chỉ mình ông mới có thể cung cấp tình tiết câu chuyện này. Thánh Mác-cô là là cộng tác viên thân cận của thánh nhân, chính xác là một trong các tác giả Tin Mừng nhấn mạnh nhất khuyết điểm của vị tông đồ trưởng này. Trong câu chuyện này, thánh Mác-cô muốn nêu bật đức tính khiêm hạ của vị thủ lãnh các Tông Đồ, những hối hận sâu xa của thánh nhân qua những dòng nước mắt đầm đìa ăn năn của ông. Mẫu gương của thánh nhân không phải là một bài học cho các Ki-tô hữu trong cơn bách hại vào thời điểm thánh Mác-cô viét Tin Mừng sao? Thánh Phê-rô làm cho chúng ta xúc động vì ngài là “một vị thánh rất người”.

2.2. Chúa Giê-su chịu xét xử trước tổng trấn Phi-la-tô (15: 1-15).

Câu chuyện Chúa Giê-su chịu xét xử trước tổng trấn Phi-la-tô (15: 2-5) được đặt vào trong câu chuyện các thượng tế dùng hết mọi thủ đoạn để giết Chúa Giê-su (15: 1 và 6-15). Một lần nữa, nhờ kỷ thuật “hai câu chuyện trong một bài trình thuật”, thánh Mác-cô nêu bật trách nhiệm của các giai cấp lãnh đạo Do thái về cái chết của Đức Giê-su. 

Về phương diện pháp lý, quan tổng trấn Rô-ma, ông Phi-la-tô, chịu trách nhiệm về cái chết của Đức Giê-su trên thập giá với tội danh là “vua dân Do thái”, một tước hiệu mặc lấy một gợi ý phản động chống chính quyền Rô-ma. Tuy nhiên, việc kết án đóng đinh vào thập giá là do các thượng tế tố cáo Đức Giê-su là “vua dân Do thái”, (như Lc 23: 2 nói rõ). Mác-cô và các thánh ký khác trình bày các vị lãnh đạo Do thái là những người sách động hàng đầu và ông Phi-la-tô đành phải nhượng bộ trước chiến thuật gây áp lực của họ. Bức chân dung này có thể phản ảnh khuynh hướng của các Ki tô hữu tiên khởi nhằm giảm bớt sự dính líu của chính quyền Rô-ma và tăng lên trách nhiệm của người Do thái về cuộc tử nạn của Đức Giê-su. Bài trình thuật của Mác-cô về phiên tòa trước tổng trấn Phi-la-tô thực tế thông qua lời phán quyết. Đức Giê-su hành xử như Người Tôi Trung Đau Khổ của Is 53: 7.

Bài trình thuật này được cấu trúc như sau:

A. Các thượng tế nộp Chúa Giê-su cho chính quyền Rô-ma (15: 1).

     B. Chúa Giê-su chịu xét xử trước tổng trấn Phi-la-tô (15: 2-5)

A’. Các thượng tế sách động quần chúng (15: 6-15).

A. Các thượng tế nộp Chúa Giê-su cho chính quyền Rô-ma (15: 1).

Sau đoạn xen kẽ nói về Phê-rô chối Chúa (14: 66-72), thánh Mác-cô viết tiếp việc xử án Chúa Giê-su.

1. “Vừa tảng sáng…”: Sau khi đã xét xử Chúa Giê-su lần thứ nhất vào ban đêm, đây là lần thứ hai Chúa Giê-su bị đem ra trước Thượng Hội Đồng vào ban sáng. Theo luật, phiên toà lần thứ hai này cần phải có. Trong phiên toà lần thứ nhất, sau khi công bố một bản án nghiêm trọng, các thành viên Thượng Hội Đồng cần một kỳ hạn để suy nghĩ. Theo luật qui định, kỳ hạn phải là hai mươi bốn tiếng, thì một phiên toà thứ hai phải xác nhận hay hủy bỏ bản án trước đó. Thánh Mác-cô không tiết lộ nội dung của phiên xử án lần thứ hai này. Thật ra, Thượng Hội Đồng đã công bố bản án rồi: “Tất cả đều kết án Người đáng chết” (14: 64).

- “Sau đó, họ trói Đức Giê-su lại và giải đi nộp cho ông Phi-la-tô”: Kể từ thời Rô-ma chiếm đóng, người Do thái không còn quyền tuyên án xử tử ai. Vì thế, họ giao nộp Chúa Giê-su cho quan tổng trấn Phi-la-tô. Mác-cô nhấn mạnh là nhóm thượng tế khơi mào việc triệu tập công nghị và cũng chính họ chuyển giao Chúa Giê-su cho chính quyền dân sự. Chúa Giê-su bị trói như một tên tội phạm nguy hiểm và “giải đi nộp” cho ông Phi-la-tô. Việc dẫn độ này thực ra là nhằm để cho các chức sắc Do thái có được quyền lên án tử cho Chúa Giê-su từ phía ông Phi-la-tô, vị đại diện chính quyền dân sự.

Đây là lần đầu tiên Phi-la-tô xuất hiện trong Tin Mừng Mác-cô. Đó là một nhân vật quá nổi tiếng, thánh Mác-cô thấy là cần phải giới thiệu cho các Ki-tô hữu Rô-ma biết. Nhưng ông ta là ai? Là vị đại diện chính thức cho đế quốc Rô-ma. Là vị tổng trấn cai quản miền được gọi là “địa hạt Giu-đê”, ông nắm giữ quyền lực hành pháp của tỉnh đó. Ông lưu trú ở vùng biển Địa Trung Hải; nhưng vào dịp lễ hội của người Do thái năm ấy ông lên Giê-ru-sa-lem bởi ông e rằng sẽ có một cuộc nổi dậy của dân chúng ở đó. Và thế là “vụ án Giê-su” được đem ra cho nhà cầm quyền chính trị tối cao này xem xét.

B. Chúa Giê-su chịu xét xử trước tổng trấn Phi-la-tô (15: 2-5).

Kể từ bây giờ, phiên toà từ bình diện tôn giáo được chuyển sang bình diện chính trị. Tội phản nghịch Thiên Chúa Ít-ra-en chuyển sang tội phản loạn chống lại cuộc chiếm đóng của đế quốc Rô-ma.

2. “Ông là vua dân Do thái sao?”: Một lần nữa, Mác-cô không hề tỏ ra mình có tham vọng tường thuật cặn kẽ cuộc gặp gỡ này. Thánh ký chỉ tóm lược cuộc chất vấn bằng một câu hỏi tối hậu này của tổng trấn. Câu hỏi của Phi-la-tô hoàn toàn đột xuất, không cần phải thăm dò dài dòng gì cả. Chúng ta thấy rằng chủ điểm tố cáo đã lập tức thay đổi. Trước vị thượng tế, Chúa Giê-su bị tố cáo là đã xưng mình là Đấng Mê-si-a thay mặt cho Thiên Chúa. Vị cầm quyền Rô-ma hoàn toàn không lưu tâm gì đến tước hiệu tôn giáo này của Chúa Giê-su; trái lại, tước hiệu “vua dân Do thái” mới là điểm ông lưu tâm hơn cả. Khi nói đến tước hiệu này, điều ông muốn nhắm đến là sắc thái chính trị của nó. Đối với nhiều người Do thái vào thời ấy thì công việc đầu tiên mà Đấng Mê-si-a phải thực hiện khi Ngài đến há chẳng phải là đánh đuổi bọn xâm lược Rô-ma ra khỏi toàn bộ lãnh thổ đất nước và tái lập vương triều Đa-vít đó sao? Chính vì thế Chúa Giê-su không bao giờ tự nhận cho mình tược hiệu “Vua-Mêsia”.

- “Chính ngài nói đó”: Ngay lúc này, dù Chúa Giê-su không trả lời Phi-la-tô như Ngài đã trả lời vị thượng tế: “Phải, đúng vậy”, thì câu trả lời của Ngài cũng rõ ràng, bởi vì đó cũng chính là câu trả lời của Ngài: “Chính anh nói đó” khi ông Giu-đa hỏi Ngài: “Thưa Thày, chẳng lẽ con sao?” (Mt 26: 25).

3-4. “Các thượng tế tố cáo Người nhiều tội”: Tuy thế, các thượng tế vẫn ra sức “tố cáo” thêm. Mác-cô không nêu nội dung của những lời tố cáo này. Sau này, thánh Lu-ca xác định rõ những lời tố cáo này: “Chúng tôi nhận ra chính tên này kích động dân chúng nổi loạn; hắn ngăn cản việc đóng thuế cho Xê-da và xưng mình là Vua Mê-si-a” (Lc 23: 2). Đó quả là điều mà chính quyền Rô-ma quan ngại nhất.

5. “Nhưng Đức Giê-su không trả lời gì nữa, khiến ông Phi-la-tô ngạc nhiên”: Những lời tố cáo liên tục của họ tương phản với sự thinh lặng của Đức Giê-su. Một lần nữa Mác-cô nhấn mạnh rằng Đấng Công Chính giữ thái độ im lặng trước những kẻ vu khống mình (14: 60-61). Ngay cả viên tổng trấn cũng không có thêm được câu trả lời nào của bị cáo nữa. Thái độ hoàn toàn im lặng của Chúa Giê-su ở vào thời điểm quyết liệt của cuộc đời hẳn gợi lên nơi Mác-cô thái độ của Người Tôi Trung chịu đau khổ trong Kinh Thánh: “Bị ngược đãi, Ngài vẫn nhẫn nhục, không hề mở miệng, như thể con cừu bị đem đi xén lông” (Is 53: 7).

A’. Các thượng tế sách động quần chúng (15: 6-15).

6. “Vào dịp lễ lớn, ông thường phóng thích cho dân một người tù, tùy họ xin”: Theo phong tục Do thái, vào mỗi dịp lễ Vượt Qua, nguwofi ta phóng thích một tù nhân, chắc chắn để kỷ niệm cuộc giải phóng dân Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập. Quan tổng trấn Phi-la-tô biết tập tục này, nên để lấy lòng dân Do thái, cứ vào dịp đại lễ này, ông ân xá một tội phạm.

8. “Đám đông kéo nhau lên yêu cầu tổng trấn ban ân xá như thường lệ”: Đây là lần đầu tiên một diễn viên mới mẻ tham gia vào bi kịch của Đức Giê-su, đó là đám đông dân chúng.

9. “Các ông muốn ta phóng thích cho các ông vua dân Do thái không?”: Bằng đường lối ngoại giao đầy tế nhị, Phi-la-tô đề nghị cho dân chúng chọn ân xá cho tên cướp Ba-ra-ba hay Đức Giê-su. Thực tâm quan tổng trấn muốn tha Chúa Giê-su vì ông biết Ngài vô tội. Vì thế, ông nghĩ chắc hẳn dân chúng chọn Đức Giê-su hơn là tên cướp khét tiếng có tiền án giết người. Đó là sách lược khôn khéo của một nhà chính trị từng trải. Thánh Mác-cô có nêu rõ lý do: Phi-la-tô không hề lạ gì các thủ lãnh Do thái tâm địa hẹp hòi chỉ vì ghen ghét Chúa Giê-su có ảnh hưởng sâu rộng nơi quần chúng, mà muốn giết Ngài mà thôi (15: 10).

11. “Nhưng các thượng tế sách động đám đông…”: Mác-cô nêu bật thủ đoạn của các thượng tế gây sức ép lên dân chúng yêu cầu tha cho Ba-ra-ba.

12. “Vậy ta phải xử thế nào với người mà các ông gọi là vua dân Do thái?”: Phi-la-tô càng bối rối vì sự việc xảy ra ngoài dự liệu của ông. Nhưng ông giả tảng như không đồng tình với họ. Nếu vậy thì theo họ ông phải xử trí như thế nào với người mà họ gọi vua dân Do thái đây?

13. “Đóng đinh nó vào thập giá”: Thế là đoàn lũ đám đông gào lên. Thập giá là bản án của chính quyền Rô-ma được quân lính Rô-ma thi hành. Bài trình thuật chỉ cho thấy ông Phi-la-tô ra lệnh đóng đinh Đức Giê-su vào thập giá không vì Ngài có tội nhưng vì các thượng tế xúi dục đám đông áp lực trên ông.

15. “Truyền đánh đòn Đức Giê-su”: Câu chuyện Chúa Giê-su chịu xét xử trước tổng trấn Phi-la-tô kết thúc với hình phạt đánh đòn như chuẩn bị cho việc đóng đinh vào thập giá. Đánh đòn tự nó là một khổ hình. Án phạt này cũng là một biện pháp mở đầu cho khổ hình thập giá; nó làm cho tội nhân kiệt quệ vì mất nhiều máu và như vậy rút ngắn cơn hấp hối rất đau đớn của tội nhân trên thập giá. Có nhiều loại hình phạt đánh đòn: người ta dùng gậy đối với tội nhân là công dân Rô-ma hoặc dây da có gắn những hạt chì đối với tội nhân có địa vị thấp kém. Chắc chắn đay là loại đánh đòn mà Chúa Giê-su phải chịu.

Cuộc xử án Chúa Giê-su kết thúc như thế đấy. Rõ ràng Mác-cô đã đơn giản hóa tiến trình xử án để nhấn mạnh vào chiều kích tôn giáo. Ngay các sử gia cũng đồng ý cho rằng tiến trình xử án đó quả là sơ sài và cẩu thả. Các lãnh tụ Do thái muốn làm cho xong trước lễ Vượt Qua. Việc đem Chúa Giê-su ra trước tòa Phi-la-tô chẳng qua chỉ là một cuộc bêu diễu. Chúa Giê-su không phải là một công dân Rô-ma, do đó Ngài sẽ không được hưởng sự đảm bảo về mặt luật pháp áp dụng cho công dân Rô-ma. Ngoài ra, ta thấy rằng lời cáo buộc cốt lõi chống lại Ngài thay đổi theo từng lần thẩm vấn. Khởi đầu trước tòa án Do thái, đó chỉ mang tính cách tôn giáo, nhưng khi đến trước tòa án Rô-ma thì nó lại mang tính chất thuần túy chính trị. Phi-la-tô đã ba lần gặp lại tước hiệu “vua dân Do thái” như thể đó là chủ đề cốt lõi vậy (15: 2, 9, 12).

Thánh Mác-cô nêu bật những trách nhiệm khác nhau về cái chết của Đức Giê-su. Trước tiên trách nhiệm của các thành viên Thượng Hội Đồng, họ sách động dân chúng chống lại Đức Giê-su; rồi đến trách nhiệm của dân chúng, họ để cho mình bị xúi dục; sau cùng, trách nhiệm của Phi-la-tô, ông đã tính sai một nước cờ khi nghĩ rằng dân chúng sẽ ủng hộ Đức Giê-su. Ông thích được thấy cuộc vận động của các thượng tế thất bại, bởi vì ông chẳng ưa gì tâm điạ hẹp hòi của các vị thượng tế này. Nhưng dù biết Đức Giê-su vô tội, ông đành nhượng bộ đám đông. Với tư cách một nhà chính trị khôn ngoan, ông vừa muốn vừa lòng dân chúng, đồng thời cũng muốn tránh bị tố cáo ở Rô-ma và bị coi là nhu nhược trước một kẻ tự xưng mình là “vua dân Do thái”.

III. CUỘC TỬ NẠN VÀ MAI TÁNG (15: 16-47)

Đây là phần cao điểm của bài Thương Khó Đức Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Trong phần này, thánh Mác-cô kể cho chúng ta bốn sự cố: Đức Giê-su chịu sỉ nhục (15: 16-20), Đức Giê-su chịu đóng đinh vào thập giá (15: 21-32), Chúa Giê-su chịu chết trên thập giá (15: 33- 41) và sau cùng, Chúa Giê-su chịu mai táng (15: 42-47).

1. ĐỨC GIÊ-SU CHỊU SỈ NHỤC (15: 16-20).

 Trong thời gian chờ đợi thành lập đội hành quyết, Chúa Giê-su bị giao cho bọn lính tráng làm trò tiêu khiển (15: 16-17). Quả là một hội hóa trang thảm thương! Phán quyết của Phi-la-tô có nói đến vương quyền của Chúa Giê-su. Bởi vậy bọn họ chụp lên đầu Chúa Giê-su những biểu hiệu vương quyền: áo khoắc đỏ, chắc chắn đây là tấm áo khoắc của quân đội Rô-ma biểu tượng sự chiến thắng, nhưng cũng còn biểu hiệu vương đế; vương miện, nhưng là vương miện kết bằng gai nhọn; và cây gậy biểu tượng vương quyền, nhưng là cây sậy. Sự nhạo cười mới độc ác hơn. Cảnh tượng giả trò làm vua thật khôi hài, đồng thời cũng hết sức nhục nhã (15: 18-19). Những cú tát, khạc nhổ gợi lại hình ảnh Người Tôi Trung của Đức Chúa (Is 50: 5-6). Và Mác-cô đã khéo léo cho chấm dứt trò đùa này bằng cách nêu ra sự tương phản giữa các trò đùa với phẩm cách của Đấng Mê-si-a Vua (15: 20).

2. ĐỨC GIÊ-SU CHỊU ĐÓNG ĐINH VÀO THẬP GIÁ (15: 21-32).

Câu chuyện khổ nạn được kể một cách đơn giản và không nhấn mạnh quá nhiều trên những chi tiết về những đau khổ thể lý của Đức Giê-su (dù những chi tiết nầy chắc chắn là một phần của đoạn văn này). Bài trình thuật nhấn mạnh rằng cuộc tử nạn của Đức Giê-su đã xảy ra phù hợp với Cựu Ước, mà không giảm nhẹ sự thù hận khôn nguôi mà các đối thủ của Đức Giê-su phô bày (x. 14: 21).

21. “Lúc ấy, có một người từ miền quê lên, đi ngang qua đó, tên là Si-mon, gốc Ky-rê-nê”: Giờ hành quyết đã đến. Mác-cô tường thuật với giọng văn ảm đạm nhưng chính xác. Thánh ký chỉ đánh dấu “con đường thập giá”. Kẻ tử tội phải tự mình mang lấy thanh ngang để rồi sau đó sẽ giang tay, chịu đóng đinh vào cườm tay trên đó. Bởi vì Ngài đã quá yếu sức, người ta phải bắt một người qua đường đảm nhận việc này thay cho Chúa Giê-su. Mác-cô nêu đích danh kẻ này: đó là ông Si-mon, một người Do thái sinh trưởng ở Ky-rê-nê (thuộc Bắc Phi); phải chăng ông có mặt ở Giê-ru-sa-lem như một người hành hương hay như một người định cư thì không rõ. Việc tham chiếu đến các con ông là A-lê-xan-đê và Ru-phô (x. Rm 16: 13) gợi ra rằng cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi biết họ. Ông Si-mon bị bắt ép phải vác đỡ thập giá cho Đức Giê-su. Việc mô tả ông “từ miền quê lên” có thể quy chiếu công việc đồng áng của ông hay việc ông viếng thăm ở đó.

22. “Một nơi gọi Gôn-gô-tha, nghĩa là Đồi Sọ”: Việc thi hành án tử xảy ra ở ngoài thành thánh. Lãnh địa Giê-ru-sa-lem được xem là vùng đất thánh, vì thế, không thể nào bị ố nhiễm bởi xác chết của tội nhân được. Nơi hành quyết được thánh Mác-cô nêu tên bằng những từ không thể nào quên được. Địa danh này quy chiếu đến hình dáng và cách sử dụng của nó. Tên gọi “Gôn-gô-tha” có nghĩa là “Sọ” vì một gò đất trọc lóc không có cây cối. Trên ngọn đồi này người ta đã chôn sẵn các cột thẳng đứng. người ta chỉ việc kéo thi thể của tử tội lên. Sau vài giờ, tử tội sẽ chết do mòn mỏi và nghẹt thở từ từ.

23. “Rượu pha mộc dược”: Họ cho tử tội uống một thức uống, dựa trên Cn 31: 6-7, được giải thích như chất gây mê để làm dịu cơn đau của tội nhân. Chúa Giê-su từ chối ân huệ này. Ngài muốn đảm nhận cho đến cùng toàn bộ những đau đớn hàm chứa nơi cái chết tàn bạo mà Ngài phải chịu với tinh thần sáng suốt.

24. “Chúng đóng đinh Người vào thập giá”: Việc đóng đinh được mô tả bằng những từ ngữ ngắn gọn nhất và đơn giản nhất có thể. Áo của Ngài trở thành chiến lợi phẩm của những người lính, những người đang hành hình Ngài. Trong ánh sáng của Tv 22 nổi bật trong bài trình thuật Thương Khó của Mác-cô, hành động của chúng cũng phải được xem như ứng nghiệm Tv 22: 19.

25. “Giờ thứ ba”: Chỉ duy có thánh sử Mác-cô ghi lại chính xác giờ Chúa Giê-su chịu đóng đinh; đóng đinh vào giờ thứ ba, tức là vào lúc chín giờ sáng; trời đất tối tăm lúc giữa trưa (15: 33) và Chúa Giê-su chết vào giờ thứ chín, tức vào lúc ba giờ chiều (15: 34). Thời biểu này lập lại thời biểu của một phụng vụ. Việc đóng đinh phù hợp chính xác với nhịp độ cứ ba giờ một các tín đồ Do thái cầu nguyện một lần ở Đền Thờ, và các Ki-tô hữu sơ khai cũng đã lập lại y hệt như thế (Cv 2: 46; 3: 1).

26. “Vua Dân Do thái”: Lời buộc tội chính thức nầy đã được nêu lên rồi trong phiên tòa trước tổng trấn Phi-la-tô (x. 15: 2, 9, 13) tương phản với hai lời buộc tội được nêu lên trong phiên tòa trước Thượng Hội Đồng (x. 14: 58, 61). Lời buộc tội chính thức xem ra phản ảnh hoàn cảnh lịch sử, theo đó Đức Giê-su bị hành hình bởi chính quyền Rô-ma, vì Ngài tự nhận mình là vua Do thái. Như ở 15: 16-20, sự châm biếm chính là từ viễn cảnh của Mác-cô Đức Giê-su là vua dân Do thái.

27. “Bên cạnh Người, chúng đóng đinh hai tên cướp”: Việc Chúa Giê-su bị đóng đinh giữa hai tên cướp chính là nhằm sỉ nhục Ngài hơn nữa. Nhưng thánh Mác-cô lại thấy một viễn cảnh khác. Mọi việc kết thúc thế này: Chúa Giê-su trần trụi, nằm trên thập giá có gắn bản án chính thức nhìn nhận Ngài là Vua, ngai vàng là thập giá và bề tôi là hai tên đạo tặc một bên phải, một ở bên trái. 

29. “Kẻ qua người lại đều nhục mạ Người”: Chỗ hành hình được định vị, trên Đồi Sọ, bên vệ đường, dẫn vào thành Giê-ru-sa-lem, nơi có đông người qua lại. Đây là chỗ hành hình chính quyền Rô-ma muốn: cảnh tượng những tội nhân hấp hối trong đau đớn quằn quại phải có hiệu quả răn đe đối với những người qua đường. Nhóm người đầu tiên nhục mạ Ngài lập lại lời buộc tội được nêu lên ở 14: 58 về việc Ngài hăm dọa phá hủy Đền Thờ .

31. “Các thượng tế”: Nhóm thứ hai nhục mạ Ngài vang dội lời buộc tội ở 14: 61, theo đó Đức Giê-su tự nhận mình là Đấng Mê-si-a.

32. “Ông Ki-tô vua Ít-ra-en ấy, cứ cuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, để chúng tôi thấy mà tin”. Lời chế nhạo này thách thức Ngài thoát khỏi cái chết để được mọi người thấy mà tin (8: 11b).

- “Cả những tên cùng chịu đóng đinh với Người cũng nhục mạ Người”: Ở đây, thánh ký muốn nói rằng Đức Giê-su bị ruồng bỏ tột độ, ngay cả kẻ cùng bị xử án cũng buông lời lăng mạ Ngài.

3. ĐỨC GIÊ-SU CHỊU CHẾT TRÊN THẬP GIÁ (15: 33-39).

Cuộc tử nạn của Đức Giê-su đã xảy ra theo ý muốn của Thiên Chúa được mặc khải trong Cựu Ước. Việc bức màn trướng trong Đền Thờ xé ra làm hai và lời tuyên xưng của viên đại đội trưởng đem lại cho cuộc tử nạn của Đức Giê-su một chiều kích sâu xa liên quan đến dân Cựu Ước và sứ mạng cho lương dân.

33. “Bóng tối bao phủ khắp mặt đất”: Giờ định mệnh đã tới Chúa Giê-su chịu chết. Mác-cô tả lại sự kiện này cách hết sức ngắn gọn. Ông lưu tâm đến tính quyết định của thời điểm ấy bằng cách nói tới bóng tối bao trùm. Đây hoàn toàn không là sự kiện lịch sử, mà là biểu trưng. Các ngôn sứ đều cho rằng khi can thiệp ở thời cuối cùng, Thiên Chúa sẽ đảo lộn trật tự vũ trụ. Bóng tối che phủ mặt đất ngay giữa ban ngày, chính là để loan báo rằng ơn cứu độ phổ quát, chứ không phải cái chết, đang gần kề (x. Am 8: 9-10).

34. “Ê-loi-I, Ê-loi-I, la-ma xa-bác-tha-ni!”: Kể từ lúc bị Phi-la-tô thẩm vấn cho đến đến lúc này, Chúa Giê-su không nói gì cả (15: 2). Và ở đây, Mác-cô ghi lại những lời cuối cùng của Chúa. Đây là tiếng kêu bi thương mà Người Công Chính thốt lên trong cảnh cùng khổ được gặp thấy ở Tv 22. Đức Giê-su lập lại Thánh Vịnh này. Lúc này đây, Đức Giê-su cảm nhận một nỗi chơ vơ cô quạnh tận cùng, ngay cả Chúa Cha cũng dường như bỏ mặc Ngài. Đức Giê-su chết trong nỗi cô đơn tuyệt mức. Đây là một sự dâng hiến trọn vẹn bản thân mình, một sự quên mình tuyệt đối. Nỗi phiền muộn của Người Công Chính trong Tv 22 không là nỗi tuyệt vọng. Lời khẩn nguyện xin này rõ ràng là lời van nài của một kẻ vô tội đang bị áp bức. Nó được bắt đầu bằng lời than ai oán (“Lạy Chúa tôi, Lạy Chúa tôi…”), nhưng rồi sau đó mở rộng đến lời đoan hứa của Thiên Chúa là không bao giờ bỏ rơi kẻ tin vào Ngài (Tv 22: 23-30). Như vậy, lời cầu nguyện của Người Công Chính chịu đau khổ kết thúc với một hành vi tròn đầy tin tưởng vào Thiên Chúa. Vì thế, khi Chúa Giê-su thốt ra tiếng kêu này, hoàn toàn đó không phải là tiếng kêu tuyệt vọng. Tác giả Tin Mừng chỉ muốn nhấn mạnh đến nỗi cô đơn tận cùng của Đấng Công Chính đang hấp hối, không những bị loài người chối bỏ mà ngay cả Thiên Chúa cũng bỏ rơi Ngài nữa. Như thế, Ngài đã trải qua được kinh nghiệm tận cùng của thân phận con người. Người ta sẽ chẳng thể nào quên đi được những lời cuối cùng này vào giây phút hấp hối của Ngài.

35. “Kìa hắn kêu cứu ông Ê-li-a”: Những người qua đường, bao giờ cũng có thái độ mỉa mai, chỉ coi những lời cuối cùng đó của Chúa Giê-su là lời của kẻ hấp hối. Thực vậy đối với não trạng dân Do thái hồi ấy thì ngôn sứ Ê-li-a được coi là người giúp đỡ các tín hữu khi họ hấp hối.

36. “Một bọt biển thấm đầy giấm”: Cử chỉ này được hiểu tốt hơn ở nơi bản văn Tin Mừng Gioan, ở đó Đức Giê-su vừa kêu lên: “Ta khát”. Ở đây, thánh Mác-cô dường như nói bóng gió rằng một trong những kẻ có mặt ở đó thử làm cho Đức Giê-su tỉnh lại để xem ngôn sứ Ê-li-a có đáp lại lời cầu xin của Ngài hay không.

37. “Đức Giê-su lại kêu lên một tiếng lớn, rồi tắt thở”: Một cái chết đột ngột và dữ dội. Thanh ký không nhấn mạnh lâu trên cái chết của Đức Giê-su. Bản văn không kể cho chúng ta nội dung tiếng kêu lớn tiếng này (x. Lc 23: 46; Ga 19: 30). Quả thật, Mác-cô thật quá ngắn gọn khi thuật lại giờ phút quan trọng này. Điều ông cho là quan trọng hơn hết, chính là ý nghĩa sâu xa nơi cái chết của Chúa Giê-su.

Khi Chúa Giê-su vừa mới tắt thở, thánh Mác-cô dẫn chứng hai sự kiện, cả hai đều phong phú về ý nghĩa và bổ túc cho nhau:

- Sự kiện thứ nhất: “Bức màn trướng trong Đền Thờ bỗng xé ra làm hai từ trên xuống”: Tác giả không xác định bức màn nào, hoặc bức màn cửa được giăng trong tiền sảnh  hay bức màn phân cách nơi thánh với nơi cực thánh, nơi Thiên Chúa ngự, nơi mà vị thượng tế mới có thể bước vào, một năm một lần, để thực thi nghi thức Xá Tội. Dù bức màn nào bị xé ra làm hai, ý nghĩa vẫn như nhau: “con đường đến với Thiên Chúa từ nay rộng mở cho tất cả mọi người”. Như vậy, việc Thiên Chúa tuyển chọn không còn đặc quyền đặc lợi của riêng dân Ít-ra-en nữa. Cái chết của Đức Giê-su trên thập giá trương rộng ra cho hết mọi người: “Khi nào bị giương lên cao, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng ta”. Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, biểu tượng sự hiện diện của Thiên Chúa, đã không còn đóng vai trò của mình nữa; Đền Thờ thực sự của Thiên Chúa sẽ là “Thân Thể Phục Sinh” của Đức Giê-su, như chính Ngài đã công bố.

- Sự kiện thứ hai: “Viên đại đội trưởng đứng đối diện với Đức Giê-su, thấy Ngài tắt thở như vậy liền nói: ‘Quả thật, Người này là Con Thiên Chúa’”. Viên đại đội trưởng Rô-ma đã nghe nhiều lần nhiều giọng nói ở giữa đám đông: “Người này tự xưng mình là Con Thiên Chúa”. Ông lập lại diễn ngữ này, dù không hiểu hết mức độ của nó, nhưng bị thuyết phục, bởi vì những gì ông chứng kiến cho thấy tội nhân này là một người công chính đặc biệt. Lời tuyên xưng của viên đại đội trưởng là “dấu chỉ tiên báo cuộc hoán cải của thế giới lương dân”. Đây là lời chứng đầu tiên về ơn cứu độ phổ quát mà việc bức màn trong Đền Thờ bị xé ra làm đôi đã loan báo.

Chính ở nơi lời tuyên xưng của viên đại đội trưởng này, Mác-cô đã dẫn dắt độc giả tới đỉnh cao của Tin Mừng mà ông viết. Chúng ta nên nhớ lại câu hỏi đặt ra về Chúa Giê-su ngay từ đầu tác phẩm: “Người này là ai?”. Qua câu chuyện tuyên xưng đức tin của Phê-rô thay mặt cho nhóm Mười Hai, chỉ mới một ngưỡng cửa cần được vượt qua: Chúa Giê-su quả thật là “Đấng Ki-tô” (8: 29). Nhưng niềm tin mới khai sinh này cần được đào sâu thêm. Cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giê-su là dịp thuận lợi để đào sâu niềm tin đó. Với lời tuyên tín của viên đại đội trưởng ngoại giáo này, bước quyết định đã được hoàn tất: Chúa Giê-su là “Con Thiên Chúa”. Đó cũng tựa như tiếng nói từ trời cao Chúa Cha phán bảo vào lúc Chúa Giê-su chịu phép rửa (1: 11). Đó cũng là mong ước của Chúa Giê-su khi Ngài xua đuổi những con buôn ra khỏi Đền Thờ: “Hết thảy mọi dân nước” đều có thể tự do đến với Thiên Chúa (11: 17). Điều này đã hiện thực nơi việc lương gia nhập Giáo Hội, dưới ánh sáng Chúa Giê-su Phục Sinh.

Chúng ta thấy rõ sự tương phản trong trình thuật này: đang khi dân Do thái (những người qua đường, các thủ lãnh) sỉ nhục Đấng Mê-si-a trên thập giá, thì một lương dân lại tuyên xưng một đức tin tinh tuyền nhất. Khi nói với các tân tòng Rô-ma gốc lương dân, Mác-cô còn muốn thêm rằng: sự bất toàn của dân Do thái sẽ được bù đắp bằng việc nhiều lương dân gia nhập Giáo Hội (x. Cv 13: 46-48).

4. ĐỨC GIÊ-SU CHỊU MAI TÁNG (15: 40-47).

Cuộc mai táng là sự chuẩn bị thiết yếu cho câu chuyện ngôi mộ trống, bằng chứng đầu tiên về biến cố Phục Sinh.

40. “Nhưng cũng có mấy người phụ nữ đứng xa xa mà nhìn”: Những người phụ nữ này lên Giê-ru-sa-lem cùng với Chúa Giê-su và đã can đảm theo bước Chúa Giê-su tới tận chân thập giá trong khi các tông đồ lại bỏ Thầy ngay lúc Thầy bị bắt (14: 50). Các bà là chứng nhân của ba biến cố liên tiếp nhau: Tử Nạn, Mai Táng và Phục Sinh. Quả thật, các bà cũng đã chứng kiến Đức Giê-su tắt thở (15: 40), đã biết nơi Ngài được mai táng (15: 47), đã phát hiện ngôi mộ trống và nhất là Bà Ma-ri-a Mác-đa-la đã được gặp gỡ Chúa Giê-su Phục Sinh vào sáng thứ nhất trong tuần.

- “Trong số đó có bà Ma-ri-a Mác-đa-la, bà Ma-ri-a mẹ các ông Gia-cô-bê thứ và Gio-xê, cùng bà Sa-lô-mê”: Thánh Mác-cô trích dẫn đích danh ba người phụ nữ trung tín, điều này nêu bật tư cách “chứng nhân” ngoại thường của họ.

41. “Các bà này đã đi theo và giúp đỡ Đức Giê-su…”: Trong Tin Mừng Mác-cô, chúng ta không gặp thấy việc các bà đi theo Đức Giê-su để phục vụ Ngài cùng các môn đệ Ngài, cũng như vai trò của các bà như các môn đệ của Ngài. Tuy nhiên, Tin Mừng Lu-ca kể cho chúng ta sự kiện này (Lc 8: 1-3).

42. “Chiều đến, vì hôm ấy là ngày áp lễ, tức là hôm trước ngày sa-bát”: Trình thuật ngắn gọn này muốn khẳng định rõ thêm rằng Chúa Giê-su đã chết thực sự, đồng thời nhấn mạnh tới tính cách vội vã lạ thường trong việc mai táng Ngài. Người Rô-ma không quan tâm đến việc chôn cất tử tội; hơn nữa, để có hiệu quả răn đe, xác tội nhân phải bị bêu rếu trong nhiều ngày. Nhưng luật Do thái quy định rằng thi hài tội nhân phải được mai táng trước khi đêm xuống (Đnl 21: 22-23).  Sau cùng, theo cách tính ngày của người Do thái, buổi chiều bắt đầu một ngày mới, ấy vậy buổi chiều ngày hôm đó lji là bắt đầu ngày sa-bát, ngày người ta phải kiêng tất cả mọi việc làm. Vì thế, việc mai táng phải khẩn trương cho kịp. May thay, có một ngôi mộ trống ở gần bên cuộc hành hình.

43. “Ông Giô-xếp, người thành A-ri-ma-thê”: Ông Giô-xếp là một môn đệ ẩn kín của Đức Giê-su. Trước đây, ông chưa bao giờ dám bày tỏ sự thiện cảm của mình đối với Đức Giê-su khi Ngfi còn sống, bởi vì ông là một thành viên của Thượng Hội Đồng, một trong những người giàu có và có thế giá. Lúc này, ông thu hết can đảm vf mạnh dạn đến gặp tổng trấn Phi-la-tô để xin thi hài Đức Giê-su.

45. “Ông Phi-la-tô…cho viên đội trưởng đến, hỏi xem Người đã chết lâu chưa”: Việc Phi-la-tô kiểm chứng cung cấp một lời xác nhận chính thức rằng Đức Giê-su đã thật sự chết; không có vẫn đề hôn mê hay ngất lịm.

46. “Hạ xác Người xuống, lấy tấm vải ấy liệm Người lại, đem đặt vào ngôi mộ đã đục sẳn trong núi đá”: Việc mua vải để liệm xác Chúa Giê-su, mà không hương liệu, là dấu chỉ một công việc hết sức vội vàng.

- “Đem đặt vào ngôi mộ đã đục sẵn trong đá”: Vào thời Đức Giê-su, vùng chung quanh Giê-ru-sa-lem được mô tả như một nghĩa trang khổng lồ. Ngôi mộ của ông Giô-xếp là một cấu trúc như hang động được đục trong núi đá vôi, ở giữa có một băng đá để đặt thi thể; ở phía trước là tiền sảnh; lối vào thì hẹp và thấp. Để lấp cửa mộ, người ta lăn một phiến đá lớn.

47. “Còn bà Ma-ri-a Mác-đa-la và bà Ma-ri-a mẹ ông Gio-xê, thì để ý nhìn xem chỗ họ mai táng Người”: Một lần nữa, Mác-cô ghi nhận cái nhìn và cả tên của hai người phụ nữ đã theo chân Chúa Giê-su tới khi Ngài chết (14: 40-41). Cái nhìn này đảm bảo sự liên tục của “chứng từ” về những nền tảng của niềm tin Ki-tô giáo.

      Như vậy ngày đau thương được hoàn tất giữa những dấu ấn của lòng trung thành và tình yêu mến.

      KẾT LUẬN:

      Bài tường thuật của Mác-cô – như bài tường thuật của các thánh ký khác – được diển tả một cách rất đơn giản. Không một chi tiết bi thương nào được thêm vào cho bài tường thuật đơn giản nầy; những sự kiện tự nó đủ để nẩy sinh tình cảm.

      Ba tấn thảm kịch được chồng chéo nhau trong cuộc thương khó của Đức Giê-su:

      - Tấn thảm kịch của việc dân Ít-ra-en từ chối;

      - Tấn thảm kịch của vị Thiên Chúa làm người;

      - Tấn thảm kịch của tội lỗi.

      1. Tấn thảm kịch của việc dân Ít-ra-en từ chối:

      Đức Giê-su đã công bố sứ điệp một cách khó khăn, tuy nhiên không nhượng bộ và thỏa hiệp. Ngài đã lật đổ những ý tưởng cố hữu, kết án thái độcâu nệ luật và thói giả hình. Sự ghen tuông, rồi sự thù hận liên kết với nhau tấn công Ngài. Những vị lãnh đạo tôn giáo Ít-ra-en đã từ chối nhận ra ở nơi Ngài Đấng Mê-si-a vì Ngài không đáp ứng đúng hình ảnh mà họ tự tạo nên. Việc họ quyết tâm thua đủ với Ngài đã dẫn đến cái chết, nhưng không đến cái chết như họ nghĩ tưởng: Đức Giê-su đã chiến thắng cái chết, nhưng Ít-ra-en với tư cách dân thừa hưởng Lời Hứa, không còn hiện hữu nữa.

      2. Tấn thảm kịch của vị Thiên Chúa làm người:

       Khi đón nhận kiếp người, Đức Giê-su chấp nhận thân phận “sinh ly tử biệt”. Vì thế, Ngài muốn đảm nhận cái chết trong tất cả sự khiếp sợ cùng với những đau khổ của nó. Những hoàn cảnh lịch sử đã khiến cho Ngài phải chịu khổ hình tàn bạo nhất được sử dụng vào thời Ngài. Số phận nầy nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa: “Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại. Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi nhận được” (Ga 10: 17-18). Đây là cử chỉ bác ái tột cùng: Đức Giê-su đã muốn chia sẻ số phận của những kẻ bị tra tấn, bị khổ hình, những người chết vì đạo, để tất cả những ai phải chết trong những khốn khổ thậm tệ nhất, và tất cả những ai phải chịu đau đớn về thể xác cũng như luân lý, gặp thấy trong cuộc thương khó của Ngài niềm an ủi tuyệt vời. Chúng ta nên lưu ý rằng ở đâu có sự hiện diện của Thiên Chúa ở đó có sự sung mãn: sự sung mãn của sự sống, sự sung mãn của những điều thiện hảo, sự sung mãn của ân sủng.

      3. Tấm thảm kịch của tội lỗi:

      “Nầy là Mình Thầy bị nộp vì anh em. Vì nầy là máu Thầy đổ ra để muôn người được tha tội”. Đức Giê-su đã giải thích rõ cái chết của Ngài. Tuy nhiên, điều này chẳng là gì cả nếu chúng ta không để mình vào trong mầu nhiệm: Mầu nhiệm của “ơn Cứu Chuộc”. Người cứu chuộc (gô-en), chính là người phục hồi nhân phẩm cho thành viên của gia đình bị hoạn nạn, và chuộc lại, nếu phải chịu cảnh đời nô lệ vì nợ nần. Chính đó là ý nghĩa đặc thù của từ ngữ Hy bá mà chúng ta dịch “Đấng cứu chuộc”.

      Bất chấp được Thánh Kinh soi sáng, biết bao câu hỏi nẩy sinh trong tâm trí chúng ta. Tội lỗi là gì? Một sự xúc phạm đến Sự Thiện. Ấy vậy, Sự Thiện, chính là Thiên Chúa hằng sống, Thiên Chúa chan chứa tình yêu, Đấng đã không muốn con người một mình gánh chịu những hậu quả của tội lỗi mình. Ngài đã sai Con Một Ngài để chia sẻ tận mức gánh nặng tội lỗi và xóa đi những vết nhơ của chúng ta. Đó là lý do tại sao Thập Giá là “vinh quang” của Thiên Chúa như thánh Gioan phát biểu.

Lm. Inhaxiô Hồ Thông

______________________________________________________

  CUỘC THƯƠNG KHÓ CỦA ĐỨC GIÊSU
(Máccô 14,01-15,47 ¬ CN Lễ Lá – B)

Tình yêu mạnh hơn sự chết. Tình yêu đã cứu thoát loài người và đem đến cho con người sự sống vĩnh cửu.

Lm. PX. Vũ Phan Long, ofm

1.- Bố cục

Bài Thương Khó tự nó đã là một khối chất liệu phong phú giúp cá nhân cũng như cộng đoàn suy niệm. Để có điểm tựa cho việc suy ngẫm này, chúng ta có thể tìm hiểu cấu trúc bản văn.

Đôi khi người ta cho rằng Mc là tác giả viết không hay mấy. Thật ra không phải thế. Ở đây chỉ nguyên việc nghiên cứu cấu trúc của bài Thương Khó, chúng ta đã nhận ra một nền thần học sâu sắc nằm chìm trong đó. Bản văn có thể chia thành hai phân đoạn:

            1. Mc 14,1-21. Phân đoạn này có cấu trúc đồng tâm như sau:

A      cc. 1-2: Giới lãnh đạo âm mưu giết Đức Giêsu

B   cc. 3-9: Xức dầu tại Bêtania

C cc. 10-11: Giuđa phản bội

B’ cc. 12-16: Chuẩn bị ăn Lễ Vượt Qua

A’      cc. 17-21: Đức Giêsu báo trước Giuda sẽ phản bội

Cấu trúc này nhắm vào hành vi phản bội của Giuđa (C), đã được chuẩn bị bởi cuộc âm mưu của giới chức tôn giáo (A) và được Đức Giêsu loan báo (A’). Ở bên trong cái khung này, có việc xức dầu ở Bêtania, được coi như lời báo trước cái chết của Đức Giêsu (B), còn các việc chuẩn bị cho bữa tiệc Vượt Qua là như những lời tiên báo về cuộc phục sinh của Đức Kitô (B’). Nằm ngay trọng tâm việc Đức Giêsu cứu độ chúng ta nhờ cái chết và sự sống lại của Người, là hành vi phản bội của Giuđa.

2. Mc 14,22-16,8. Phân đoạn thứ hai này cũng có cấu trúc đồng tâm như sau:

A      14,22-25: Lập Bí tích Thánh Thể

B   14,26-31: Phêrô sẽ chối Thầy

C 14,32-52: Tất cả các môn đệ chạy trốn

D 14,53-65: Đức Giêsu tự xưng là Con Thiên Chúa, còn thầy thượng tế thì xé áo

E 14,66-72: Đáp lại Đức Giêsu tuyên xưng niềm tin, Phêrô chối ba lần

F   15,1-15: Kết án vua dân Do Thái

G 15,16-20a: Tôn vương vua dân Do Thái

F’  15,20b-27: Thi hành án tử cho vua dân Do Thái

E’     15,19-32: Ba lần Đức Giêsu bị chế nhạo

D’15,33-39: Đáp lại sự chế nhạo, một người ngoại tuyên bố Người là Con Thiên Chúa. Màn Đền thờ xé ra

C’15,40-41: Các phụ nữ đứng đó (họ đã đi theo và phục vụ Đức Giêsu: đây là tư cách của người môn đệ)

B’  15,42-47: Cái chết của Đức Giêsu làm phát sinh các môn đệ mới

A’      16,1-8: Đức Giêsu phục sinh là Đấng đang sống.

Bản văn đúng là một khảo luận thần học về Đức Kitô, về các môn đệ, Bí Tích Thánh Thể, tương quan giữa Đức Giêsu và các cơ cấu phượng tự Israel, sự mở rộng ơn cứu độ cho Dân ngoại. Chúng ta có thể nêu vài nhận xét:

Nhiều-Nhiều’ cho thấy Bí Tích Thánh Thể như là nơi Đức Giêsu đang sống hôm nay trong Họi Thánh. C-C’ cho thấy người môn đệ đích thực không những là người đã bước theo Đức Kitô, nhưng còn là người đã “phục vụ” (giúp đỡ) Người. Đấng Chịu đóng đinh, Đấng vừa được tôn vương, theo kiểu khôi hài nhưng có thật (G) không là ai khác mà là chính Con Thiên Chúa (D-D’), nghĩa là Đấng làm trọn niềm chờ mong của Cựu Ước, là Đấng Mêsia, vua dân Do Thái (F-G-F’)(như thế đã kết thúc dự phóng của Mc là nhắm cho thấy rằng quả thật Đức Giêsu là “Đấng Kitô, Con Thiên Chúa”, Mc 1,1). Các phân đoạn D và D’ còn cho thấy rằng nếu người ngoại giáo có thể tuyên xưng rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa là bởi vì với cuộc Thương Khó của Người, Người đã chấm dứt chế độ tư tế Lêvi (theo Luật, cấm thầy thượng tế xé áo, x. Lv 21,10) và việc phục dịch Đền Thờ là việc bị cấm đối với người ngoại (điều này được cho thấy qua việc màn trường Đền Thờ xé ra).

 Tất cả mọi điều này đã có thể xảy ra bởi vì Đức Kitô đã bị đóng đinh và, như phân đoạn thứ nhất 14,1-21 nhắc nhớ, cũng là vì Giuđa đã phản bội…

 + Kết luận

Trọng tâm của cuộc Thương Khó là Đức Giêsu. Người đã khởi đầu cuộc sống công khai bằng việc loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa và kêu gọi những môn đệ hợp tác với Người. Thế là “con đường” đã thành hình do các lời nói và cách sống của Người. Tuy nhiên, Đức Giêsu liên tục gặp phải sự ngu dốt và trì trệ của các môn đệ. Người cũng đã bị dân Nadarét loại trừ và đám đông không hiểu. Ngược lại có những tín hiệu cho thấy dân ngoại sẵn sàng đón tiếp Người hơn: truyện người phụ nữ xứ Xyri và việc bánh hóa nhiều còn dư bảy giỏ (để dành cho người vắng mặt!). Đức Giêsu đã kết thúc sứ vụ Galilê trong tình trạng tranh tối tranh sáng của các môn đệ.

Cuộc Thương Khó của Đức Giêsu là cơ hội để vạch rõ gương mặt thật của tất cả mọi con người đã từng có cơ hội tiếp xúc với Đức Giêsu, và cũng là khoảng thời gian chứng minh cao độ nhất tư cách của Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế và ơn cứu độ viên mãn Thiên Chúa muốn ban cho loài người qua Con của Ngài. Cần chiêm ngắm những chọn lựa của Đức Giêsu. Người có thể tránh khỏi cái chết, nhưng Người là sẵn sàng nạp mình. Người có thể lợi dụng đám đông để gây ra một cuộc đảo lộn để gây thanh thế, nhưng Người lại im lặng, chịu cảnh cô đơn. Người có thể vận dụng quyền lực của “Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng” để tự giải thoát, nhưng Người đã chịu hành hạ, sỉ nhục, đánh đòn và bị đóng đinh.

Đức Giêsu giống như một con người quá yếu, yếu một cách thảm hại. Người như một kẻ bị thua, thua một cách nhục nhã. Tuy nhiên, Người lại rất mạnh trong chính tình trạng yếu thua đó, khi Người thắng vượt mọi thử thách đau đớn để trung thành với Chúa Cha. Dù như bị Thiên Chúa bỏ rơi, Người vẫn yêu mến, vẫn tin tưởng phó thác. Dù bị chế nhạo, nguyền rủa, Người vẫn một lòng yêu thương tha thứ. Tình yêu mạnh hơn sự chết. Tình yêu đã cứu thoát loài người và đem đến cho con người sự sống vĩnh cửu.

 2.- Gợi ý suy niệm

1. Hai cám dỗ

Khi đọc bài Thương Khó, chúng ta dễ có một trong hai thái độ, thật ra là những cám dỗ nặng nề: hoặc cảm động khi thấy Đức Giêsu đáng thương bị sỉ nhục, bị đánh đòn và bị đóng đinh; hoặc nổi giận với các thượng tế đã kết án Người phải chết và với toán lính đã giết chết Người khi hành hạ và đóng đinh Người. Các tâm tình này đúng là các cám dỗ bởi vì chúng thỏa mãn một thứ linh đạo cảm xúc, nhờ đó chúng ta cảm thấy mình có lương tâm đúng đắn, không có chút gì đáng trách cả, nhưng trong thực tế, chúng ta chẳng hề thấy mình bị liên lụy gì trong bản thân và trong cuộc sống chúng ta với cuộc Thương Khó của Đức Kitô. Chúng ta cảm thấy mình có “đôi bàn tay sạch”!

 2. Một kinh nghiệm

Chúng ta cần phải đi sâu hơn vào ý nghĩa của cuộc Thương Khó của Đức Kitô. Chúng ta có thể dựa vào một kinh nghiệm. Chẳng hạn, chúng ta nghĩ đến một người mắc chứng bệnh nan y, đã đến giai đoạn cuối cùng, giai đoạn đau đớn nhất, giai đoạn bi đát nhất trên “đàng Thánh Giá”. Bên cạnh người ấy, là một người vợ đơn sơ, chất phác, đã mệt mỏi kiệt quệ vì bao tháng ngay săn sóc người thân yêu. Đức tin của người vợ này có đơn sơ thật, có theo truyền thống thật, nhưng cũng là một đức tin mạnh mẽ, có thể chuyển núi dời non. Làm thế nào để làm vơi nhẹ nỗi đau kia? Phải nói gì đây? Bà ấy nói: “Con phải làm gì đây? Con ký thác cho Chúa và Đức Mẹ. Chỉ có các  Đấng mới có thể giúp đỡ con”.

 3. Con người đau khổ

Quả thật, chúng ta cần chia sẻ với nhau xác tín này: Chỉ có nơi Chúa, ta mói có thể tìm ra sức mạnh mà sống cái hiện tại khó khăn và hy vọng vào một tương lai ở bên kia trái đất mà Thiên Chúa đã bảo đảm cho ta. Suy ngẫm cuộc Thương Khó của Đức Kitô, bằng cách nhận ra rằng cuộc Thương Khó này đang xảy ra nơi một con người đang đau khổ ở kề bên ta, giúp ta tránh được việc sống cuộc Thương Khó như một cuộn phim hết sức cảm động hoặc như một quyển tiểu thuyết khiến rơi nước mắt, nhưng thúc bách ta suy nghĩ về đau khổ của Người. Một đau khổ có thể chạm tới được, khi mà Người bị nỗi lo sợ khắc khoải đè bẹp, Người xin Chúa Cha nếu có thể được thì cất xa thử thách này, hoặc hơn nữa, khi hoàn toàn là một con người, trên thập giá, Người kêu lên: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?”. Chính con người trên thập giá, con người của đau thương ấy, thật sự đang là hiện thân của đời sống chúng ta, một cuộc sống thường bị mờ tối đi vì những thử thách và khắc khoải. Tuy nhiên, đây là một đau khổ có thể đưa lại một ý nghĩa tuyệt đối mới mẻ theo viễn tượng của Đức Kitô, Đấng vừa là người vừa là Thiên Chúa, Đấng đã sống lại sau khi chết. Như phụng vụ phép Rửa nhắc nhớ, qua Con của Ngài, Thiên Chúa đã ban cho loài người chúng ta “niềm hy vọng vui tươi là được sống đời đời”.

Hôm nay, chúng ta cần phải thấy rõ: chúng ta có được sự sống chân thật ở nơi nào? Nơi các sứ mạnh của trần gian hay là nơi Thiên Chúa? Cần phải thấy rõ, và chọn lựa dứt khoát. Lời mời gọi của Đức Giêsu vẫn còn vang vọng: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”.

© 2012 Đại Chủng viện Vinh Thanh · Subscribe:PostsComments · Designed by Theme Junkie · Powered by WordPress