You Are Here: Home » SUY NIỆM » Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Người nhập thể trong lòng Đức Trinh Nữ Maria”

Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Người nhập thể trong lòng Đức Trinh Nữ Maria”

Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Người nhập thể trong lòng Đức Trinh Nữ Maria”

(Bài Giảng IV của cha Cantanlamessa cho giáo triều Rôma dịp áp lễ Giáng Sinh 2016)

1- Giáng Sinh, mầu nhiệm “vì chúng ta”

hinhgiangsinh01-2Chúng ta đang ở trong ngày áp lễ Giáng Sinh và để kết thúc những suy niệm của Mùa Vọng, chúng ta hãy suy tư về tín khoản nơi Kinh Tin Kính nói về hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi mầu nhiệm Nhập Thể. Trong Kinh Tin Kính, chúng ta đọc: “Vì loài người chúng tôi và để cứu độ chúng tôi, Người đã từ trời xuống thế, bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Người nhập thể trong lòng Đức Trinh Nữ Maria và đã làm người.”

Thánh Augustinô phân biệt hai cách thức cử hành một biến cố của lịch sử cứu độ: theo cách thức mầu nhiệm (in sacramento) hoặc theo cách thức chỉ là lễ kỷ niệm. Ngài nói: Trong việc cử hành theo cách thức kỷ niệm, chúng ta không làm gì khác hơn là “dành ngày trong năm để tưởng nhớ và long trọng cử hành chính biến cố đó.” Trong việc cử hành theo cách thức mầu nhiệm, “chúng ta không chỉ tưởng nhớ một biến cố, nhưng còn cử hành theo cách thức mà chúng ta hiểu ý nghĩa của nó vì chúng ta và chúng ta đón nhận nó một cách thánh thiện.”[1]

Giáng Sinh không phải là một sự cử hành theo cách thức kỷ niệm (như chúng ta biết: việc chọn ngày 25 tháng 12 là ngày lễ Chúa Giáng Sinh không phải vì lý do lịch sử, nhưng là lý do biểu tượng và ý nghĩa). Giáng Sinh là sự cử hành theo cách thức mầu nhiệm, nó đòi hỏi chúng ta phải được hiểu ý nghĩa của nó vì chúng ta. Thánh Lêô Cả đã đưa ra ánh sáng ý nghĩa “thần bí” của “bí tích Giáng Sinh của Chúa Kitô” khi nói rằng: “Những người con cái của Giáo Hội đã được sinh ra với Chúa Kitô trong sự sinh ra của Người, như họ đã chịu đóng đinh với Người trong cuộc khổ nạn của Người, và được phục sinh với Người trong sự phục sinh của Người.”[2]

Ở nơi căn nguyên của tất cả, có dữ kiện Kinh Thánh, được thực hiện một lần cho mãi mãi nơi Đức Maria: Trinh Nữ trở thành Mẹ Chúa Giêsu nhờ hoạt động của Chúa Thánh Thần. Mầu nhiệm lịch sử này, như mọi biến cố của ơn cứu độ, được kéo dài theo tầm mức bí tích (sacramental) trong Giáo Hội và theo tầm mức luân lý (moral) trong đời sống mỗi tín hữu. Với phẩm chất là Mẹ Trinh Khiết, Đấng sinh hạ Chúa Kitô nhờ hoạt động của Chúa Thánh Thần, Đức Maria xuất hiện như là “kiểu mẫu,” hay như “mẫu gương hoàn hảo” của Giáo Hội và của tâm hồn tín hữu. Chúng ta hãy lắng nghe một tác giả thời Trung Cổ, Chân Phước Isaác thành Stella, tóm tắt tư tưởng của các Giáo Phụ trong những lời này:

“Đức Maria và Giáo Hội là một người mẹ, và hơn những người mẹ; một Trinh Nữ, và hơn các trinh nữ. Cả hai là những người mẹ và cả hai là những trinh nữ… Vì thế, trong Kinh Thánh được linh hứng, điều được nói một cách phổ quát về Giáo Hội Mẹ Đồng Trinh, thì được hiểu theo cách thức cá nhân về Đức Maria Mẹ Đồng Trinh… Tóm lại, với tư cách hiền thê của Ngôi Lời Thiên Chúa, là mẹ, nữ tử và chị em của Chúa Kitô, mỗi linh hồn tín hữu cũng được xem như là trinh nữ và là mẹ theo cách thức của mình.”[3]

Cái nhìn này của các giáo phụ được đưa ra ánh sáng nhờ Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Lumen Gentium dành nhiều chương cho Đức Maria. Trong ba đoạn phân biệt nhau, tài liệu này nói về Đức Maria Mẹ Đồng Trinh như là mẫu gương và khuôn mẫu của Giáo Hội (số 63), Giáo Hội cũng được mời gọi trở thành trinh nữ và là mẹ trong đức tin (số 64), Giáo Hội là mẫu gương và khuôn mẫu của các tín hữu, khi bắt chước các nhân đức của Đức Maria, họ sinh hạ và làm cho Chúa Giêsu lớn lên trong trái tim mình và trái tim của anh chị em (số 65).

2- “Bởi phép Chúa Thánh Thần”

17_679_kinhmungnuvuongChúng ta hãy tiếp tục suy niệm về vai trò của từng nhân vật chính, đó là Chúa Thánh Thần và Đức Maria, để rút ra một vài gợi hứng cho lễ Giáng Sinh của chúng ta. Thánh Ambrôsiô viết:

“Việc Chúa sinh ra từ Đức Trinh Nữ là công trình của Chúa Thánh Thần… chúng ta không thể nghi ngờ rằng Chúa Thánh Thần là Đấng Sáng Tạo, Đấng chúng ta nhận biết là Tác Giả của việc Chúa nhập thể… Nếu Đức Trinh Nữ thụ thai nhờ hoạt động và quyền năng của Thánh Thần, ai có thể phủ nhận Chúa Thánh Thần là Đấng Sáng Tạo?”[4]

Trong bản văn này, Ambrôsiô giải thích cách tuyệt hảo vai trò mà Tin Mừng gán cho Chúa Thánh Thần trong việc nhập thể, khi ngài không ngừng gọi đó là Chúa Thánh Thần và Quyền Năng Đấng Tối Cao (x. Lc 1,35). Người là “Thần Khí Sáng Tạo,” Đấng hoạt động để đưa các hữu thể vào hiện hữu (như ở St 1,2), để sáng tạo một trạng thái sự sống mới mẻ và cao hơn; Người là Thánh Thần “là Đức Chúa, Đấng ban sự sống,” như chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tín Kính.

Ở đây cũng vậy, như lúc khởi đầu, Thần Khí, Đấng sáng tạo “từ hư không,” nghĩa là từ sự trống rỗng hoàn toàn của những khả thể nhân loại, không cần bất cứ sự trợ giúp hay giúp đỡ nào. Và “sự hư không này,” sự trống rỗng này, sự vắng bóng của những giải thích và những nguyên nhân tự nhiên, trong trường hợp này, chúng ta gọi là sự đồng trinh của Đức Maria: “Làm sao chuyện ấy xảy ra, khi tôi không biết đến việc vợ chồng? … Chúa Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng của Đấng Tối Cao sẽ bao trùm bà; vì thế, người con được sinh ra sẽ được gọi là thánh, Con Thiên Chúa” (Lc 1,34-35). Ở đây sự đồng trinh là một dấu chỉ cao cả không thể nào xóa bỏ hoặc phủ nhận, mà không làm đảo lộn toàn bộ cấu trúc của câu chuyện Tin Mừng và ý nghĩa của nó.

Như thế, Chúa Thánh Thần ngự trên Đức Maria là Thần Khí Đấng Sáng Tạo, Đấng đã nhào nặn cách nhiệm lạ thân xác của Chúa Kitô nơi Đức Trinh Nữ; nhưng có gì đó còn hơn thế; ngoài vai trò là “Thần Khí Sáng Tạo,” Người cũng là “fons vivus, ignis, carita, / et spiritalis unctio,” “nguồn sự sống, lửa tình yêu, và sự xức dầu ngọt ngào” đối với Đức Maria.[5]

Chúng ta sẽ làm cho mầu nhiệm trở nên rất nghèo nàn, nếu chúng ta giảm thiểu nó chỉ theo chiều kích khách quan, nghĩa là theo những công thức tín điều của nó (hai bản tính, hiệp nhất ngôi vị), trong khi sao nhãng những phương diện chủ thể và hiện sinh của nó.

Thánh Phaolô nói về một “bức thư của Đức Giêsu Kitô được giao cho chúng tôi chăm sóc, không phải viết bằng mực đen, nhưng bằng Thần Khí của Thiên Chúa hằng sống, không phải ghi trên những tấm bia bằng đá, nhưng trên những tấm bia bằng thịt, tức là lòng người (2 Cr 3,3). Chúa Thánh Thần đã viết bức thư kỳ diệu này là Chúa Kitô trước hết ở trong cung lòng Đức Maria, thế nên, như thánh Augustinô nói – trong khi xác thịt Chúa Kitô được hình thành trong cung lòng Đức Maria, thì chân lý của Chúa Kitô được in vào trong trái tim Đức Maria.”[6] Thánh Augustinô có câu nói nổi tiếng: Đức Maria “thụ thai Chúa Kitô trong lòng trước khi thụ thai trong thân xác” (“prius concepit mente quam corpore”),[7] nghĩa là Chúa Thánh Thần hoạt động trong trái tim Đức Maria, khi soi sáng và sưởi ấm lòng Mẹ bằng Chúa Kitô trước khi đổ đầy dạ Đức Maria chính Chúa Kitô.

Chỉ các thánh và các nhà thần bí, là những người có kinh nghiệm cá vị về sự tuôn đổ của Thiên Chúa trong đời sống họ mới có thể giúp chúng ta hiểu điều Đức Maria đã kinh nghiệm lúc Ngôi Lời nhập thể trong dạ mình. Trong số đó, thánh Bonaventura viết:

“Chúa Thánh Thần bất ngờ ngự xuống trên Mẹ như một ngọn lửa đốt lên trong lòng Mẹ và thánh hóa thân xác Mẹ trở nên tinh tuyền tuyệt vời. Nhưng quyền năng Đấng Tối Cao bao trùm Mẹ (Lc 1,35) để Mẹ có thể duy trì ngọn lửa ấy… Ôi, giá như bạn có thể cảm thấy được cách nào đó sự lớn lao và sức mạnh của ngọn lửa từ trời này, sự tươi mát kèm theo, sự ủi an khôn xiết, sự cao trọng của Đức Trinh Nữ Maria, sự cao thượng của loài người, sự hạ mình của vẽ uy nghi thần linh… khi đó, tôi dám chắc rằng bạn có thể hát lên với giọng hát ngọt ngào bài thánh ca này cùng với Đức Trinh Nữ: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa.”[8]

Đức Maria sống mầu nhiệm Nhập thể như là một biến cố đặc sủng ở mức độ cao nhất mà nó làm cho Mẹ trở thành kiểu mẫu của một linh hồn “nhiệt thành nhờ Thánh Thần” (x. Rm 12,11). Đó là Lễ Hiện Xuống của Mẹ. Nhiều hành vi và lời nói của Đức Maria, đặc biệt trong tường thuật về cuộc viếng thăm bà Elizabeth của Mẹ, không thể hiểu được nếu chúng không được nhìn trong ánh sáng của một kinh nghiệm thần bí mà không gì so sánh được.

Tất cả những gì mà chúng ta thấy thực hiện cách hữu hình nơi một người được đầy ơn sủng (tình yêu, niềm vui, bình an, ánh sáng), chúng ta phải nhìn nhận nơi Đức Maria theo sự đo lường độc nhất lúc truyền tin. Đức Maria là người đầu tiên có kinh nghiệm “sự say sưa điềm tĩnh của Thánh Thần” mà tôi đã nói lần trước, và ‘lời kinh Magnificat là chứng tá tuyệt nhất của điều này.

Tuy nhiên, chúng ta nói tới một sự say sưa “điềm tĩnh,” nghĩa là một sự say sưa khiêm hạ. Sự khiêm hạ của Đức Maria sau Nhập Thể xuất hiện như một trong những phép lạ vĩ đại nhất của ân sủng. Làm sao Đức Maria có thể kham nổi sức nặng của tư tưởng này: “Bà là Mẹ Thiên Chúa! Bà là Đấng Cao Cả nhất trong mọi loài thụ tạo!” Lucifer không thể giữ được sự căng thẳng này một cách đúng đắn, và tính kiêu ngạo đã làm chao đảo, nó đã ngã gục.

Đức Maria không như thế. Mẹ luôn giữ mình khiêm nhường, khiêm hạ, như không có gì xảy ra trong cuộc sống Mẹ, để Mẹ có thể đưa ra những yêu cầu. Trong một lần, Tin Mừng cho chúng ta thấy Mẹ chỉ xin người khác cơ hội nhìn thấy con mình thôi: “Họ nói với Chúa Giêsu, Mẹ và anh chị em Thầy đang ở ngoài và muốn gặp Thầy” (Lc 8,20).

3- “Trong lòng Đức Trinh Nữ Maria”

me-ngan-hoa0Bây giờ chúng ta hãy tập trung vào vai trò của Đức Maria trong Nhập Thể, sự đáp trả của Mẹ đối với hành động của Chúa Thánh Thần. Một cách khách quan phận vụ của Đức Maria hệ tại trong việc ban tặng thân xác và máu cho Ngôi Lời Thiên Chúa trong tư cách là Mẹ Thiên Chúa. Chúng ta hãy nhanh chóng vẽ lại hành trình lịch sử mà Giáo Hội đã đi tới chiêm ngắm chân lý chưa hề được nói đến trong ánh sáng chan hòa của nó: Mẹ Thiên Chúa! Một thụ tạo, Mẹ của Đấng Tạo Hóa! Trong tác phẩm Divina Commedia (Hài Kịch Thần Linh) của Dante Alghieri, thánh Bênarđô chào Mẹ: “Lạy Mẹ Đồng Trình, nữ tử của Con Mẹ/ Mẹ càng khiêm nhường càng được tán dương hơn bất cứ thụ tạo nào khác.”[9]

Lúc ban đầu và suốt thời kỳ bị thống trị bởi những cuộc vật lộn chống lại lạc giáo Ngộ Đạo và Docetist (phủ nhận thân xác Đức Kitô thuộc nhân loại, nên không chịu đau khổ), tính mẫu tử của Đức Maria được xem hầu như chỉ là tính mẫu tử thể lý. Những lạc giáo này phủ nhận rằng Đức Kitô có một thân xác thật, hoặc, nếu có, thì họ cũng phủ nhận thân xác nhân loại của Người được sinh từ một người phụ nữ, hoặc nếu quả thật thân xác được sinh từ một người phụ nữ, họ không nhận nó thực sự được rút ra từ thịt và máu của người phụ nữ. Để chống lại những người này, chân lý được quả quyết mạnh mẽ rằng Chúa Giêsu là con của Đức Maria, “hoa quả của lòng Mẹ” (x. Lc 1,42) và Đức Maria là mẹ thật, mẹ tự nhiên của Chúa Giêsu.

Trong thời kỳ cổ xưa này, tình mẫu tử đích thực và tự nhiên của Đức Maria được quả quyết để chống lại Ngộ Đạo Thuyết và Docetists, việc sử dụng tước hiệu “Theotokos,” Mẹ Thiên Chúa, xuất hiện lần đầu tiên, có lẽ với Origene trong thế kỷ thứ III. Từ đó về sau, tước hiệu này được dùng để hướng dẫn Giáo Hội tới khám phá tình mẫu tử thần linh sâu xa hơn, mà chúng ta có thể gọi là tình mẫu tử siêu hình, liên quan tới ngôi vị của Ngôi Lời.

Xảy ra trong suốt thời kỳ của những tranh luận lớn về Kitô học thuộc thế kỷ V, khi vấn đề trung tâm liên quan đến Chúa Giêsu không còn là vấn đề nhân tính thực của Người nhưng là vấn đề hiệp nhất ngôi vị của Người. Tình mẫu tử của Đức Maria không còn được xem chỉ trong tương quan với bản tính nhân loại của Chúa Kitô, nhưng đúng hơn, trong tương quan với một ngôi vị duy nhất của Ngôi Lời làm người. Và từ ngôi vị duy nhất này, Đức Maria sinh ra theo xác thịt không ai khác ngoài ngôi vị Thần Linh của Chúa Con, vì vậy, Mẹ xuất hiện như là “mẹ thật của Thiên Chúa.”

Giữa Đức Maria và Chúa Kitô không còn là một tương quan theo bình diện thể lý, nhưng là tương quan theo bình diện siêu hình, và nó đặt Mẹ lên một địa vị rất cao cả, khi tạo lập một tương quan cá biệt giữa Mẹ và Chúa Cha. Thánh Ignatiô thành Antiochia gọi Chúa Giêsu là con vừa của “Đức Maria” vừa của Thiên Chúa,”[10] gần giống như chúng ta nói về một người là con của người đàn ông này và của người phụ nữ kia. Với Công Đồng Êphêsô, chân lý này trở thành một thành quả luôn mãi của Giáo Hội. Người ta đọc trong một bản văn được phê chuẩn bởi Công Đồng: “Nếu bất cứ ai không tuyên xưng rằng Đấng Emmanuel thực sự là Thiên Chúa và bởi thế không tuyên xưng rằng Đức Trinh Nữ rất thánh, đã sinh Ngôi Lời Thiên Chúa làm người theo xác thịt, là Mẹ Thiên Chúa (Theotokos), thì bị vạ tuyệt thông (anathema).[11]

Nhưng ngay cả kết luận này cũng không là kết luận dứt khoát. Có một mức độ khác để khám phá tình mẫu tử thần linh của Đức Maria, sau mức độ thể lý và siêu hình. Trong những tranh luận Kitô học, tước hiệu Theotokos được làm nổi bật hơn trong chức năng ngôi vị của Chúa Kitô hơn là ngôi vị của Đức Maria, mặc dầu nó là một tước hiệu của Đức Maria. Từ tước hiệu này người ta không còn rút ra những hiệu quả lôgic liên quan đến ngôi vị của Đức Maria và đặc biệt là sự thánh thiện độc nhất của Mẹ.

Tước hiệu Theotokos có nguy cơ trở thành một vũ khí của cuộc chiến giữa những trào lưu thần học đối lập nhau, thay vì trở thành một diễn tả đức tin của Giáo Hội và của lòng sùng kính đối với Đức Maria. Nó cho thấy một sự kiện đáng tiếc mà nếu im lặng sẽ không ổn. Thánh Cirillô thành Alexandria là người đã chiến đấu như một con sư tử cho tước hiệu Theotokos, giữa các Giáo Phụ Giáo Hội, ngài là người trình bày một giải thích sai lạc liên quan đến sự thánh thiện của Đức Maria. Ngài là một trong số ít người dám nói một cách thẳng thắng về sự yếu đuối và những bất toàn trong đời sống Đức Maria, đặc biệt là dưới chân thập giá. Tại đây, theo Cirillô, Mẹ Thiên Chúa bị lung lay đức tin. Ngài viết: “Vào lúc sóng gió thử thách đó, Chúa phải lo xa cho Mẹ mình, vì đã rơi vào khủng hoảng, và không hiểu cuộc khổ nạn, Người đã giao phó Mẹ cho Gioan, như một người thầy ưu tú để hướng dẫn mẹ.”[12]

Cirillo không thể chấp nhận rằng một người phụ nữ, dẫu là Mẹ của Chúa Giêsu, có thể có một đức tin mạnh hơn các Tông Đồ, dẫu là những con người, họ đã bị lung lay trong thời gian của cuộc khổ nạn! Đó là những lời đến từ sự đánh giá thấp nói chung đối với người phụ nữ trong thế giáo cổ xưa và chúng cho thấy không có ích gì nhiều để nhìn nhận nơi Đức Maria tính mẫu tử thể lý và siêu hình trong tương quan với Chúa Giêsu, nếu người ta không nhìn nhận nơi Mẹ tính mẫu tử thiêng liêng, nghĩa là thuộc con tim, hơn là thuộc thân xác.

Ở đây chúng ta liên kết sự đóng góp lớn lao của các tác giả Latinh, và đặc biệt của thánh Augustinô, với sự phát triển của Thánh Mẫu Học. Theo họ, tính mẫu tử của Đức Maria được nhìn như là tình mẫu tử trong đức tin. Khi chú giải những lời của Chúa Giêsu: “Mẹ tôi và anh chị em tôi là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” (Lc 8,21), thánh Augustinô viết:

“Phải chăng Đức Trinh Nữ Maria đã không thực thi thánh ý của Chúa Cha, khi Mẹ đã tin nhờ đức tin và đã thụ thai nhờ đức tin, Mẹ được chọn để từ Mẹ sinh ra ơn cứu độ cho loài người, Mẹ được tạo thánh bởi Chúa Kitô, trước khi Chúa Kitô được tạo dựng trong Mẹ? Quả thực, Đức Maria đã thực thi thánh ý Chúa Cha, và vì thế, đối với Đức Maria, điều cao cả nhất là trở thành môn đệ của Chúa Kitô hơn là trở thành Mẹ của Chúa Kitô.”[13]

Khẳng định táo bạo cuối cùng này dựa trên câu trả lời mà Chúa Giêsu nói với người phụ nữ tuyên xưng Mẹ là “diễm phúc” vì đã cưu mang trong dạ và cho Người bú mớm: “Những ai lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành thì có phúc hơn” (Lc 11,27-28).

Tình mẫu tử thể lý và siêu hình của Đức Maria giờ đây được thực hiện nhờ sự nhìn nhận tình mẫu tử thiêng liêng, hay của đức tin, mà nó làm cho Đức Maria thành môn đệ đầu tiên và ngoan ngùy nhất của Chúa Kitô. Hoa quả đẹp nhất của cái nhìn mới mẻ này về Đức Trinh Nữ là chủ đề về sự “thánh thiện” của Đức Maria từ đây nắm giữ tầm quan trọng. Một lần nữa, khi tranh luận về tội lỗi nhân loại, thánh Augustinô đã viết:

“Tôi đề cập đến một sự ngoại lệ của Đức Trinh Nữ Maria, để có sự tôn thờ dành cho Chúa, tôi không thể không đề cập đến Mẹ khi nói về tội lỗi.”[14] Giáo Hội La Tinh sẽ diễn tả đặc ân này với tước hiệu “Vô Nhiễm” và Giáo Hội Hy Lạp diễn tả với tước hiệu “toàn thánh” (Panhagia).

4- Sự sinh ra thứ ba của Chúa Giêsu

85Giờ đây chúng ta hãy cố gắng nhìn “mầu nhiệm” của Chúa Giêsu giáng sinh từ Đức Maria nhờ hoạt động của Chúa Thánh Thần có ý nghĩa gì “đối với chúng ta.” Có một tư tưởng táo bạo về Giáng Sinh mà nó lặp lại từ nhiều thế hệ trên môi miệng của những Tiến Sỹ vĩ đại nhất và những bậc thầy tu đức trong Giáo Hội: Origene, thánh Augustinô, thánh Bênarđô, và nhiều vị thánh khác… nói rằng: “Việc Chúa Giêsu sinh ra bởi Đức Maria một lần tại Bêlem có ý nghĩa gì đối với tôi nếu như Người không được sinh ra nhờ Đức Tin trong trái tim tôi?”[15] Thánh Ambrôsiô hỏi: “Nhưng Chúa Kitô sinh ra ở đâu, trong một ý nghĩa sâu nhất, nếu không phải trong trái tim bạn và trong tâm hồn bạn?”[16]

Thánh Tôma Aquinô tóm tắt truyền thống lâu đời của Giáo Hội khi giải thích ba Thánh Lễ được cử hành vào Lễ Giáng Sinh tương ứng với ba lần sinh ra của Ngôi Lời: sự sinh ra đời đời của Người nhờ Chúa Cha, sự sinh ra trong lịch sử nhờ Đức Trinh Nữ, và sự sinh ra thiêng liêng nơi các tín hữu.[17]

Dội lại truyền thống này, trong sứ điệp Giáng Sinh của mình vào năm 1962, thánh Gioan XXIII đã dâng lên lời cầu nguyện sốt sáng này: “Ôi Lời hằng hữu của Chúa Cha, Con Thiên Chúa và Con của Đức Maria, ngày hôm nay xin cũng hãy canh tân kỳ công nhiệm lạ của việc Chúa sinh ra trong sâu thẳm các linh hồn.”

Có một ý tưởng táo bạo cho rằng Chúa Giêsu không chỉ sinh ra “cho” chúng ta nhưng còn “trong” chúng ta. Ý tưởng này đến từ nơi nào?

Thánh Phaolô nói về Chúa Kitô phải được “hình thành” trong chúng ta (Gl 4,190. Ngài cũng nói rằng trong phép Rửa, các Kitô hữu “mặc lấy Chúa Giêsu Kitô” (Rm 13,14) và Chúa Kitô phải đến “cư ngụ trong trái tim chúng ta nhờ đức tin” (x. Eph 3,17). Quan niệm về sự sinh ra của Chúa Kitô trong tâm hồn cách chính yếu dựa trên giáo huấn về nhiệm thể. Theo giáo huấn này, Chúa Kitô lặp lại cách mầu nhiệm “trong chúng ta” điều Người đã làm “cho chúng ta” trong lịch sử. Điều này áp dụng cho Mầu Nhiệm Phục Sinh nhưng cũng cho mầu nhiệm của Nhập Thể. Thánh Maximus Confessor viết rằng: “Lời Chúa muốn lặp lại trong mọi người mầu nhiệm Nhập Thể Người.”[18]

Lúc đó, Chúa Thánh Thần mời gọi chúng ta “quay trở về với lòng chúng ta”[19] để cử hành một Giáng Sinh thân mật hơn và đích thực hơn, Người là Đấng làm cho lễ Giáng Sinh mà chúng ta cử hành qua các nghi lễ phụng vụ và theo các truyền thống, trở nên “thực là giáng sinh”. Chúa Cha muốn sinh ra Ngôi Lời trong chúng ta để Người có thể công bố một lần nữa lời ngọt ngào nói với cả Chúa Giêsu và chúng ta: “Con là Con Cha yêu dấu, hôm nay Cha đã sinh ra Con” (Dt 1,5). Chính Chúa Giêsu muốn được sinh ra trong trái tim chúng ta. Và vì thế, chúng ta phải nghĩ đến điều này trong đức tin: Như thể, trong những ngày cuối cùng của Mùa Vọng, Người đến giữa chúng ta và gõ cửa, như trong đêm ở Bêlem, để tìm kiếm một trái tim mà Người có thể được sinh ra một cách thiêng liêng.

Thánh Bonaventura viết cuốn sách gọi là “Năm Đại Lễ của Hài Nhi Giêsu.” Trong đó, ngài giải thích cách chính xác ý nghĩa mà Chúa Giêsu sinh ra trong trái tim chúng ta. Người viết rằng tâm hồn đạo đức có thể thụ thai một cách thiêng liêng Lời Chúa như Đức Maria thụ thai trong lễ Truyền Tin, sinh Chúa ra như Đức Maria sinh trong lễ Giáng Sinh, đặt tên cho Chúa như lúc cắt bì, tìm kiếm và tôn thờ Người cùng với các Đạo Sĩ đã làm trong lễ Hiễn Linh, và cuối cùng, dâng Chúa lên Chúa Cha như Mẹ đã dâng trong lễ Dâng Con vào Đền Thờ.”[20]

Ngài giải thích tâm hồn thụ thai Chúa Giêsu khi không thõa mãn với cuộc sống, tâm hồn hướng tới và được khích lệ bởi những linh hứng thánh, lòng rực cháy sự nhiệt thành thánh thiện, và cuối cùng là cương quyết từ bỏ những thói quen và khuyết điểm cũ – nó trở nên phong phú cách thiêng liêng nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần và thai nghén ý hướng sống theo một lối sống mới. Việc thụ thai Chúa Kitô đã thực hiện!

Tuy nhiên, chương trình này cho một cuộc sống mới rõ ràng phải được thể hiện trong những điều cụ thể, qua một sự biến đổi, có thể cả bên ngoài và hữu hình, trong đời sống và thói quen của chúng ta. Nếu chương trình không đi vào hành động, Chúa Giêsu được thụ thai, nhưng Người không được “sinh ra.” “Lễ thứ hai” của Hài Nhi Giêsu, Lễ Giáng Sinh, không được cử hành! Đó là một sự “phá thai tinh thần,” là một trong vô số những hình thức loại bỏ sự sống và là một trong những lý do chính mà rất ít người trở thành những vị thánh.

Thánh Bônaventura nói: Nếu bạn quyết định thay đổi lối sống mình, bạn sẽ đối diện với hai loại cám dỗ. Trước hết, con người xác thịt xung quanh bạn đến nói với bạn: “Điều bạn đang quyết tâm làm thật là quá vất vã; bạn không bao giờ có thể thực hiện được, bạn sẽ không có sức mạnh, và giã tràng xe cát biển đông. Những điều này không thêm gì cho tình trạng đời sống và sẽ gây tổn hại cho tiếng tốt cũng như phẩm giá của vị trí bạn.”

Chứng ngại này được vượt qua, nhưng chướng ngại khác lại đến với những người khát khao nên thánh, và có lẽ hiện tại họ những người đạo đức, nhưng họ không thực sự tin vào sức mạnh của Chúa và Thánh Thần. Họ sẽ nói với bạn rằng nếu bạn bắt đầu sống theo cách thức này – khi dành nhiều chỗ cho cầu nguyện, tránh những chuyện vô bổ, làm những việc bác ái – bạn sẽ sớm được coi như một vị thánh, một người đạo đức, nhưng khi đó bạn biết rất rõ là bạn không phải là một vị thánh, bạn hãy thôi lừa dối người khác và đừng sống giả hình, bạn đang kéo cơn giận đáng sợ của Thiên Chúa xuống trên mình. Bạn hãy quên nó, và hãy sống như mọi người.

Trước những cám dỗ này cần phải trả lời trong đức tin: “Này, không phải Đức Chúa ngắn tay không thể cứu, cũng chẳng phải Người nặng tai không nghe được” (Is 59,1). Và hầu như nếu chúng ta đã giận dữ với chính mình, chúng ta cần phải thốt lên với thánh Augustinô trong đêm tối của việc hoán cải mình: “Ông nọ bà kia làm được, sao tôi lại không?”[21]

Chúng ta hãy kết luận bằng cách cùng nhau đọc lại lời Kinh ở trong cuộn giấy bằng tiếng Hy Lạp, mà theo một số người nó có trước thế kỷ thứ III, trong đó Đức Trinh Nữ được khẩn cầu với tựa đề: “Theotokos – Dei Genetrix – Mẹ Thiên Chúa.

Sub tuum praesidium confugimus,

Sancta Dei Genetrix.

Nostras deprecationes ne despicias in

necessitatibus,

sed a periculis cunctis libera nos semper,

Virgo gloriosa et benedicta.

Chúng con trông cậy rất thánh Đức Mẹ Chúa Trời. Xin chớ chê chớ bỏ lời chúng con nguyện. Trong con gian nan, thiếu thốn, Đức Nữ Đồng Trinh hiển vinh sáng láng, hằng chữa chúng con cho khỏi mọi sự dữ. Amen!

Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Hương dịch

 

Thư mục

[1]  St. Augustine, “Letter 55,” 1, 2, in Letters 1-99, trans. Roland Teske, Part II, vol. 1, The Works of Saint Augustine, ed. John E Rotelle (Hyde Park, NY: New City, 2001), p. 216; see also CSEL 34, 1, p. 170.

[2] Leo the Great, “On the Feast of the Incarnation,” 6, 2, in Leo the Great: Sermons, trans. Jane P. Freeland and Agnes J. Conway (Washington, DC: Catholic University of America Press, 1996), p. 105; see also  PL 54, p. 213.

[3]  Blessed Isaac of Stella, “Sermon 51,” in the Roman Catholic Office of Readings for the Saturday of the Second Week of Advent;  italics added. See also PL 194, pp. 1862-1863, 1865.

[4]  St. Ambrose, “On the Holy Spirit,” [De Spiritu Sancto], II, 38, 41, 43, in Saint Ambrose: Theological and Dogmatic Works, trans. Roy J. Deferrari (Washington,  DC: Catholic University of America Press, 1963), pp. 110-111.

[5]  Verses from the hymn “Veni, Creator Spiritus” (“Come, Holy Spirit, Creator  blest”) in the Roman Breviary.

[6]  St. Augustine, “Sermon 25,” 7 (Denis), in The Office of Readings for November 21 (Boston, MA: Daughters of St. Paul, 1983), p. 1640; see also PL 46, p. 938.

[7]  St. Augustine, “Sermon 215,” 4, in The Works of Saint Augustine, Part 3, vol. 6, trans. Edmund Hill, ed. John Rotelle (New Rochelle, NY: New City Press, 1993), p. 160. See also PL 38, p. 1074.

[8]  St. Bonaventure, Lignum vitae [The Tree of Life], 1, 3, in Bonaventure, trans. and intro. Ewert Cousins (New York: Paulist Press, 1978), pp. 127-128; italics original.

[9]  Dante, Paradiso 33:1, in The Divine Comedy: “Vergine madre, figlia del tuo figlio, / umile e alta più che creatura.”

[10]  St. Ignatius, “Epistle to the Ephesians,” 7, 2, in Saint Ignatius of Antioch: The Epistles, ed. Paul A. Boer Sr. (N.p.: Veritatis Splendor, 2012), p. 59.

[11]  St. Cyril of Alexandria, “Anathemas against Nestorius,” in Denzinger #252, English version, p. 97.

[12]  St. Cyril of Alexander, Commentary on Joh , XII, 19: 25-27, trans. David R. Maxell, ed. Joel C. Elowsky, vol. 1, Ancient Christian Texts (Downers Grove, IL: InterVarsity Press Academic, 2015), pp. 347-349; see also PG 74, pp. 661-665.

[13] Augustine, “Sermon 25” (Denis), in the Office of Readings for November 21 (Boston, MA: Daughters of St. Paul 1983), p. 1640; see also “Sermon 72A” in Miscellanea Agostiniana, I, p. 162.

[14]  St. Augustine, On Nature and Grace, 36, 42, in Saint Augustine: Four Anti-Pelagian Writings, trans. John A. Mourant and William J. Collinge (Washington, DC: Catholic University of America Press, 1992), pp. 53-54; see also CSEL 60, p. 263ff.

[15]  See, for example, Origen, “Sermon 22,” 3, in Origen: Homilies on Luke, trans. Joseph T. Lienhard, vol. 94, The Fathers of the Church (Washington, DC: Catholic University of America Press, 1996), p. 93: “What profit is it to you if Christ  once came in the flesh, unless he also comes into your soul?”; see also SCh 87, p. 302.

[16]  See Ambrose of Milan, Exposition of the Holy Gospel according to Luke, II, 38, trans. Theodosia Tomkinson (Etna, CA: Center for Traditionalist Orthodox Studies, 2003), p. 59.

[17]  St. Thomas Aquinas , Summa theologica, III, q. 83, 2.

[18]  See St. Maximus the Confessor, “Ambigua to John,” 7.22, in On Difficulties in the Church Fathers, vol. 1, ed. and trans. Nicholas Constans (Cambridge, MA: Harvard University Press, 2014), p. 107: “The Logos of God (who is God) wills always and in all things to accomplish the mystery of his embodiment.”  See also PG 91, p. 1084.

[19]  See this recommendation in St. Augustine, Confessions 4, 19.

[20]  St. Bonaventure, “Bring Forth Christ: The Five Feasts of the Child Jesus,” trans. Eric Doyle (Oxford, SLG Press, 1984), pp. 1-16.

[21]  St. Augustine, Confessions, 8, 11, 27, trans. Henry Chadwick (Oxford: Oxford University Press, 1991), p. 151 (“Si isti et istae, cur non ego?”).

[1] St. Augustine, “Letter 55,” 1, 2, in Letters 1-99, trans. Roland Teske, Part II, vol. 1, The Works of Saint Augustine, ed. John E Rotelle (Hyde Park, NY: New City, 2001), p. 216; see also CSEL 34, 1, p. 170.

[2] Leo the Great, “On the Feast of the Incarnation,” 6, 2, in Leo the Great: Sermons, trans. Jane P. Freeland and Agnes J. Conway (Washington, DC: Catholic University of America Press, 1996), p. 105; see also  PL 54, p. 213.

[3] Blessed Isaac of Stella, “Sermon 51,” in the Roman Catholic Office of Readings for the Saturday of the Second Week of Advent;  italics added. See also PL 194, pp. 1862-1863, 1865.

[4] St. Ambrose, “On the Holy Spirit,” [De Spiritu Sancto], II, 38, 41, 43, in Saint Ambrose: Theological and Dogmatic Works, trans. Roy J. Deferrari (Washington,  DC: Catholic University of America Press, 1963), pp. 110-111

[5] Verses from the hymn “Veni, Creator Spiritus” (“Come, Holy Spirit, Creator  blest”) in the Roman Breviary.

[6] St. Augustine, “Sermon 25,” 7 (Denis), in The Office of Readings for November 21 (Boston, MA: Daughters of St. Paul, 1983), p. 1640; see also PL 46, p. 938.

[7] St. Augustine, “Sermon 215,” 4, in The Works of Saint Augustine, Part 3, vol. 6, trans. Edmund Hill, ed. John Rotelle (New Rochelle, NY: New City Press, 1993), p. 160. See also PL 38, p. 1074.

[8] St. Bonaventure, Lignum vitae [The Tree of Life], 1, 3, in Bonaventure, trans. and intro. Ewert Cousins (New York: Paulist Press, 1978), pp. 127-128; italics original.

[9] Dante, Paradiso 33:1, in The Divine Comedy: “Vergine madre, figlia del tuo figlio, / umile e alta più che creatura.”

[10] St. Ignatius, “Epistle to the Ephesians,” 7, 2, in Saint Ignatius of Antioch: The Epistles, ed. Paul A. Boer Sr. (N.p.: Veritatis Splendor, 2012), p. 59.

[11] St. Cyril of Alexandria, “Anathemas against Nestorius,” in Denzinger #252, English version, p. 97.

[12] St. Cyril of Alexander, Commentary on Joh , XII, 19: 25-27, trans. David R. Maxell, ed. Joel C. Elowsky, vol. 1, Ancient Christian Texts (Downers Grove, IL: InterVarsity Press Academic, 2015), pp. 347-349; see also PG 74, pp. 661-665.

[13] Augustine, “Sermon 25” (Denis), in the Office of Readings for November 21 (Boston, MA: Daughters of St. Paul 1983), p. 1640; see also “Sermon 72A” in Miscellanea Agostiniana, I, p. 162.

[14] St. Augustine, On Nature and Grace, 36, 42, in Saint Augustine: Four Anti-Pelagian Writings, trans. John A. Mourant and William J. Collinge (Washington, DC: Catholic University of America Press, 1992), pp. 53-54; see also CSEL 60, p. 263ff.

[15] See, for example, Origen, “Sermon 22,” 3, in Origen: Homilies on Luke, trans. Joseph T. Lienhard, vol. 94, The Fathers of the Church (Washington, DC: Catholic University of America Press, 1996), p. 93: “What profit is it to you if Christ  once came in the flesh, unless he also comes into your soul?”; see also SCh 87, p. 302

[16] See Ambrose of Milan, Exposition of the Holy Gospel according to Luke, II, 38, trans. Theodosia Tomkinson (Etna, CA: Center for Traditionalist Orthodox Studies, 2003), p. 59

[17] St. Thomas Aquinas , Summa theologica, III, q. 83, 2.

[18] See St. Maximus the Confessor, “Ambigua to John,” 7.22, in On Difficulties in the Church Fathers, vol. 1, ed. and trans. Nicholas Constans (Cambridge, MA: Harvard University Press, 2014), p. 107: “The Logos of God (who is God) wills always and in all things to accomplish the mystery of his embodiment.”  See also PG 91, p. 1084.

[19] See this recommendation in St. Augustine, Confessions 4, 19.

[20] St. Bonaventure, “Bring Forth Christ: The Five Feasts of the Child Jesus,” trans. Eric Doyle (Oxford, SLG Press, 1984), pp. 1-16.

[21] St. Augustine, Confessions, 8, 11, 27, trans. Henry Chadwick (Oxford: Oxford University Press, 1991), p. 151 (“Si isti et istae, cur non ego?”).

About The Author

Number of Entries : 562

© TRANG THÔNG TIN CHÍNH THỨC CỦA ĐẠI CHỦNG VIỆN VINH THANH

Scroll to top