- Giải thích những khiếm khuyết trong sự ưng thuận Hôn nhân?
- Khi biết trước những khiếm khuyết trong sự ưng thuận Hôn nhân, cha sở phải làm thế nào?
TRẢ LỜI
Như chúng ta biết, để hôn nhân thành sự thì cần phải hội đủ 3 cấu tố:
- Hai người không mắc những ngăn trở tiêu hôn.
- Bày tỏ sự ưng thuận tự do và đầy đủ.
- Cử hành theo thể thức của Giáo luật.
Như vậy, sự ưng thuận là một trong 3 cấu tố không thể thiếu để hôn nhân thành sự (Đ 1057&1,2).
- Sự ưng thuận trong hôn nhân là gì? Sự ưng thuận hôn nhân là: Một hành vi tự do và đầy đủ của lý trí và ý chí của đôi bên. Nếu thiếu những điều kiện đó gọi là sự ưng thuận khiếm khuyết. Sự ưng thuận khiếm khuyết sẽ làm cho hôn nhân vô hiệu.
Có 8 khiếm khuyết trong sự ưng thuận Hôn nhân.
1/ Không sử dụng đầy đủ trí khôn ( Đ1095&1): Sử dụng trí khôn đòi hỏi trong kết hôn không phải là việc dùng đơn giản trí khôn mà luật giả định có vào lúc 7 tuổi, nhưng là sử dụng “đủ” trí khôn, nghĩa là phải hiểu rằng hôn phối là một cộng đoàn sống đời vợ chồng vì thiện ích của những người phối ngẫu, sinh và nuôi dạy con cái(Đ1055&1).
2/ Thiếu suy xét thích đáng: Những người thiếu nghiêm trọng óc phán đoán về quyền lợi và nghĩa vụ chính yếu trong hôn nhân ( Đ1095&2). Khả năng này bao hàm cả ý chí và lí trí. Suy xét đủ về hôn nhân bao gồm khả năng lượng định cách thấu đáo quyết định tiến tới hôn nhân trong ánh sáng của trách nhiệm và bổn phận, động lực thúc đẩy kết hôn, các điểm yếu, điểm mạnh của mình cũng như của người kia, và khả năng thực thi những đòi buộc của hôn nhân.
3/ Thiếu khả năng thích hợp: Những người vì những nguyên nhân tâm lý, không thể đảm trách được những trách vụ chính yếu của hôn nhân thì không có khả năng kết hôn (Đ1095&3). Những người thiếu khả năng thích hợp thì vẫn có thể hiểu biết và nhận thức tốt về những gì hôn nhân đòi hỏi, nhưng người đó vẫn không ưng thuận hữu hiệu vì họ không có khả năng đảm đương và làm tròn những trách vụ đó.
- Một trong những trách vụ chính yếu của hôn nhân là khả năng giao hợp tính dục( Đ1055&1), chung sống trọn đời, việc tự giải by mình, hiểu biết v săn sĩc người phối ngẫu, cũng như con ci.
Ví dụ: Những người rối loạn nhân cách, rối loạn do lo âu, rối loạn tâm thần, đồng tính luyến ái,….
4/ Vô tri: Để có thể thực hiện sự ưng thuận hôn phối, yếu tố cần thiết ít là các bên không thể không biết rằng hôn nhân là một sự chung sống vĩnh viễn giữa một người nam và một người nữ, nhằm sinh sản con cái qua sự cộng tác giới tính cách nào đó (Đ1096&1). Như vậy, vô tri nghĩa là hai người quyết định tiến đến hôn nhân mà không biết hôn nhân là một sự chung sống vĩnh viễn của một người nam và một người nữ, nhằm sinh sản và giáo dục con cái. Ví dụ: Một người nào đó coi hôn nhân có lợi cho anh ta đơn giản là vì có người trông coi nhà cửa, và làm công việc nhà, công việc nội trợ cho anh ta (tức lm Ơsin cho anh ta) thì hôn nhân đó vô hiệu.
5/ Sai lầm:
- Sự lầm lẫn về nhân thân (Đ1097&1)
Ví dụ: Hai người tiến đến hôn nhân mà trước đó chưa hề biết mặt nhau. Vì thế có trường hợp là ở gia đình nhà gái có hai chị em chẳng hạn, chú rể muốn lấy cô em nhưng vì gia đình nhà gái sợ cô chị ế chồng nên tuy đồng ý gả cô em, nhưng đến ngày cưới thì thế cô chị vào chỗ cô em.
- Sự nhầm lẫn về tư cách của một người: Cho dù tư cách này là nguyên nhân dẫn đến kết hôn, vẫn không làm cho hôn nhân vô hiệu, trừ khi tư cách ấy được nhắm đến cách trực tiếp và chủ yếu( Đ1097&2).
Ví dụ: Một người phụ nữ luôn luôn muốn cưới một người đàn ông giàu có, và nghĩ người chồng chưa cưới là giàu có, vì anh ta ăn mặc sang trọng, và có xe hơi đắt tiền,….Nhưng sau khi cưới cô này phát hiện anh ta là một người khố rách áo ôm, một người đàn ông nghèo, những phương tiện đĩ chỉ l đồ vay mượn. Từ đĩ dẫn đến hơn nhn tan vỡ. Trong trường hợp trn, người phụ nữ trực tiếp và chính yếu nhắm đến việc chỉ cưới một người đàn ông giàu có.
- Sai lầm do gian lận: Người nào kết hôn do bị lừa vì mưu mô đặt ra để dành được sự ưng thuận một đặc điểm no đĩ của phía bên kia, mà tự bản chất, đặc điểm này gây phiền nhiễu nặng nề đến đời sống chung vợ chồng thì người đó kết hôn vô hiệu(Đ1098).
Ví dụ: Một cô gái chỉ mong ước cưới được một anh chàng kỹ sư. Và người yêu của cô ta biết được mong ước này của cô ta, nên đã mượn bằng kỹ sư của một người nào đó rồi thay tên đổi chủ để cô ta ưng thuận, nhưng khi khi cưới anh ta về thì cô ta phát hiện ra anh ta không phải là một kỹ sư và hôn nhân tan vỡ.
- Sai lầm về tính đơn nhất hay tính bất khả phân ly hoặc về phẩm giá bí tích của hôn nhân không làm cho sự ưng thuận hôn nhân bị khiếm khuyết, miễn là sự làm lẫn ấy không chi phối ý chí(Đ1099). Như vậy sai lầm về tính đơn nhất của hôn nhân bị chi phối bởi ý chí thì hôn nhân bất thành.
Ví dụ: Một anh có ý định kết hôn với một cô gái trong 5 năm rồi ly dị, v cô gái kia lại không biết thì hôn nhân đó vô hiệu.
- Sai lầm liên quan đến sự hữu hiệu của hôn phối: Biết hay tin rằnghôn phối bị vô hiệu không nhất thiết là không có sự ưng thuận hôn phối(Đ1100).
Ví dụ: Một đôi hôn phối có thể ưng thuận lấy nhau thực sự, cho dù họ biết hôn phối là vô hiệu vì ràng buộc hôn phối trước.
6/ Sự giả vờ: Nếu một bên hay cả hai bên, bằng một hành vi tích cực của ý chí, loại trừ chính hôn nhân, hoặc một yếu tố chính yếu nào, hoặc một đặc tính chính yếu nào của hôn nhân thì họ kết hôn với nhau bất thành(Đ1101&2).
- Giả vờ hoàn toàn: Khi một người không có ý định kết hôn, cho dù họ có theo thủ tục bên ngoài.
Ví dụ: Khi người nào đó không có ý định hợp nhất chút nào với người phối ngẫu, hay không có ý định chung sống suốt đời vì thiịen ích của người phối ngẫu- Sự giả vờ này làm hôn nhân bất thành.
- Giả vờ một phần: Có 3 loại giả vờ một phần: Không có ý định có con, không có ý chung thuỷ, và không có ý kết hôn vĩnh viễn- Giả vờ này cũng làm hôn nhân bất thành.
7/ Ưng thuận có điều kiện:
- Điều kiện tương lai: Kết hôn về điều kiện tương lai thì bất thành(Đ1102&1).
Ví dụ: Tôi sẽ cưới anh với điều kiện sau này anh phải trở thành một bác sĩ.
- Các điều kiện quá khứ và hiện tại: Kết hôn với điều kiện về quá khứ hay hiện tại có thành sự hay không là tuỳ theo nội dung của điều kiện ấy có hay không(Đ1102&2).
+ Điều kiện quá khứ thì dựa vào một hoàn cảnh đã xẩy ra hay đã có trước khi có sự ưng thuận. Ví dụ: Tơi sẽ cưới anh với điều kiện anh chưa từng yu ai.
+ Điều kiện hiện tại dựa vào một hoàn cảnh đang xẩy ra hay có vào thời điểm trao đổi sự ưng thuận. Ví dụ: Tơi sẽ kết hơn với cơ nếu cơ cĩ bằng cấp, cĩ nghề nghiệp.
Nếu không thoả điều kiện, hôn phối vô hiệu. Nếu thoả điều kiện thì hôn phối hữu hiệu.
-Để được hợp pháp, đòi phải có phép bằng văn bản của Đấng Bản Quyền địa phương(Đ1102&3).
8/ Ap lực và sự sợ hãi: Hôn phối là vô hiệu khi được kết ước do áp lực hoặc sợ hãi nặng từ bên ngoài, cho dù không do tác động chủ ý, nhưng để tránh thoát, người ta buộc phải chọn con đường kết hôn(Đ1103).
- Ap lực là ép buộc thể lý hay luân lý từ bên ngoài đến một người và người này không thể kháng cự được. Ap lực từ bên ngoài làm người khác phải chấp nhận thì làm cho hôn nhân vô hiệu.
- Sợ hãi phát sinh từ bên trong con người. Để làm cho hôn phối vô hiệu, sợ hãi phải là nặng nề, tác động từ bên ngoài, và hôn phối là giải pháp để thoát khỏi sự sợ hãi. Sợ hãi nặng nề có thể là nghiêm trọng khách quan và sắp xẩy ra. Ví dụ: sợ thiệt mạng hoặc thương tật về thể lý. Hoặc có thể nghiêm trọng chủ quan. Thí dụ: một thiếu nữ chưa trưởng thành , lại có cha mẹ nghiêm khắc, cảm thấy sợ hãi nặng khi thấy mình có thai ngoài ý muốn và buộc phải chọn con đường kết hôn để không làm cha mẹ tức giận.
- Sợ hãi còn ảnh hưởng từ bên ngoài, nghĩa là bởi người khác
- Sợ hãi phải là buộc người ta phải chọn con đường kết hôn để tránh thoát. Nạn nhân nhận thấy rằng chỉ còn một con đường là cưới thì mới thoát khỏi sợ hãi. Sợ hãi là nguyên nhân dẫn đến kết hôn mà nếu không có sợ hãi thì không có sự kết hôn. Sự sợ hãi đó sẽ làm cho hôn nhân vô hiệu.
* Khi biết trước những khiếm khuyết trong sự ưng thuận hôn nhân, cha sở phải làm thế nào?
Đ 1066: Trước khi cử hành bí tích hôn nhân phải biết chắckhông có gì cản trở việc cử hành bí tích thành sự và hợp thức.
Vì vậy, nếu trong trường hợp biết trước những khiếm khuyết trong sự ưng thuận thì cha sở phải thông báo và giải thích cho đôi hôn nhân biết những khiếm khuyết đó, và cho họ biết những khiếm khuyết đó sẽ làm cho hôn nhân của họ bất thành v đưa ra các giải pháp giải quyết (nếu cĩ thể).
Nếu giải thích cho họ biết r rồi mà họ vẫn muốn tiến tới hôn nhân thì cha sở phải ngăn cản, không cử hành bí tích hôn phối.
