You Are Here: Home » TIN TỨC » GIÁO HỘI NHƯ LÀ GIA ĐÌNH THIÊN CHÚA (Phần 2)

GIÁO HỘI NHƯ LÀ GIA ĐÌNH THIÊN CHÚA (Phần 2)

Xem phần một

papa_messa_pasqua3. Giáo Hội như là Gia Đình Thiên Chúa

a. Nền tảng thần học và đặc tính Gia Đình Giáo Hội

Như đã được đề cập ở trên, Kinh Thánh Cựu Ước cho chúng ta biết rằng các giao ước giữa Thiên Chúa và nhân loại dễ bị tổn thương do sự bất tín của nhân loại. Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa thiết lập giao ước vĩnh cửu giữa Thiên Chúa và nhân loại nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa làm người. Thông thường, các giao ước trong xã hội nhân loại được thiết lập giữa các bên tương đương về phẩm giá, quyền lợi và trách nhiệm. Các giao ước giữa Thiên Chúa và nhân loại được diễn tả trong Kinh Thánh không theo thể thức đó, nhưng là do Thiên Chúa khởi xướng với tư cách và phẩm vị trổi vượt ngàn trùng. Điều đáng chúng ta quan tâm là các giao ước giữa Thiên Chúa và nhân loại luôn diễn ra trong bối cảnh gia đình.

Các giao ước này gắn liền với Lời của Thiên Chúa: Lời sáng tạo, Lời sự sống, Lời phục hồi, Lời hi vọng, Lời cứu chuộc, Lời thánh hóa. Thiên Chúa tạo dựng muôn loài bằng Lời của Người, Thiên Chúa đối thoại với nhân loại bằng Lời của Người và Thiên Chúa cứu chuộc nhân loại cũng bằng chính Lời của Người, Lời Nhập Thể. Ở đây, chúng ta để ý đến ‘năm Lời’ quan trọng trong Kinh Thánh, cả năm Lời đều thực hiện qua gia đình. Lời thứ nhất liên quan đến việc khởi đầu gia đình nhân loại: “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta” (St 1,26). Lời thứ hai, liên quan đến gia đình Nô-ê: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất” (St 9,1). Lời thứ ba liên quan đến gia đình Áp-ra-ham: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi” (St 12,1). Lời thứ tư liên quan đến gia đình Đức Giê-su, được ngôn sứ I-sai-a tiên báo: “Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là ‘Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta’” (Mt 1,23; Is 7,14).[1] Lời thứ năm là chính Lời của Đức Giê-su liên quan đến Gia Đình thiêng liêng, gia đình mở rộng của Người: “Thưa Bà, đây là con của Bà” (Ga 19,26).

Lời thứ năm được hiểu là Lời thiết lập Gia Đình Giáo Hội, để qua Giáo Hội, Gia Đình Thiên Chúa tiếp tục hiện diện và hoạt động giữa trần gian nhằm phục hồi căn tính và phẩm giá gia đình nhân loại bị biến dạng và hư hoại bởi Tội Nguyên Tổ và hệ lụy của tội này. Lời thứ năm được Đức Giê-su thốt ra trong bối cảnh dưới chân thập giá khi Đức Giê-su trao phó Đức Ma-ri-a cho thánh Gio-an và thánh Gio-an cho Đức Ma-ri-a, để từ đây gia đình Đức Giê-su cũng chính là gia đình của Đức Maria và thánh Gio-an cùng tất cả những ai nhận là môn đệ của Đức Giê-su qua muôn thế hệ. Sau lời trăng trối này, Đức Giê-su lịch sử thuộc gia đình Na-da-rét hoàn thành sứ mệnh của mình và nói rằng ‘thế là đã hoàn tất’. Rồi ‘Người gục đầu xuống và trao Thần Khí’ (Ga 19,30). Từ đây, Chúa Thánh Thần tiếp tục công việc của Đức Giê-su qua Giáo Hội mà Đức Giê-su thiết lập. Chúa Thánh Thần trở thành ‘linh hồn’ của gia đình này và làm cho gia đình này luôn sống động giữa lòng thế giới.

Trong Tin Mừng Đức Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu, việc thiết lập Giáo Hội như là gia đình còn được hiểu qua Biến Cố Đức Giê-su hỏi các môn đệ: “Người ta nói Con Người là ai?”. Thánh Phê-rô được Thiên Chúa linh ứng và trả lời rằng “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16). Đây chính là lời tuyên xưng về gia đình Đức Giê-su. Thánh Phê-rô biết rõ rằng Đức Giê-su thuộc gia đình Na-da-rét, Người là con Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se, tuy nhiên, thánh Phê-rô nhận được linh ứng quan trọng rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, ‘Con Thiên Chúa’ và thuộc về Gia Đình Thiên Chúa. Đó là lý do giải thích tại sao sau lời tuyên xưng của thánh Phê-rô, Đức Giê-su nói rằng “này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16,17-18). Như thế, Đức Giê-su thiết lập Giáo Hội trên nền tảng thánh Phê-rô, nền tảng thể hiện qua lời tuyên xưng của thánh Phê-rô rằng Đức Giê-su chính là Đấng Ki-tô, Đấng được Thiên Chúa xức dầu, Đấng là Con Thiên Chúa đến mặc khải cho nhân loại về Gia Đình Thiên Chúa, đồng thời là Đấng thiết lập Gia Đình Thiên Chúa ở trần gian này.

Chúng ta cũng nhận thức rằng hình ảnh Giáo Hội như là gia đình không phải là hình ảnh mới mẻ, mà là hình ảnh bén rễ sâu trong lịch sử cứu độ của Thiên Chúa. Công Đồng Vatican II chỉ ra rằng “trong Cựu Ước, việc mạc khải Nước Thiên Chúa thường được trình bày bằng hình bóng; cũng thế, ngày nay bản tính thâm sâu của Giáo Hội được diễn tả bằng nhiều hình ảnh lấy từ đời sống du mục, canh nông, kiến trúc, hoặc gia đình và hôn lễ.”[2] Đồng thời, Công Đồng cũng chỉ ra rằng “Giáo Hội cũng thường được gọi là tòa nhà của Thiên Chúa (1 Cr 3,9). Chúa Ki-tô đã tự ví Người như viên đá mà các thợ xây loại bỏ, nhưng đã trở thành viên đá góc (Mt 21,42). Trên nền móng này, các Tông Ðồ đã xây dựng Giáo Hội (1 Cr 3,11) và Giáo Hội được bền vững, liên kết nhờ nền móng đó. Tòa nhà này còn được gọi bằng nhiều tên khác: Nhà Thiên Chúa (1 Tm 3,15), nơi gia đình Người cư ngụ.”[3] Việc đào sâu và diễn tả Giáo Hội như là Nhà Thiên Chúa hay Gia Đình Thiên Chúa được các Giáo Phụ cũng như truyền thống Giáo Hội quan tâm qua dòng thế kỷ.[4]

Hình ảnh Giáo Hội như là gia đình được quảng diễn cách mạnh mẽ trong 4 thế kỷ đầu của Ki-tô Giáo, đặc biệt, trong những thập niên đầu khi Giáo Hội vừa khai sinh. Dần dần, Giáo Hội được ‘xã hội hóa’ hay ‘luật hóa’ và trở thành tổ chức qui cũ như các tổ chức khác giữa lòng nhân loại để có thể diễn tả căn tính, đời sống và sứ mệnh đích thực của mình.[5] Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng những yếu tố bên ngoài của Giáo Hội, hay nói cách khác, chiều kích hữu hình của Giáo Hội như là một ‘xã hội có phẩm trật’ không thể che khuất tính gia đình của Giáo Hội. Những yếu tố xã hội hay những yếu tố bên ngoài phát sinh trong sự tiến triển của Giáo Hội nhằm làm cho Giáo Hội có thể phục vụ nhân loại cách xứng hợp hơn. Giáo Hội có được kinh nghiệm rằng khi Giáo Hội dựa vào cấu trúc và coi cấu trúc là căn bản, Giáo Hội gặp muôn vàn khó khăn. Chúng ta tiếp tục khai triển thêm để trả lời cho câu hỏi: ‘Đâu là nền tảng của Gia Đình Giáo Hội?’.

Trong bài giảng tại Đại Chủng Viện Palafox, Puebla de Los Angeles (Mexico), ngày 28 tháng 1 năm 1979, thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II nói rằng trong mầu nhiệm sâu thẳm nhất, Thiên Chúa không phải là Đấng cô độc, nhưng là Gia Đình, đồng thời, ngài cũng nhấn mạnh rằng căn tính Gia Đình Thiên Chúa là tình yêu. Giáo lý Chúa Ba Ngôi của Ki-tô Giáo cho chúng ta nhận thức rằng trong Gia Đình Thiên Chúa, không Ngôi nào hơn, không Ngôi nào kém: Ba Ngôi cùng một bản tính, phẩm giá, phân biệt về Ngôi Vị, đồng thời, Ba Ngôi luôn hiệp thông, luôn mở ra và luôn trao ban tình yêu vô tận. Chúa Cha chỉ có thể là mình đúng nghĩa trong sự hiệp thông với Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Chúa Con chỉ có thể là mình đúng nghĩa trong sự hiệp thông với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Tương tự như thế, Chúa Thánh Thần chỉ có thể là mình đúng nghĩa trong sự hiệp thông với Chúa Cha và Chúa Con. Gia Đình Chúa Ba Ngôi là khởi nguyên của gia đình thế giới thụ tạo, tuy nhiên, gia đình thế giới thụ tạo bị biến dạng và bất hòa hợp do sự bất tuân và lạm dụng tự do của con người. Niềm hi vọng của toàn thể nhân loại cũng như thế giới thụ tạo đạt đỉnh điểm trong Biến Cố Đức Ki-tô, Biến Cố bởi đó Gia Đình Chúa Ba Ngôi hiện diện và tiếp tục trong Giáo Hội.

Tại hội nghị đặc biệt năm 1994, các Giám Mục Châu Phi nói rằng Gia Đình Giáo Hội có nguồn gốc từ Chúa Ba Ngôi và Chúa Thánh Thần là mối dây hiệp thông trong Giáo Hội. Vì Giáo Hội như là gia đình, Chúa Cha đã đi bước trước trong việc tạo dựng A-đam. Vì Giáo Hội như là gia đình, Đức Ki-tô, A-đam Mới và Người Thừa Kế các dân tộc, thiết lập Giáo Hội bởi Mình và Máu Người. Vì Giáo Hội như là gia đình biểu lộ giữa lòng thế giới, Chúa Thánh Thần được Chúa Con gửi tới từ Chúa Cha để tất cả được thông hiệp với nhau.[6] Những ý tưởng của các Giám Mục Châu Phi gợi lên trong chúng ta căn tính, đời sống và vai trò của Giáo Hội trong việc diễn tả kinh nghiệm của mình về Gia Đình Chúa Ba Ngôi cho toàn thể nhân loại.[7]

Là hình ảnh của Gia Đình Chúa Ba Ngôi, Gia Đình Thiên Chúa, Giáo Hội giúp mọi người nhận thức rằng tương quan của tất cả mọi người trong nhân loại với Thiên Chúa không phải là tương quan được diễn tả bằng ngôn ngữ triết lý, trừu tượng, chẳng hạn, tương quan giữa con người với Đấng Tuyệt Đối, Đấng Tối Cao, Đấng Toàn Năng, nhưng là tương quan giữa con cái với Cha mình. Mặc khải Thiên Chúa là Cha đối với Dân Do Thái trong Cựu Ước và Thiên Chúa là Cha của Đức Giê-su Ki-tô và là Cha của tất cả mọi người trong Tân Ước là trọng tâm của nội dung đức tin Ki-tô Giáo mà Giáo Hội diễn tả, sống và loan truyền. Hành trình của Gia Đình Giáo Hội cũng chính là hành trình của Gia Đình Thiên Chúa đối với Dân Mới, Dân được Đức Giê-su Ki-tô cứu chuộc bằng chính Máu châu báu của mình.

Sự duy nhất và đa dạng của Chúa Ba Ngôi chính là nguồn gốc và khuôn mẫu cho sự duy nhất và đa dạng của Giáo Hội. Hiển nhiên, sự duy nhất và đa dạng của Chúa Ba Ngôi là sự duy nhất và đa đạng hoàn hảo, còn sự duy nhất và đa dạng của Giáo Hội là sự duy nhất và đa dạng được định hướng về sự hoàn hảo trong Chúa Ba Ngôi. Bao lâu, Giáo Hội còn trên đường lữ hành trần thế, bấy lâu Giáo Hội cần đến sự nâng đỡ của Chúa Ba Ngôi trong việc duy trì cách hòa hợp giữa tính duy nhất và đa dạng để Giáo Hội có thể thánh hóa nhân loại cũng như các thực thể trong thế giới thụ tạo.

Về mặt thực hành, Giáo Hội luôn ý thức rằng trong trường hợp có sự xung khắc giữa ‘duy nhất’ và ‘đa dạng’ thì ưu tiên hướng về duy nhất. Chẳng hạn, sự duy nhất về giáo lý phải là ưu tiên so với sự đa dạng trong cách hiểu giáo lý đó, bằng không, tính công giáo (catholicity) và tính toàn thể (universaltiy) của giáo lý Giáo Hội Công Giáo sẽ bị phương hại. Đó cũng là lý do giúp chúng ta hiểu tại sao trong Kinh Tin Kính không có câu ‘Giáo Hội đa dạng’. Không đề cập đến tính đa dạng trong Kinh Tin Kính, nhưng ai cũng nhận thức và kinh nghiệm thực trạng này của Giáo Hội. Giáo Hội luôn duy nhất trong đa dạng, do đó, vấn đề đặt ra không phải là Giáo Hội hoặc là duy nhất hoặc là đang dạng.

Giáo Hội diễn tả chính mình là Ít-ra-en Mới, là Dân Mới của Thiên Chúa. Ít-ra-en hay Dân Thiên Chúa cũ được thiết lập trên nền tảng đức tin của gia đình Áp-ra-ham với hậu duệ là mười hai chi tộc và toàn bộ con cái huyết tộc Ít-ra-en. Giáo Hội, Dân Thiên Chúa mới, được thiết lập trên nền tảng Đức Giê-su với hậu duệ là mười hai tông đồ và tất cả những ai đón nhận Đức Giê-su và thực thi giáo huấn của Người. Dân của Gia Đình Giáo Hội, Dân Thiên Chúa là tất cả những ai được sinh lại bởi Bí Tích Rửa Tội nhân danh Chúa Ba Ngôi.[8] Dân này cùng tuyên xưng rằng ‘chỉ có một thân thể, một Thần Khí, một niềm hy vọng, một Chúa, một niềm tin, một phép rửa, một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người’ (Ep 4,4-6).[9]

Như đã được đề cập ở trên, trong sứ mệnh của mình, Đức Giê-su bày tỏ cho các môn đệ rằng họ không chỉ là con cái của những gia đình đơn lẻ ở trần gian, mà còn là con cái của cùng một Cha ở trên trời. Điều này được Đức Giê-su minh chứng và thực hiện trong hành trình rao giảng của Người. Các môn đệ sống với gia đình mới của Đức Giê-su như là những anh em trong một nhà. Họ cũng nhận thức sự khác biệt giữa họ và Đức Giê-su so với những phe nhóm, tổ chức hay các hội đoàn đương thời. Họ được Đức Giê-su mặc khải rằng Người là Thầy, là Chúa, là Bạn Hữu của họ (Ga 13,13; Ga 15,15). Những lời trăng trối của Đức Giê-su trước khi bước vào cuộc khổ nạn biểu lộ tình yêu tận cùng của Người đối với họ hơn cả tình yêu của người trong gia đình đối với thân quyến trước khi đi xa.

Đức Giê-su đi vào lịch sử để con người làm quen với Thiên Chúa và Người thiết lập Gia Đình Giáo Hội để con người làm quen với Gia Đình Thiên Chúa. Hoa trái của Biến Cố Đức Ki-tô là chính Giáo Hội, gia đình được tái tạo. Trong nhãn quan của thánh Phao-lô, Đức Giê-su thiết lập Gia Đình Giáo Hội để đón nhận mặc khải, sống mặc khải và chuyển tải mặc khải đến với tất cả mọi người. Giáo Hội tiếp tục sự hiện diện của Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa ở trần gian. Giáo Hội minh chứng rằng Con Thiên Chúa sinh ra từ gia đình, sống trong bầu khí gia đình, chết trong bầu khí gia đình, Phục Sinh trong bầu khí gia đình và thiết lập Giáo Hội như là gia đình để tiếp tục công trình cứu độ của Người. Như thế, ‘dấu ấn gia đình’ không khi nào vắng bóng hay đứt quãng trong Biến Cố Đức Ki-tô giữa lòng nhân loại từ Nhập Thể tới Phục Sinh. Gia đình Thiên Chúa tiếp tục hiện diện và hoạt động giữa lòng nhân thế trong Gia Đình Giáo Hội.[10]

Gia Đình Giáo Hội vừa đề cao tương quan cá nhân, vừa đề cao tương quan cộng đoàn. Trên bình diện cá nhân, các tín hữu được mời gọi đi vào sự hiệp thông thân tình với Thiên Chúa. Mối tương quan giữa họ với Thiên Chúa là mối tương quan liên vị. Trên bình diện cộng đoàn, gia đình Đức Giê-su thiết lập đòi hỏi mọi người chung tay xây dựng đời sống cộng đoàn. Các thành phần trong cộng đoàn được liên kết với nhau chặt chẽ hơn các thành phần trong các tổ chức hay hội đoàn khác. Các thành phần trong cộng đoàn làm nên Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Ki-tô mà mỗi người là chi thể. Các chi thể cần cho nhau như các bộ phận trong một thân thể cần cho nhau vậy. Trong thân thể này, Đức Giê-su vừa là đầu, vừa là toàn thể. Điều này được thánh Phao-lô diễn tả mạch lạc rằng “Người cũng là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh” (Cl 1,18) và rằng “cũng như trong một thân thể, chúng ta có nhiều bộ phận, mà các bộ phận không có cùng một chức năng, thì chúng ta cũng vậy: tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể trong Đức Ki-tô, mỗi người liên đới với những người khác như những bộ phận của một thân thể” (Rm 12,4-5). Chính Đức Giê-su Ki-tô trao ban, nuôi dưỡng và làm tăng trưởng sự sống của các thành phần trong thân thể Người.

Ngôn ngữ Giáo Hội là ngôn ngữ gia đình. Do đó, nói rằng ‘chúng ta là con cái trong Gia Đình Giáo Hội’ xem ra phù hợp với kinh nghiệm của chúng ta hơn nói rằng ‘chúng ta là những người trong cộng đoàn Giáo Hội’. Nói rằng ‘chúng ta là con cái Thiên Chúa’ xem ra phù hợp với kinh nghiệm chúng ta hơn nói rằng ‘chúng ta được Thiên Chúa tạo dựng’. Nói rằng ‘chúng ta là em của Đức Giê-su’ xem ra phù hợp hơn nói rằng ‘Đức Giê-su là Vua chúng ta’. Tương tự như thế, nói rằng ‘toàn thể gia đình thế giới thụ tạo ngóng trông sự hòa nhập trong Gia Đình Thiên Chúa’ xem ra phù hợp hơn nói rằng ‘vũ trụ sẽ được biến đổi trọn vẹn bởi Thiên Chúa trong thời cánh chung’.

Mầu nhiệm gia đình Na-da-rét cũng chính là mầu nhiệm của Gia Đình Giáo Hội. Điều này có nghĩa là những khó khăn, trăn trở của những người trong gia đình Na-da-rét cách đây hơn hai ngàn năm cũng chính là những khó khăn, trăn trở của con cái Giáo Hội trong thế giới hôm nay, có khác chăng cũng là hình thức và mức độ. Như thế, bao lâu Giáo Hội còn trên đường lữ hành, bấy lâu Giáo Hội còn đương đầu với nhiều gian truân, bất cập, thách đố. Quãng đường từ làng quê Na-da-rét tới kinh thành Giê-ru-sa-lem không xa xôi lắm, tuy nhiên, hành trình của Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem là hành trình khó khăn, đau khổ: Hành trình đúc kết lịch sử mỗi cá nhân, lịch sử Giáo Hội của Người, lịch sử nhân loại, lịch sử vũ trụ từ đau khổ tới vinh quang trong Nước Thiên Chúa viên mãn.

Gia Đình Giáo Hội chính là Nước Thiên Chúa ở trần gian, Nước gắn liền với Biến Cố Đức Ki-tô và tiếp tục hiện diện giữa lòng nhân loại. Nước Thiên Chúa không thể hiện bằng trương độ nhưng bằng những giá trị vĩnh cửu. Đức Giê-su nói rằng người ta không thể chỉ Nước Thiên Chúa ở đây hay ở kia, nhưng những ai đón nhận Người và sống theo giáo huấn của Người thì trở thành công dân của Nước này. Khi những người Pha-ri-sêu hỏi Đức Giê-su bao giờ Nước Thiên Chúa đến thì Người trả lời: “Nước Thiên Chúa không đến như một điều có thể quan sát được. Và người ta sẽ không nói: ‘Ở đây này!’ hay ‘Ở kia kìa!’, vì này Nước Thiên Chúa đang ở giữa các ông” (Lc 17,19-21). Nước Thiên Chúa ở giữa nhân loại, nhưng câu hỏi đặt ra: ‘Có chăng toàn thể mọi người trong nhân loại ở trong Nước Thiên Chúa?’ Đây là câu hỏi lớn cho Giáo Hội cũng như con cái Giáo Hội.

Như là Gia Đình Thiên Chúa hay Nước Thiên Chúa ở trần gian, Giáo Hội luôn là thực thể năng động và tiến triển giữa những mưu mô ác độc của ma quỉ và thế lực sự dữ. Ý thức mình là dấu chỉ và khí cụ của Nước Thiên Chúa, Giáo Hội không bao giờ dừng lại để ‘chiêm ngắm mình’ nhưng là chiêm ngắm Nước Thiên Chúa. Bao lâu Giáo Hội trên đường lữ hành cùng với các thực thể khác trong thế giới thụ tạo, bấy lâu Giáo Hội không đánh mất ý thức sự cần thiết của ơn lành từ Thiên Chúa. Do đó, Giáo Hội không ngừng dạy bảo con cái mình luôn tin tưởng cậy trông vào Thiên Chúa. Giáo Hội không ngừng giúp con cái mình biết hướng về phía trước, biết nhìn xa trông rộng hơn những gì hiện tại và biết mở rộng cửa lòng cho sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa.

Giáo Hội vừa như là Gia Đình Thiên Chúa giữa thế gian, vừa là Mẹ và là Hiền Thê của Đức Ki-tô. Do đó, Giáo Hội hoàn toàn lệ thuộc vào Đức Ki-tô. Ánh mắt, con tim và toàn bộ cuộc sống của Giáo Hội dõi theo Đức Ki-tô để nhờ Đức Ki-tô hướng dẫn, Giáo Hội có đủ năng lực để tồn tại và phát triển bền vững giữa thế gian. Gia sản của Giáo Hội thuộc Gia Đình Thiên Chúa, do đó, Giáo Hội không thể tầm thường hóa mình trong những gì thuộc về thế gian. Điều này được Đức Giê-su tỏ bày cách thân thương và sâu nhiệm cùng Chúa Cha trong những giây phút cuối cùng trước khi bước vào cuộc khổ nạn (Ga 17,12-19). Trên đường lữ hành, Giáo Hội diễn tả căn tính, đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội cho tất cả mọi người trong khi vẫn luôn thi hành đầy đủ bổn phận đối với con cái mình.

b. Gia Đình Giáo Hội thông ban sự sống và nuôi dưỡng con cái mình

Giáo Hội được mời gọi để thông ban sự sống, phục vụ sự sống và mở ra cho sự sống.[11] Như đã được đề cập ở trên, Gia Đình Giáo Hội được hình thành với Biến Cố Thập Giá khi người lính lấy lưỡi đòng đâm thâu cạnh sườn Đức Giê-su, máu và nước chảy ra trước sự chứng kiến của Đức Ma-ri-a và người môn đệ Chúa yêu. Hình ảnh nước và máu là hình ảnh của Bí Tích Rửa Tội và Bí Tích Thánh Thể, trong đó, Bí Tích Rửa Tội là bí tích nhờ đó người lãnh nhận trở thành con cái trong Gia Đình Giáo Hội, còn Bí Tích Thánh Thể là bí tích nhờ đó con cái Gia Đình Giáo Hội được nuôi dưỡng bằng chính Mình và Máu Đức Giê-su Ki-tô. Cả hai bí tích này diễn tả tình yêu của Thiên Chúa đối với con người, tình yêu Thiên Chúa tha thứ tội lỗi và tình yêu nuôi dưỡng con người bằng của ăn thiêng liêng.[12]

Kinh Thánh Tân Ước nói về việc cần thiết của Bí Tích Rửa Tội để trở thành con cái trong Gia Đình Giáo Hội. Thánh Mát-thêu trình bày lời của Đức Giê-su căn dặn các môn đệ mình sau khi Phục Sinh rằng “anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19). Còn thánh Gio-an nói về việc thánh Gio-an Tẩy Giả thực hành Phép Rửa kêu gọi sự ăn năn thống hối (Ga 1,24-28; Ga 3,22–23; Ga 10,40–41). Thánh Gio-an Tẩy Giả cũng đề cập đến việc Đức Giê-su làm Phép Rửa trong Thánh Thần (Ga 1,33). Đặc biệt, trong cuộc đối thoại với Ni-cô-đê-mô, Đức Giê-su khẳng định việc ‘sinh ra một lần nữa bởi ơn trên’, ‘sinh ra bởi nước và Thần Khí’ (Ga 3,2-8).

Trong sứ mệnh của mình, ngay từ buổi sơ khai, các Tông Đồ Đức Giê-su đã thực hành việc thông ban sự sống thần linh cho những người gia nhập Gia Đình Giáo Hội qua việc cử hành Bí Tích Rửa Tội. Thánh Phê-rô nói với các tín hữu sơ khai về hình ảnh gia đình ông Nô-ê được cứu thoát khỏi nước lũ rằng “nước đó là hình bóng phép rửa nay cứu thoát anh em. Lãnh nhận phép rửa, không phải là được tẩy sạch vết nhơ thể xác, mà là cam kết với Thiên Chúa sẽ giữ lương tâm trong trắng, nhờ sự phục sinh của Đức Giê-su Ki-tô” (1 Pr 3,21). Chúng ta gặp nhiều trình thuật về việc các môn đệ Đức Giê-su cử hành Bí Tích Rửa Tội (Cv 3,28; Cv 8,12; 1 Cr 12,13; Tt 3,5). Như thế, ngay từ buổi đầu, Giáo Hội đã ý thức về sự cần thiết của Bí Tích Rửa Tội trong việc thông ban sự sống cho con cái mình. Giáo Hội ý thức rằng nhờ Bí Tích Rửa Tội, người lãnh nhận được tháp nhập vào Gia Đình Giáo Hội. Họ trở thành thành phần của Giáo Hội và góp phần mình cho sự tăng trưởng của Giáo Hội về mọi mặt.

Việc cử hành bí tích này đặt nền tảng trên sự nhận thức rằng mỗi người sinh ra ở trần gian này đều mang tội lỗi của gia đình đầu tiên, gia đình A-đam và E-và. Để gia nhập gia đình mới, Gia Đình Giáo Hội, Gia Đình Thiên Chúa, họ phải được tẩy rửa tội lỗi để trở nên những thụ tạo mới. Giáo Hội cho con cái mình biết rằng mỗi người sinh ra trong trần gia này là hồng ân cao quí, tuy nhiên, được tái sinh trong Gia Đình Giáo Hội lại là hồng ân cao quí hơn. Người lãnh nhận Nhờ Bí Tích Rửa Tội thuộc về Gia Đình Thiên Chúa ở trần gian là chính Giáo Hội, trong khi vẫn thuộc gia đình huyết thống của mình. Nhờ Bí Tích Rửa Tội, cuộc sống của họ được sung mãn hơn vì được thông phần ân sủng dồi dào của Thiên Chúa qua Gia Đình Giáo Hội.

Là thành phần trong gia đình của Dân Thiên Chúa mới, những người lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội được hiệp thông với Thiên Chúa và hiệp thông với anh chị em mình. Đồng thời, họ được trở nên thành phần trong Nhiệm Thể Đức Ki-tô và Đền Thờ Chúa Thánh Thần. Cùng nhau, họ tham dự các buổi cầu nguyện, cử hành phụng vụ để diễn tả căn tính và đời sống mình, đặc biệt, cùng nhau họ cử hành các bí tích, nhất là Bí Tích Thánh Thể để lãnh nhận của ăn thiêng liêng nuôi sống họ trên đường lữ hành. Ở đâu Bí Tích Thánh Thể được cử hành ở đó có Gia Đình Giáo Hội, ở đâu có Gia Đình Giáo Hội, ở đó có Gia Đình Thiên Chúa. Như thế, Gia Đình Giáo Hội, Gia Đình Thiên Chúa không còn lệ thuộc vào điều kiện địa lý hay xã hội, nhưng hiện diện bất cứ nơi đâu Bí Tích Thánh Thể được cử hành.

Các Tin Mừng Nhất Lãm đều trình bày việc Đức Giê-su lập Bí Tích Thánh Thể trong bối cảnh gia đình, trước khi Người bước vào cuộc khổ nạn (Mt 26,25-29; Mc 14,22-25; Lc 22,19-20). Thánh Phao-lô cũng tường thuật cách cặn kẽ việc Đức Giê-su thiết lập bí tích này (1 Cr 11,23-25). Thánh Gio-an không trình bày việc Đức Giê-su thiết lập Bí Tích Thánh Thể như các tác giả Tin Mừng Nhất Lãm. Theo ý kiến của một số nhà chú giải Kinh Thánh, thánh Gio-an viết Tin Mừng vào những năm cuối thế kỷ thứ nhất, sau khi đã có các bản văn của Tin Mừng Nhất Lãm, ưu tiên của thánh Gio-an là những điều mới mẻ khởi đi từ suy tư và kinh nghiệm của mình, người môn đệ Chúa yêu. Vào thời điểm thánh nhân viết Tin Mừng, các tín hữu đã làm quen với việc cử hành Bí Tích Thánh Thể. Điều đáng chúng ta quan tâm về Bí Tích Thánh Thể theo thánh Gio-an là trình thuật của thánh nhân trong ‘Diễn Từ Bánh Trường Sinh’ (Ga 6,1-15.22-66). Chẳng hạn, “ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy… Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời” (Ga 6,54-58). Trong Diễn Từ này, Đức Giê-su bày tỏ mình như là Mô-sê mới và chính Người là Man-na mới, Man-na đích thực, Man-na vĩnh cửu của Gia Đình Thiên Chúa ở trần gian. Người cũng là Đấng ‘khơi nguồn sự sống’, đồng thời, là Đấng nuôi sống muôn người (Cv 3,15).

Đối với thánh Gio-an, thay vì tường thuật việc Đức Giê-su thiết lập Bí Tích Thánh Thể trong bữa ăn tối, bữa ăn cuối cùng giữa Đức Giê-su và các môn đệ của Người, thánh nhân tường thuật tinh thần phục vụ lẫn nhau trong gia đình của những người theo Đức Giê-su Ki-tô. Chính trong bữa ăn cuối cùng này, Đức Giê-su quì xuống rửa chân cho các môn đệ. Cũng trong bữa ăn này, Đức Giê-su mặc khải cho các ông ‘giới răn mới’: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34).

Hai bài học quan trọng cho những ai thuộc gia đình Đức Giê-su Ki-tô và được nuôi dưỡng bởi Mình và Máu của Người là (1) khiêm nhường phục vụ anh chị em mình và (2) thương yêu anh chị em mình như chính Đức Giê-su đã yêu thương. Trong thực tế, chúng ta thấy rằng ai trong chúng ta cũng có thể thực hiện được một số cử chỉ khiêm nhường, tuy nhiên, khiêm nhường như Đức Giê-su, Vị Thiên Chúa cúi xuống rửa chân cho môn đệ mình là điều không thể tưởng nỗi. Tương tự như thế, ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm về tình yêu, tuy nhiên, yêu như Đức Giê-su yêu, yêu đến nỗi hi sinh mạng sống vì người mình yêu, là điều vượt quá khả năng chúng ta. Khiêm nhường và yêu thương như Đức Giê-su luôn là khuôn mẫu tối thượng cho tất cả con cái trong Gia Đình Giáo Hội cũng như toàn thể nhân loại qua muôn thế hệ. Ai khiêm nhường như Đức Giê-su thì cũng yêu thương như Người và ngược lại, ai yêu thương như Đức Giê-su thì cũng khiêm nhường như Người. Đối với Đức Giê-su, khiêm nhường và yêu thương trở nên một. Mục đích của việc Đức Giê-su thiết lập Bí Tích Thánh Thể là cho tất cả mọi người trong Gia Đình Giáo Hội không chỉ lãnh nhận những ân sủng do Người ban tặng mà còn lãnh nhận chính mình Người để ngày càng được Người biến đổi nhiều hơn.

Với Bí Tích Thánh Thể, tình yêu của Đức Giê-su Ki-tô, Đấng hôm qua, hôm nay và luôn mãi được biểu lộ.[13] Đức Giê-su ban tặng chính mình Người cho tất cả con cái Gia Đình Giáo Hội. Bí tích này lôi kéo tất cả mọi người trong Gia Đình Giáo Hội đến với Người và đến với nhau, đồng thời, nhắc nhở mọi người rằng lối sống gia đình phải là lối sống ưu tiên hơn các lối sống khác trong xã hội loài người. Các thành phần trong Gia Đình Giáo Hội chỉ có thể là mình khi biết ‘ra khỏi mình’ để sống cho người khác theo khuôn mẫu của các Ngôi Vị Thiên Chúa. Giáo Hội xét như là một gia đình chỉ có thể là mình thực thụ khi biết trông cậy hoàn toàn vào Thiên Chúa và khi mọi người sống với nhau và cho nhau trong tình anh em.

Vương Quốc Thiên Chúa được trình bày qua hình ảnh tất cả mọi người đều chung nhau trong bữa tiệc cánh chung, bữa tiệc gia đình.[14] Như đã được đề cập ở trên, khởi thủy của Bí Tích Thánh Thể chính là bữa ăn cuối cùng giữa Đức Giê-su và các môn đệ của Người, trước khi Đức Giê-su bước vào cuộc khổ nạn. Chính Bí Tích Thánh Thể là bữa tiệc của Gia Đình Thiên Chúa ở trần gian, trong đó, mọi người được nếm thử bữa tiệc vĩnh cửu trong Nước Thiên Chúa, bởi vì, họ được nhận lấy Đức Giê-su, được liên kết với Người và anh chị em mình một cách mật thiết nhất. Đồng thời, cùng nhau họ chia sẻ niềm hi vọng vào ‘bữa tiệc vĩnh cửu’ trong trời mới đất mới khi Thiên Chúa qui tụ và đổi mới muôn vật muôn loài trong Con yêu dấu của Người, Đức Giê-su Ki-tô.

Như thế, dấu chỉ rõ nét nhất của Giáo Hội như là gia đình được thể hiện qua việc cử hành Bí Tích Thánh Thể. Các thành phần trong Gia Đình Giáo Hội cùng nhau qui tụ trong tinh thần cầu nguyện, đọc Lời Chúa và suy niệm Lời Chúa. Họ hiệp thông, chia sẻ với nhau trong cùng một Bánh và một Chén, chính là Mình và Máu Đức Giê-su Ki-tô. Trong Bí Tích Thánh Thể, họ được rước lấy Đức Giê-su Ki-tô, cũng chính là rước lấy Gia Đình Giáo Hội trong đó mình là thành phần. Ở đây, Giao Ước Sự Sống Vĩnh Cửu được cử hành, được chia sẻ, được lãnh nhận. Hơn thế nữa, cộng đoàn cử hành Bí Tích Thánh Thể cũng là cộng đoàn sống hiệu quả của bí tích này cách đầy đủ nhất. Tác giả Sách Công Vụ Tông Đồ kể rằng “tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai, của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu. Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ. Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ. Họ ca tụng Thiên Chúa và được toàn dân thương mến. Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ” (Cv 2,44-47).

Giáo Hội cho con cái mình biết rằng hơn cả các thành phần trong gia đình nữa, họ là các bộ phận của cùng thân thể hay nói như thánh Phao-lô rằng các Ki-tô hữu ‘là phần thân thể của nhau’ (Ep 4,25).[15] Do đó, bổn phận của họ là nâng đỡ nhau trong mọi hoàn cảnh. Về phần mình, Giáo Hội luôn quan tâm đến mọi người trong gia đình mình, đặc biệt những người khó khăn, thiếu thốn nhu cầu vật chất cũng như tinh thần. Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đích-tô XVI nói rằng, là Gia Đình Thiên Chúa ở trần gian, trong khi thi hành tác vụ diễn tả tình yêu hoàn vũ của Thiên Chúa, Giáo Hội đặc biệt quan tâm đến các thành phần con cái mình và không để bất cứ ai trong con cái mình phải túng thiếu. Để diễn tả rõ hơn điều này, Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đích-tô XVI trích dẫn Thư thánh Phao-lô gửi tín hữu Ga-lát rằng “bao lâu còn thời giờ, chúng ta hãy làm điều thiện cho mọi người, nhất là cho những anh em trong cùng đại gia đình đức tin” (Gl 6,10).[16] Như thế, việc cử hành Bí Tích Thánh Thể đi đôi với việc thực thi công lý, công bình và bác ái.

Giáo Hội vừa như là Gia Đình Thiên Chúa ở trần gian, vừa là Thầy và là Mẹ đối với toàn thể con cái mình.[17] Trong tư cách là Thầy, Giáo Hội không ngừng dạy bảo con cái mình dựa trên nội dung đức tin đã được Thiên Chúa ủy thác để suy tư, khai triển và áp dụng. Giáo Hội chỉ cho con cái mình đâu là những hiểm nguy tiềm tàng có thể phương hại đức tin chân chính của họ. Giáo Hội luôn đặt mình dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần và nhờ Chúa Thánh Thần, Giáo Hội thi hành sứ vụ của mình cách trung tín nhất. Trong tư cách là Mẹ, Giáo Hội luôn gần gũi con cái mình để nhận biết, để cảm thông, để đồng hành, để nâng đỡ con cái mình trong mọi hoàn cảnh, đặc biệt, trong những lúc con cái mình gặp khó khăn thiếu thốn. Giáo Hội, người Mẹ khôn ngoan và dồi dào kinh nghiệm biết trao ban những gì tốt đẹp nhất nhằm làm cho cuộc sống con cái mình luôn được bình an giữa những khó khăn của cuộc sống hằng ngày.

Giáo Hội là nơi con cái mình cùng chia sẻ những buồn vui và hi vọng. Giáo Hội cũng là nơi con cái mình nhận thức tầm quan trọng của bản thân và tầm quan trọng của người khác cũng như sẵn sàng nâng đỡ nhau trong cuộc sống. Giáo Hội luôn ý thức về căn tính và phẩm giá của con cái mình, đồng thời, Giáo Hội cũng biết rằng con cái mình là những người yếu đuối, lầm lỡ và tội lỗi cần được sửa dạy. Giáo Hội hiểu rằng những vấn đề nảy sinh liên quan đến con cái mình không chỉ được giải quyết dựa vào ngôn ngữ Giáo Luật, mà còn dựa vào ngôn ngữ Kinh Thánh, ngôn ngữ mục vụ và đặc biệt ngôn ngữ gia đình nữa. Chúng ta có kinh nghiệm rằng ưu tiên trong hành động của cha mẹ đối với con cái là yêu thương. Do đó, khi con cái lầm lỗi, bổn phận của cha mẹ là đưa con cái trở về ‘đường ngay nẻo chính’ hơn là dựa vào những luật lệ định sẵn để áp dụng cho con cái hay phó thác con cái cho pháp luật dân sự hay bất cứ hình thức pháp luật nào khác. Đây cũng là phương cách mà Thiên Chúa đã áp dụng với Dân Người trong Cựu Ước, trong đó, Thiên Chúa không phó thác Dân Người cho các thế lực bên ngoài, nhưng rộng lòng tha thứ và đón nhận Dân Người trở về quĩ đạo yêu thương của Người.

Trong khi sinh hạ con cái mình nhờ Bí Tích Rửa Tội, nuôi dưỡng con cái mình nhờ Bí Tích Thánh Thể và thánh hóa con cái mình qua các bí tích khác, Giáo Hội đồng hành với con cái mình trên mọi nẻo đường. Giáo Hội luôn ý thức rằng mình được mời gọi để không ngừng trao ban sự sống cho tất cả mọi người. Dĩ nhiên, đây không phải là sự sống tự thân, nghĩa là sự sống bởi chính Giáo Hội mà là sự sống của Thiên Chúa được trao ban cho nhân loại thông qua Giáo Hội. Trong khi thi hành các tác vụ giảng dạy, quản trị và thánh hóa, Giáo Hội đặc biệt quan tâm đến gia đình của con cái mình, bởi vì, gia đình con cái mình chính là môi trường diễn tả căn tính, đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội cách cụ thể nhất.

c. Gia Đình Giáo Hội chăm sóc mục vụ gia đình con cái mình

Như đã được đề cập ở trên, Giáo Hội nhận thức rằng theo mặc khải Kinh Thánh khi nam nữ kết hợp với nhau, họ không chỉ nên một xương một thịt mà còn nên một gia đình.[18] Giáo Hội vừa đóng vai trò quan trọng trong việc khai sinh gia đình con cái mình nhờ Bí Tích Hôn Nhân, vừa phục vụ gia đình con cái mình trong suốt hành trình sống của họ. Phục vụ gia đình con cái mình luôn là ưu tiên trong đời sống Giáo Hội, bởi vì, gia đình con cái mình diễn tả tình yêu Thiên Chúa cách cụ thể trong môi trường thụ tạo.

Trong Tông Huấn Familiaris Consortio, thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II nói rằng “gia đình có sứ mệnh gìn giữ, biểu lộ, thông truyền tình yêu và đây là sự phản chiếu sinh động và chia sẻ đích thực tình yêu Thiên Chúa cho nhân loại và tình yêu của Đức Ki-tô cho Giáo Hội, Hiền Thê của Người.”[19] Với Thông Điệp Deus Caritas Est, Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đích-tô XVI diễn tả cách khúc chiết rằng tình yêu mang nhiều hình thức khác nhau, tuy nhiên, tình yêu giữa người nam và người nữ khi hồn xác của họ liên kết với nhau bất khả phân ly trở thành mẫu hình cho các hình thức tình yêu khác.[20] Cũng trong Thông Điệp này, Đức Giáo Hoàng nói rằng “hôn nhân đặt nền tảng trên tình yêu đơn nhất và dứt khoát trở thành hình ảnh của tương quan giữa Thiên Chúa và Dân Người và ngược lại. Cách thức Thiên Chúa yêu thương trở thành tiêu chuẩn cho tình yêu nhân loại.”[21]

Giáo Hội không ngừng dạy bảo con cái mình rằng nhờ tình yêu Thiên Chúa tạo dựng gia đình nhân loại. Cộng đoàn đầu tiên này là cộng đoàn thông hiệp sự sống của Thiên Chúa và được mời gọi cộng tác với Thiên Chúa trong việc trao ban sự sống, trao ban tình yêu. Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II nhấn mạnh rằng “con người không thể sống mà không có tình yêu. Con người vẫn là hữu thể không hiểu được đối với chính mình, cuộc sống con người vô nghĩa, nếu con người không nhận được mặc khải tình yêu, nếu con người không gặp gỡ tình yêu, nếu con người không kinh nghiệm tình yêu và sở đắc tình yêu, nếu con người không tham dự cách mật thiết vào tình yêu.”[22] Tình yêu mà thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II nói ở đây là tình yêu Thiên Chúa, tình yêu vĩnh cửu, tình yêu sáng tạo, tình yêu mà con người vừa có thể cảm nghiệm được, vừa luôn khao khát trong hành trình trần thế của mình.

Giáo Hội, hình ảnh Chúa Ba Ngôi có hình thức cụ thể nơi gia đình con cái mình. Điều này đã được thể hiện qua giáo huấn của Giáo Hội cùng những khai triển của nhiều thần học gia. Trong Tông Huấn Giáo Hội Châu Đại Dương Ecclesia in Oceania, thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II nói rằng gia đình là hình ảnh sự hiệp thông khôn dò của Chúa Ba Ngôi.[23] Như đã được đề cập ở trên rằng con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa không chỉ trên bình diện cá nhân, mà còn trên bình diện cộng đoàn, bình diện gia đình nữa. Gia đình mang trong mình dấu ấn của Đấng Sáng Tạo và là hình ảnh yêu thương của Thiên Chúa Ba Ngôi. Các cá nhân riêng lẻ trong gia đình không thể diễn tả mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi cách đầy đủ bằng sự kết hợp giữa họ. Cũng như Chúa Thánh Thần là Tình Yêu của Chúa Cha và Chúa Con, con cái là tình yêu của người chồng và người vợ. Chúa Thánh Thần liên kết Chúa Cha và Chúa Con, con cái liên kết người chồng và người vợ. Gia đình được xem là hình ảnh tốt nhất cho phép chúng ta tiếp cận mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, mầu nhiệm của sự duy nhất trong đa dạng trọn hảo.

Sự nên một của A-đam và E-và, sự nên một của Đức Ki-tô và Giáo Hội và sự nên một của chồng và vợ trong gia đình liên kết chặt chẽ với nhau để trao ban sự sống, trao ban tình yêu và trao ban hi vọng. Giáo Hội ý thức rằng người nam và người nữ là những người phân biệt nhau, nhưng trong bối cảnh gia đình, họ là chồng, là vợ, họ trở nên một thân xác, cái ‘tôi’ của mỗi người tìm được trong cái ‘chúng ta’ của gia đình. Khi trở thành ‘chúng ta’, thực thể này trổ sinh hoa trái và cùng với con cái, ‘chúng ta’ của gia đình ngày càng lớn mạnh hơn. Những ‘người khác’ trong gia đình phân biệt với những ‘người khác’ trong các tổ chức dân sự, chính trị, xã hội. Tình liên đới, tình yêu thương của các thành phần trong gia đình phân biệt với tình liên đới, tình yêu thương của những ‘người khác’ không thuộc gia đình.

Tầm quan trọng của gia đình luôn được Giáo Hội đề cao và bảo vệ. Trong Thông Điệp Centesimus Annus, thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II nói: “Thật là cần thiết để nhìn nhận gia đình như là cung thánh của cuộc sống. Gia đình thực sự là thánh thiêng: Đó là nơi mà sự sống – quà tặng của Thiên Chúa – có thể được đón nhận cách đúng đắn cũng như được bảo vệ khỏi những cuộc tấn công phá hủy và có thể phát triển phù hợp nhằm làm cho con người trưởng thành đích thực. Đối diện với văn hóa sự chết, gia đình là trung tâm văn hóa sự sống.”[24] Với Giáo Hội, bảo vệ sự toàn vẹn gia đình theo mặc khải Ki-tô Giáo như là bảo vệ chính Giáo Hội vậy, bởi vì, như đã được đề cập ở trên rằng căn tính, đời sống và sứ mệnh của Gia Đình Giáo Hội thể hiện nơi căn tính, đời sống và sứ mệnh của gia đình con cái mình.

Tân Ước cho chúng ta biết rằng gia đình chính là thực tại đầu tiên, địa chỉ đầu tiên của Đấng Em-ma-nu-en, Con Thiên Chúa Nhập Thể, Đức Giê-su Ki-tô. Gia đình con cái Giáo Hội là địa chỉ đầu tiên đón nhận, sống và diễn tả các giá trị Tin Mừng cũng như công bố nội dung đức tin của Giáo Hội. Tác giả Sách Công Vụ Tông Đồ tường thuật rằng “mỗi ngày, trong Đền Thờ và tại tư gia, các ông không ngừng giảng dạy và loan báo Tin Mừng về Đức Ki-tô Giê-su” (Cv 5,42). Thánh Phao-lô giải bày với các Ki-tô hữu sơ khai rằng “anh em biết tôi đã không bỏ qua một điều gì có ích cho anh em; trái lại tôi đã giảng cho anh em và dạy anh em ở nơi công cộng cũng như tại chốn tư gia” (Cv 20,20) hay “tôi còn làm phép rửa cho gia đình Tê-pha-na nữa. Ngoài ra, tôi không biết có làm phép rửa cho ai khác nữa hay chăng” (1 Cr 1,16). Thánh Phao-lô còn quan tâm đến từng cá nhân trong các gia đình, chẳng hạn, “các Hội Thánh A-xi-a gửi lời chào anh em. A-qui-la và Pơ-rít-ca cùng với Hội Thánh họp tại nhà họ gửi lời chào anh em trong Chúa” (1 Cr 16,19) hay “Phao-lô, kẻ bị tù vì Đức Ki-tô Giê-su, cùng với người anh em là Ti-mô-thê, gửi anh Phi-lê-môn, cộng sự viên thân mến của chúng tôi, cùng chị Áp-phi-a và anh Ác-khíp-pô, chiến hữu của chúng tôi, đồng thời kính gửi Hội Thánh họp tại nhà anh” (Plm 1-2). Một lần nữa, chúng ta cần lặp lại rằng mô hình chính yếu của Giáo Hội sơ khai là gia đình chứ không là gì khác. Mô hình gia đình này không chỉ hiện diện ở Palestine mà còn nhiều nơi quanh vùng Địa Trung Hải.[25]

Theo Công Đồng Vatican II, “chính gia đình đã lãnh nhận từ Thiên Chúa sứ mệnh trở nên tế bào đầu tiên và sống động của xã hội. Gia đình sẽ chu toàn được sứ mệnh đó nếu gia đình tỏ ra như một đền thờ của Giáo Hội trong nhà mình nhờ yêu thương nhau và cùng nhau dâng lời cầu nguyện lên Thiên Chúa.”[26] Trong Tông Huấn Ecclesia in Asia, thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II nói rằng gia đình là nơi sự thật của Tin Mừng trở thành chuẩn mực cho đời sống của những người trong đó. Cũng theo Tông Huấn Ecclesia in Asia, gia đình không chỉ là đối tượng của việc truyền giáo, tái truyền giáo, chăm sóc mục vụ của Giáo Hội mà còn là nhân tố của việc truyền giáo. Những người trong gia đình được mời gọi làm chứng cho Tin Mừng giữa những khó khăn của cuộc sống.[27] Gia đình làm cho Đức Giê-su Ki-tô và Tin Mừng của Người được tiếp cận, được lắng nghe, được suy niệm, được thực hành trong những hoàn cảnh cụ thể.[28]

Lịch sử Giáo Hội luôn đề cao vai trò của gia đình, bởi vì, như Công Đồng Vatican II nhấn mạnh: ‘Gia đình như một Giáo Hội nhỏ’, Giáo Hội tại gia (ecclesia domestica).[29] Giáo Hội và gia đình định dạng lẫn nhau. Giáo Hội hiện diện và hoạt động nơi giáo hội tại gia và làm cho giáo hội tại gia trở thành những viên đá sống động xây nên Giáo Hội như là Gia Đình Thiên Chúa. Giáo hội tại gia ý thức rằng căn tính và đời sống của mình được diễn tả đúng nghĩa chỉ khi hiệp thông với Giáo Hội như là Gia Đình Thiên Chúa. Nói cách rõ hơn, giáo hội tại gia không phải là thực thể độc lập, nhưng là thực thể liên đới và hiệp thông với Giáo Hội như là Gia Đình Thiên Chúa, Gia Đình Giáo Hội hoàn vũ.[30]

Trong bối cảnh thế giới hôm nay, giữa những bão táp phương hại đến căn tính hôn nhân gia đình, Giáo Hội khẳng định sự bất khả phân ly vợ chồng theo giáo huấn Đức Giê-su. Khi những người Pha-ri-sêu hỏi Đức Giê-su về sự ly dị, Người trả lời họ rằng vợ chồng trong giao ước hôn nhân trở nên ‘một xương một thịt (Mt 19,5) và rằng ‘sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly’ (Mt 19,6). Những người Pha-ri-sêu viện cớ Mô-sê cho phép ly dị để bắt bẻ Đức Giê-su và Người trả lời họ rằng “vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Mô-sê đã cho phép các ông rẫy vợ, chứ thuở ban đầu, không có thế đâu” (Mt 19,8). Đối với thánh Phao-lô, gia đình Ki-tô Giáo đặt nền tảng yêu thương trên khuôn mẫu yêu thương giữa Đức Ki-tô và Giáo Hội. Theo thánh nhân, chồng ‘hãy yêu thương vợ, như chính Đức Ki-tô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh’, hay ‘chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình’ (Ep 5,25-32). Con cái ‘hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa’; cha mẹ ‘hãy giáo dục chúng thay mặt Chúa bằng cách khuyên răn và sửa dạy’ (Ep 6,1-4).

Như thế, trong gia đình, người vợ là hình ảnh của Giáo Hội, người chồng là hình ảnh Đức Ki-tô. Vợ chồng cùng phẩm giá, tuy nhiên, trật tự giữa vợ và chồng vẫn luôn tồn tại, dựa trên khuôn mẫu Đức Ki-tô và Giáo Hội. Trong gia đình, hình ảnh của người vợ là hình ảnh của sự bao dung, nhẹ nhàng để chăm sóc con cái, còn hình ảnh người chồng là hình ảnh mạnh mẽ, quyết đoán để hướng dẫn và bảo đảm sự an toàn cho tất cả các thành phần. Ở nhiều dân tộc trên thế giới, thông thường, người vợ đảm đương những việc nhẹ nhàng ở nhà, còn người chồng đảm đương những việc nặng nhọc khác để lo cuộc sống cho các thành phần trong gia đình. Sự tương đồng về quyền và phẩm giá của người chồng và người vợ không làm phương hại tính đặc thù của người chồng và người vợ trong gia đình, nghĩa là người chồng và người vợ không nhất thiết phải có chức năng giống nhau trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Giáo Hội ý thức sự phân công lao động phù hợp giữa chồng và vợ, đồng thời, chống lại sự phân biệt đối xử bất công giữa họ.

Khi chăm sóc mục vụ, Giáo Hội ý thức về những khó khăn trong các gia đình con cái mình giữa trào lưu và những quan niệm sai lạc về hôn nhân gia đình, chẳng hạn, ly dị, tái hôn, gia đình đơn lẻ.[31] Trong thế giới hôm nay, nhiều người xem hôn nhân như là một khế ước cá nhân, họ không màng sự chứng nhận của bất cứ thẩm quyền nào. Có những người xem hôn nhân như là bản hợp đồng (contract) chứ không như là giao ước (covenant) được Thiên Chúa thiết lập và chúc phúc. Có những người xem hôn nhân như là sự biểu lộ cảm tính, khi không còn nữa thì có thể bỏ nhau bất cứ lúc nào, bởi vì, cảm tính thay đổi tùy theo lứa tuổi cũng như những bấp bênh trong đời sống cá nhân, xã hội. Lại có những người chủ trương rằng hôn nhân một vợ một chồng xem ra chỉ đúng cho quá khứ, không đúng cho thế giới hiện đại nữa. Hôn nhân được xem như một công việc (job) toàn thời hoặc bán thời chứ không phải là ơn gọi (vocation) yêu thương, chung thủy, duy nhất và trọn đời.

Như đã được đề cập ở trên, Đức Giê-su Ki-tô quan tâm cách đặc biệt đến các gia đình trong sứ mệnh lịch sử của mình. Từ Biến Cố Nhập Thể đến Biến Cố Phục Sinh, tất cả những gì liên quan đến Đức Giê-su đều gắn liền với gia đình. Do đó, chăm sóc mục vụ gia đình luôn là bổn phận của Giáo Hội, bí tích của Đức Giê-su Ki-tô. Đây không phải là bổn phận tạm thời hay bán thời mà là bổn phận gắn liền với căn tính, đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội. Do đó, bao lâu Giáo Hội trên đường lữ hành, bấy lâu Giáo Hội chăm sóc mục vụ gia đình cách chu đáo theo gương Đức Giê-su Ki-tô. Kinh Thánh Tân Ước cho chúng ta biết rằng Đức Giê-su Ki-tô không đến để gặp gỡ và qui tụ những người khác như gặp gỡ và qui tụ một đám đông, nhưng là đến với họ cách mật thiết, quan tâm đến gia đình của họ, đồng thời, cho họ biết họ được mời gọi để sống những giá trị của Gia Đình Thiên Chúa ở trần gian.

Kinh nghiệm lịch sử cho Giáo Hội ý thức rằng gia đình con cái Giáo Hội không chỉ mong muốn Giáo Hội thi hành vai trò lãnh đạo, mà cần thiết hơn là vai trò đồng hành. Có như thế, Giáo Hội thực sự là Giáo Hội lữ hành cùng với gia đình, nghĩa là những biến cố xảy ra trong đời sống gia đình đều có sự hiện diện và nâng đỡ của Giáo Hội. Những khó khăn hay thuận lợi trong gia đình cũng chính là những khó khăn hay thuận lợi của Giáo Hội. Sự cảm thông chia sẻ của Giáo Hội đối với những thách đố của gia đình giúp Giáo Hội một mặt thể hiện ‘lòng thương xót’ của Chúa đối với gia đình, mặt khác, giúp Giáo Hội có được những kinh nghiệm quí báu để phục vụ gia đình cách tốt đẹp hơn.

Như đã được đề cập ở trên, Giáo Hội ý thức rằng gia đình con cái mình là hình ảnh Gia Đình Thiên Chúa. Tuy nhiên, gia đình con cái mình dễ bị tổn thương vì chính tội lỗi của các thành phần trong gia đình cũng như trong môi trường nhân loại. Giáo Hội mời gọi những người trong gia đình sống giá trị Tin Mừng giữa muôn vàn khó khăn nảy sinh từ những quan niệm lệch lạc về phái tính hay những sai lầm khác không chỉ theo nghĩa đạo đức, luân lý mà còn theo nghĩa tự nhiên, tâm lý, bệnh hoạn. Gia Đình Giáo Hội cũng như gia đình con cái mình không ngừng hướng về Gia Đình Thiên Chúa để kín múc năng lực cần thiết cho cuộc sống hằng ngày.

Trong Thông Điệp Đấng Cứu Chuộc Con Người Redemptor Hominis (1979), thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II nói rằng con người là con đường của Giáo Hội.[32] Cách tương tự, trong Thư Gửi Các Gia Đình Letter to Families, thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II nói rằng gia đình là con đường của Giáo Hội.[33] Quả thật, con người là con đường của Giáo Hội, tuy nhiên, con người được sinh ra và trưởng thành từ gia đình. Do đó, con người phải đi con đường của gia đình và được triển nở từ con đường gia đình. Gia đình quan trọng đến mức, theo lời của thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, gia đình chính là tương lai của Giáo Hội cũng như thế giới.[34] Do đó, gia đình phải là nơi lòng thương xót Chúa hiện diện và hoạt động, đồng thời, cũng là nơi quan trọng nhất, từ đó lòng thương xót Chúa được loan báo và chuyển tải. Như vậy, Giáo Hội vừa chăm sóc mục vụ gia đình con cái mình, vừa khuyến khích con cái mình biết luôn cộng tác với nhau và với toàn thể Gia Đình Giáo Hội để loan báo Tin Mừng Gia Đình Thiên Chúa cho toàn thể nhân loại. (Còn tiếp)

Pet. Nguyễn Văn Viên

[1] Is 7,14: “Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai và đặt tên là Em-ma-nu-en.” Như thế, Is 7,14 không có phần giải thích ‘Em-ma-nu-en nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta‘ như Mt 1,23.

[2] Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Lumen Gentium 6 (1964).

[3] Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Lumen Gentium 6.

[4] Xem thêm Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đích-tô XVI, Thông Điệp Deus Caritas Est 25 (2005).

[5] Xem thêm Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Lumen Gentium 8.

[6] Xem Hội Đồng Giám Mục Châu Phi: Message of the Synod 24 (1994).

[7] Xem thêm Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Gaudium et Spes 22.

[8] Xem Giáo Luật (1983) 204.

[9] Xem thêm Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô, Evangelii Gaudium 47 (2013).

[10] Xem thêm Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Lumen Gentium 9.

[11] Xem thêm thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, Tông Huấn Familiaris Consortio 28.

[12] Xem thêm Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Lumen Gentium 11.

[13] Xem thêm Dt 13,7-16.

[14] Xem thêm Is 25,6-10; Mt 8,11; Mt 22,1-14; Lc 14,15-24.

[15] Xem thêm 1 Cr 12,12-30.

[16] Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đích-tô XVI, Thông Điệp Deus Caritas Est 25.

[17] Xem thêm Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI, Thông Điệp Ecclesiam Suam 1 (1964).

[18] Trong truyền thống và văn hóa Do Thái, khi người nữ lấy chồng thì về nhà chồng. Tuy nhiên, theo các học giả Kinh Thánh, từ xa xưa, khi người chồng lấy vợ thì về nhà vợ. Điều đó cho chúng ta thấy rằng về nhà chồng hay về nhà vợ sau khi trở thành vợ chồng không quan trọng bằng việc hai người trở thành gia đình mới.

[19] Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, Tông Huấn Familiaris Consortio 17; xem thêm Ep 5,21-33.

[20] Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đích-tô XVI, Thông Điệp Deus Caritas Est 2.

[21] Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đích-tô XVI, Thông Điệp Deus Caritas Est 11.

[22] Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, Thông Điệp Redemptor Hominis 10 (1979).

[23] Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, Tông Huấn Ecclesia in Oceania 45 (2001).

[24] Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, Thông Điệp Centesimus Annus 39 (1991); xem thêm Tông Huấn Ecclesia in America 46 (1999).

[25] Xem thêm Cv 12,12; Rm 16,5; Cl 4,15.

[26] Công Đồng Vatican II, Sắc Lệnh Apostolicam Actuositatem 11.

[27] Xem thêm thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, Tông Huấn Ecclesia in Asia 46 (1999).

[28] Xem thêm Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Lumen Gentium 35.

[29] Xem thêm Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Lumen Gentium 11.

[30] Xem thêm Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI, Tông Huấn Evangelii Nuntiandi 71 (1975).

[31] Xem thêm thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, Tông Huấn Familiaris Consortio 84

[32] Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, Thông Điệp Redemptor Hominis 14.

[33] Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II Letter to Families 3 (1994).

[34] Xem thêm thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, Tông Huấn Familiaris Consortio 75 và Tông Huấn Ecclesia in Africa 50.

 

About The Author

Number of Entries : 563

© TRANG THÔNG TIN CHÍNH THỨC CỦA ĐẠI CHỦNG VIỆN VINH THANH

Scroll to top