You Are Here: Home » TIN TỨC » GIÁO HỘI NHƯ LÀ GIA ĐÌNH THIÊN CHÚA (Phần cuối)

GIÁO HỘI NHƯ LÀ GIA ĐÌNH THIÊN CHÚA (Phần cuối)

GIÁO HỘI NHƯ LÀ GIA ĐÌNH THIÊN CHÚA (Phần cuối)

Xem phần 1

Xem phần 2

3943810604. Gia Đình Giáo Hội loan báo Tin Mừng Gia Đình Thiên Chúa

Gia Đình Giáo Hội loan báo Tin Mừng Gia Đình Thiên Chúa, Tin Mừng Sự Sống cho toàn thể nhân loại rằng hậu duệ của A-đam bị tổn thương do tội lỗi, tuy nhiên, được cứu sống nhờ Đức Giê-su Ki-tô. Con người được Thiên Chúa yêu thương đến nỗi Con Thiên Chúa đã Nhập Thể để thông phần đau khổ với họ và qui tụ họ về với Gia Đình Thiên Chúa. Gia Đình Giáo Hội loan báo Tin Mừng rằng tình yêu của Thiên Chúa mạnh hơn sự chết và lòng thương xót của Thiên Chúa lớn hơn tội lỗi của con người. Với Đức Giê-su Ki-tô, sự chết không còn là tiếng nói cuối cùng của con người nữa, nhưng là sự sống, sự phục sinh vinh hiển theo khuôn mẫu của Người. Quê hương của toàn thể nhân loại không còn là quê hương của đau khổ và thất vọng, nhưng là Quê Hương của sự công chính, bình an và hoan lạc vĩnh cửu trong Thánh Thần.[1] Tin Mừng mà Gia Đình Giáo Hội loan báo chính là Tin Mừng về việc con người được trở thành con Thiên Chúa nhờ Đức Giê-su Ki-tô và giáo huấn của Người.

Như đã được đề cập ở trên, trong sứ vụ rao giảng của mình, Đức Giê-su mặc khải rằng Thiên Chúa là Cha của Người cũng là Cha của những ai theo Người. Không chỉ một mình Đức Giê-su gọi Thiên Chúa là Cha mà tất cả những ai đến với Đức Giê-su và sống giáo huấn của Người cũng được gọi Thiên Chúa là Cha (Abba/Daddy). Chẳng hạn, Người căn dặn các môn đệ trở nên nhân chứng của Thiên Chúa Cha rằng “anh em là ánh sáng cho trần gian… ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,14-16). Đề cập đến những người tội lỗi, Đức Giê-su nói rằng “Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất” (Mt 18,14). Khi dạy dỗ các môn đệ tránh thói giả hình, Đức Giê-su nói rằng “anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời” (Mt 23,9). Liên quan đến việc tha thứ, Đức Giê-su khuyên bảo họ rằng “nếu anh em không tha thứ, thì Cha của anh em là Đấng ngự trên trời, cũng sẽ không tha lỗi cho anh em” (Mc 11,26).[2] Các môn đệ ý thức rằng họ được kêu gọi trở nên thành phần trong cộng đoàn được Đức Giê-su thiết lập và ủy thác nhằm làm cho Tin Mừng của Người thấm nhập tất cả các chiều kích của cuộc sống con người.

Theo thánh ký Gio-an, sau khi Phục Sinh, Đức Giê-su gặp bà Ma-ri-a Mác-đa-la và dặn bà rằng “hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ: “Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em”” (Ga 20,17). Lời của Đức Giê-su ‘Cha của Thầy cũng là Cha của anh em’ chính là Tin Mừng Gia Đình Thiên Chúa được mặc khải cách cụ thể nhất cho các môn đệ của Đức Giê-su Phục Sinh. Đức Giê-su chính là Con Thiên Chúa, thuộc Gia Đình Thiên Chúa và Người mặc khải cho các môn đệ của Người rằng chính họ được mời gọi trở nên con cái trong Gia Đình này.

Ngay từ buổi đầu, trong sứ vụ loan báo Tin Mừng Gia Đình Thiên Chúa, các môn đệ Đức Giê-su hiểu rằng họ được mời gọi để trở thành “những kẻ lưới người như lưới cá” (Mt 4,19). Họ sẵn lòng từ bỏ gia đình huyết tộc của mình để loan báo Gia Đình Thiên Chúa, gia đình vô biên vô tận. Họ ý thức sứ mệnh của mình là làm cho Gia Đình Thiên Chúa ngày càng được nhận biết giữa lòng thế giới. Để sứ mệnh này được thực hiện, các môn đệ Đức Giê-su luôn ý thức phẩm giá cao trọng của mình là môn đệ và tông đồ của Đức Giê-su Ki-tô giữa lòng thế giới. Họ nhiệt tâm loan báo Tin Mừng Gia Đình Thiên Chúa trong những hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm nhất. Đặc biệt, họ luôn sẵn sàng chịu chết để Tin Mừng Gia Đình Thiên Chúa được đón nhận, được sống và chuyển tải từ thế hệ này đến thế hệ khác.

Hơn ai hết, thánh Phao-lô đã cảm nghiệm được Tin Mừng Gia Đình Thiên Chúa và trình bày cách cụ thể trong các Thư của mình. Trong lời mở đầu Thư Gửi Tín Hữu Rô-ma, thánh Phao-lô viết “xin Thiên Chúa là Cha chúng ta và xin Chúa Giê-su Ki-tô ban cho anh em ân sủng và bình an” (Rm 1,7). Chúng ta cũng gặp những lời tương tự trong các Thư khác nữa, chẳng hạn, 1 Cr 1,3; 2 Cr 1,2; Gl 1,3; Ep 1,2; Pl 1,2. Thánh Phao-lô còn diễn tả tương quan giữa Thiên Chúa Cha và Đức Giê-su Ki-tô trong việc sáng tạo và gìn giữ con người cũng như vạn vật. Thánh nhân nói rằng “chỉ có một Thiên Chúa là Cha, Đấng tạo thành vạn vật và là cùng đích của chúng ta; và cũng chỉ có một Chúa là Đức Giê-su Ki-tô, nhờ Người mà vạn vật được tạo thành và nhờ Người mà chúng ta được hiện hữu” (1 Cr 8,6). Như vậy, chúng ta có thể nói rằng, đối với thánh Phao-lô, Tin Mừng của Đức Giê-su cũng chính là Tin Mừng Gia Đình Thiên Chúa. Ngài cảnh báo tín hữu Ga-lát rằng “nếu có ai, kể cả chúng tôi, hoặc một thiên thần nào từ trời xuống, loan báo cho anh em Tin Mừng khác với Tin Mừng chúng tôi đã loan báo cho anh em, thì xin Thiên Chúa loại trừ kẻ ấy đi!” (Gl 1,8). Tin Mừng Gia Đình Thiên Chúa, Tin Mừng Bình An, còn được trình bày trong các Thư khác nữa trong thời Giáo Hội sơ khai, chẳng hạn, Tt 1,4; Dt 1,5; Gc 3,9; 1 Pr 1,17; 2 Ga 1,3; Gđ 1,1.

Sau cuộc khổ nạn và sự chết của Đức Giê-su, thay vì thất vọng để trở về với gia đình riêng của mình, các môn đệ Đức Giê-su tụ họp cùng nhau để cầu nguyện trong bầu khí gia đình và Đức Giê-su Phục Sinh đã đến cùng họ. Với sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong ngày lễ Ngũ Tuần, họ đã loan báo Tin Mừng Gia Đình Thiên Chúa cho mọi dân nước (Cv 2,1-13). Để có thể thực hiện sứ mệnh của mình, các môn đệ Đức Giê-su cũng như các tín hữu sơ khai đã sống với nhau như là anh chị em trong cùng gia đình và tình hiệp thông liên đới giữa họ còn hơn tình hiệp thông liên đới của anh chị em trong gia đình huyết thống nữa. Tác giả Sách Tông Đồ Công Vụ kể lại rằng “các tín hữu thời bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý. Không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung…Trong cộng đoàn, không ai phải thiếu thốn, vì tất cả những người có ruộng đất nhà cửa, đều bán đi, lấy tiền, đem đặt dưới chân các Tông Đồ. Tiền ấy được phân phát cho mỗi người, tuỳ theo nhu cầu” (Cv 4,32-35). Như thế, Tin Mừng Gia Đình không chỉ được loan báo mà còn được minh chứng bằng chính cuộc sống và hành động cụ thể của các Tông Đồ và những người mới gia nhập đạo.

Cuộc sống của thánh Phao-lô sau khi trở lại là cuộc sống diễn tả mặc khải Gia Đình Thiên Chúa cho các dân tộc quanh vùng Địa Trung Hải. Chúng ta nhận thức rằng những hình ảnh hay đời sống gia đình đã được thánh nhân quan tâm khi diễn tả thực tại được Đức Giê-su thiết lập là Giáo Hội, chẳng hạn, Giáo Hội là Hiền Thê của Đức Ki-tô, Giáo Hội là Dân Thiên Chúa, Giáo Hội là Tòa Nhà của Thiên Chúa. Đặc biệt, thánh nhân trình bày Giáo Hội là Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Ki-tô và sự liên kết của mọi người trong Gia Đình Giáo Hội chính là sự liên kết của họ trong Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Ki-tô. Khi dùng hình ảnh con cái trong Gia Đình Giáo Hội như là các bộ phận trong một thân thể, thánh Phao-lô cho thấy sự liên kết của con cái trong Gia Đình Giáo Hội mật thiết với nhau hơn các thành phần trong gia đình huyết thống hay bất cứ hình thức gia đình nào mà con người có thể kinh nghiệm trong môi trường văn hóa, xã hội. “Anh em là thân thể Đức Ki-tô và mỗi người là một bộ phận” (1 Cr 12,27), thánh Phao-lô nói vậy. Do đó, Tin Mừng mà thánh nhân loan báo thật là Tin Mừng lớn lao cho tất cả mọi người, bởi vì, họ không chỉ được kêu gọi để trở thành thành phần của một hình thức gia đình mở rộng nào đó, mà là gia đình trong đó mỗi người là bộ phận của nhau trong Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Ki-tô.

Đối với thánh Phao-lô, rao giảng Tin Mừng và làm cho mọi người trở thành con cái trong Gia Đình Thiên Chúa cũng chính là làm cho họ trở thành thành phần trong Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Ki-tô. Với tín hữu Ê-phê-xô, ngài viết “chính Người [Đức Ki-tô] là bình an của chúng ta: Người đã liên kết đôi bên, dân Do-thái và dân ngoại, thành một” (Ep 2,14) và “trong Đức Ki-tô Giê-su và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do-thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” (Ep 3,6). Với tín hữu Ga-lát, thánh nhân viết “nếu anh em thuộc về Đức Ki-tô, thì anh em là dòng dõi ông Áp-ra-ham, những người thừa kế theo lời hứa” (Gl 3,29). Như thế, trong nhãn quan của thánh Phao-lô, hình ảnh Giáo Hội như là Gia Đình Thiên Chúa và như là Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Ki-tô bổ túc và giải thích cho nhau để nói lên sự liên kết nhiệm mầu và phẩm vị của con cái Thiên Chúa giữa lòng nhân loại.

Là thực thể tiếp tục sứ mệnh của Đức Giê-su Ki-tô ở trần gian, Giáo Hội luôn ý thức việc loan báo Tin Mừng Gia Đình Thiên Chúa rằng tương quan giữa con người và Thiên Chúa là tương quan Cha – con. Điều này cũng đồng nghĩa với việc nhận thức rằng tương quan giữa con người với nhau là tương quan anh chị em. Hơn thế nữa, tương quan Cha – con hay tương quan anh chị em trong Gia Đình Giáo Hội là tương quan sâu nhiệm hơn bất cứ tương quan nào trong thế giới thụ tạo. Tin Mừng này quan trọng, bởi vì, Thiên Chúa không chỉ cho phép con người được hiện hữu theo hình ảnh Người, mà còn cho phép họ trở thành con cái Thiên Chúa, trở thành một thân thể, trong khi con người hoàn toàn bất xứng. Thân phận con người yếu đuối nhưng phẩm giá con người thật cao trọng, bởi vì, Con Thiên Chúa đã mang lấy thân phận con người để mặc khải cho họ biết về Gia Đình Thiên Chúa, đồng thời, hy sinh mạng sống mình để cứu chuộc họ.

Khi loan báo Tin Mừng, Giáo Hội ý thức rằng đặc tính công giáo (catholicity) của mình gắn liền với đặc tính công giáo của Gia Đình Thiên Chúa được thực hiện qua Biến Cố Đức Ki-tô để cứu chuộc muôn người. Do đó, đặc tính công giáo này thuộc về bản chất và sứ mệnh của Giáo Hội. Đặc tính này này mang chiều kích vĩnh cửu, siêu vượt không gian, thời gian, bao trùm thế giới hữu hình và vô hình, đồng thời, hướng tới tất cả mọi người từ tạo thiên lập địa cho đến tận thế. Đặc tính công giáo của Gia Đình Giáo Hội không lệ thuộc hay bị cản trở bởi bất cứ môi trường thụ tạo nào, chẳng hạn, môi trường địa lý, văn hóa, chủng tộc, xã hội.[3] Gia Đình Giáo Hội được ủy thác đến với mọi người trong hoàn cảnh sống của họ và cho họ biết rằng Giáo Hội như là Gia Đình Thiên Chúa ở trần gian để kêu mời và qui tụ tất cả mọi người.[4]

Giáo Hội loan báo Tin Mừng rằng sự hiện diện của Đức Giê-su chính là sự hiện diện của Gia Đình Thiên Chúa ở trần gian. Khi rao giảng về Nước Thiên Chúa, cũng chính là Gia Đình Thiên Chúa, Đức Giê-su thường dùng những dụ ngôn để diễn tả sự phát triển của gia đình này, chẳng hạn, Đức Giê-su dùng dụ ngôn hạt cải, ruộng lúa, men trong bột (Mt 13,24-30, Mc 4,26-34, Lc 13,18-21). Ý thức sự hiện diện của mình chính là sự hiện diện của Nước Thiên Chúa, của Gia Đình Thiên Chúa ở trần gian, Giáo Hội sống và đề cao những giá trị của Gia Đình Thiên Chúa, đồng thời, làm cho những giá trị của Gia Đình Thiên Chúa ngày càng thấm đượm mọi chiều kích của cuộc sống con người trong hành trình trần thế của họ.

Giáo Hội ý thức rằng Gia Đình Giáo Hội không ngừng lớn lên nhờ sự tham dự và đóng góp nhiệt tâm của các thành phần trong Giáo Hội. Điều này đã được thánh Phao-lô diễn tả rất khúc chiết rằng “Đức Ki-tô đã ban ơn cho kẻ này làm Tông Đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ. Nhờ đó, dân thánh được chuẩn bị để làm công việc phục vụ, là xây dựng thân thể Đức Ki-tô, cho đến khi tất cả chúng ta đạt tới sự hợp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, tới tình trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn của Đức Ki-tô” (Ep 4,11-13). Trên đường dương thế, sự lớn lên của Gia Đình Giáo Hội lệ thuộc vào sự song hành giữa sứ mệnh bên trong (missio ad intra), tức là Giáo Hội chăm lo đời sống con cái mình, cũng như sứ mệnh bên ngoài (missio ad extra), tức là Giáo Hội loan báo Tin Mừng Gia Đình Thiên Chúa cho tất cả mọi người. Gia Đình Giáo Hội luôn ý thức rằng chính sứ mệnh bên trong của Giáo Hội đặt nền tảng và có tính quyết định cho sứ mệnh bên ngoài của Giáo Hội.

Để có thể loan báo Tin Mừng Gia Đình Thiên Chúa cách hữu hiệu hơn, Giáo Hội không ngừng xây dựng đời sống nội tại của gia đình mình dựa trên khuôn mẫu của Giáo Hội sơ khởi. Chẳng hạn, thánh Phao-lô khuyên dạy các thành phần trong Giáo Hội rằng họ phải “thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình” (Rm 12,10) hay “mang gánh nặng cho nhau” (Gl 6,2) hay “dạy dỗ khuyên bảo nhau với tất cả sự khôn ngoan” (Cl 3,16). Để ngày càng xứng đáng hơn là con cái trong Gia Đình Thiên Chúa, tác giả Thư Gửi Tín Hữu Do Thái đưa ra lời khuyên “anh em hãy kiên trì để cho Thiên Chúa sửa dạy. Người đối xử với anh em như với những người con. Thật vậy, có đứa con nào mà người cha không sửa dạy?” (Dt 12,7) hay “anh em hãy vâng lời những người lãnh đạo anh em và hãy phục tùng họ” (Dt 13,17). Gia Đình Giáo Hội luôn xác tín rằng các tín hữu chỉ có thể loan báo Tin Mừng Gia Đình Thiên Chúa khi chính bản thân họ là những người đầu tiên sống những giá trị của Tin Mừng ấy một cách trung tín và quảng đại nhất trong môi trường cụ thể của mình giữa lòng nhân loại.

5. Gia Đình Giáo Hội phục vụ gia đình nhân loại church-family-images-_4440318_orig

Là Bí Tích của Đức Giê-su Ki-tô, Giáo Hội chính là món quà Thiên Chúa ban cho gia đình nhân loại để đồng hành và phục vụ gia đình nhân loại. Nhờ Giáo Hội và qua Giáo Hội, tất cả mọi người có khả năng đến với Thiên Chúa và trở thành con cái của Người. Công Đồng Vatican II nhấn mạnh rằng “khi nhận lấy bản tính nhân loại chính Người đã nối kết toàn thể nhân loại với Người thành một gia đình bằng một tình liên đới siêu nhiên.”[5] Đồng thời, Công Đồng cũng khẳng định rằng “Chúa Ki-tô, khi bị treo lên khỏi đất, đã kéo mọi người đến với mình. Khi từ kẻ chết sống lại, Người đã sai Thánh Thần ban sự sống đến với các môn đệ và nhờ Thánh Thần thiết lập thân thể Người là Giáo Hội như bí tích phổ quát cứu rỗi.”[6] Như vậy, sự hiện diện của Giáo Hội là để phục vụ cho ơn cứu độ hoàn vũ của Thiên Chúa được Đức Giê-su Ki-tô thực hiện.

Thiên Chúa hằng hoạt động trong Giáo Hội, để nhờ Giáo Hội toàn thể nhân loại nhận biết căn nguyên và cứu cánh của mình là từ Thiên Chúa và đến với Thiên Chúa.[7] Tại hội nghị đặc biệt năm 1994, các Giám Mục Châu Phi nói rằng “Thiên Chúa hằng sống, Đấng tạo dựng trời đất và Chúa của lịch sử là Cha của gia đình nhân loại rộng lớn trong đó tất cả chúng ta là thành phần.”[8] Điều này cũng được thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II lặp lại trong Tông Huấn Ecclesia in Africa (2000).[9] Với sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội được mời gọi để phục vụ và qui tụ tất cả mọi người trong nhân loại. Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đích-tô XVI khẳng định rằng “Chúa Thánh Thần cũng là nguồn lực biến đổi ‘tâm hồn’ của cộng đoàn Giáo Hội, để cộng đoàn này trở thành nhân chứng tình yêu của Chúa Cha giữa lòng thế giới, Đấng muốn làm cho nhân loại thành một gia đình trong Con Yêu Dấu của Người.”[10] Nhờ Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa hoàn tất chương trình cứu độ của Người trong Biến Cố Đức Ki-tô và được tiếp diễn bởi Giáo Hội để Giáo Hội đem lại sự sống đời đời cho mọi người trong gia đình nhân loại.

Như đã được đề cập ở trên, Giáo Hội là thực tại không ngừng lớn lên. Bao lâu còn trên đường lữ hành, Giáo Hội vẫn là thực tại rồi mà chưa (already and not yet) cũng như tất cả mọi người trên dương gian đều là những thực tại ‘rồi mà chưa’, bởi vì, bao lâu còn sống trên dương gian, bấy lâu con người còn bất xứng, tội lỗi, còn xa với con người thực thụ như lòng Chúa mong muốn. Giáo Hội chỉ đạt đến tầm mức viên mãn trong thời cánh chung cũng như tất cả mọi người đạt tầm mức viên mãn trong thời cánh chung khi Thiên Chúa qui tụ muôn loài muôn vật trong Đức Giê-su Ki-tô (Ep 1,3-10). Gia Đình Giáo Hội hiện diện và hoạt động để dưỡng nuôi và thánh hóa con cái mình cũng như thi hành sứ mệnh loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa và phục vụ xã hội loài người theo tinh thần của Tin Mừng.

Gia Đình Giáo Hội hiện diện trong lịch sử nhưng siêu vượt lịch sử: Lịch sử Do Thái Giáo, lịch sử Ki-tô Giáo, lịch sử các tôn giáo và cả lịch sử thế giới thụ tạo. Gia Đình Giáo Hội siêu vượt không gian, thời gian cũng như mọi nhận thức và diễn tả của con người. Vương quốc Thiên Chúa mà Giáo Hội là dấu chỉ siêu vượt tất cả vương quốc đã, đang và sẽ hiện diện trong dòng lịch sử. Tính hoàn vũ của Giáo Hội bao trùm tất cả mọi người từ tạo thiên lập địa cho đến tận thế. Tính hoàn vũ này hiện diện cách cụ thể tại Biến Cố Chúa Thánh Thần Hiện Xuống và siêu vượt tất cả những gì thuộc trương độ mà nhân loại có thể kinh nghiệm được.

Gia Đình Giáo Hội không ngừng quan tâm đến tất cả chiều kích của đời sống con người. Tinh thần phục vụ con người cách toàn thể của Giáo Hội căn bản dựa trên giáo huấn của Đức Giê-su là đem lại sự sống sung mãn cho tất cả mọi người (Ga 1,4; Ga 3,16; Ga 11,25). Trong Thông Điệp Dives in Misericordia, thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II khẳng định rằng chương trình của Thiên Chúa về ‘dân được tuyển chọn’ không chỉ dành cho những ai thuộc dòng tộc Áp-ra-ham theo huyết thống, mà là tất cả mọi người trong gia đình nhân loại.[11] Chúng ta có thể khai triển ý tưởng này rằng Gia Đình Giáo Hội lớn hơn và siêu việt hơn gia đình của những người thuộc Ki-tô Giáo hay gia đình của những người thuộc các tôn giáo trên thế giới hay gia đình toàn thể nhân loại đang trên đường lữ hành, bởi vì, Gia Đình Giáo Hội tiếp tục thông ban ơn cứu độ mà Đức Giê-su thực hiện một lần cho tất cả ‘once and for all’ (Rm 6,10; Dt 7,27; Dt 10,10).

Như là Gia Đình Thiên Chúa ở trần gian, Giáo Hội là thực tại sống động (a living reality) mở ra với tất cả mọi người và luôn quan tâm đến căn tính và phẩm giá cao trọng của họ. Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II nói rằng “tất cả mọi người nam nữ đều mang hình ảnh Thiên Chúa và được mời gọi sum họp trong cùng gia đình được cứu độ nhờ Máu của Đức Ki-tô.”[12] Như là thực tại sống động, Giáo Hội có một trái tim, Giáo Hội được Thiên Chúa ủy thác đến với mọi người bằng cả trái tim mình để cảm thông, để chia sẻ, để hướng dẫn và đồng hành với tất cả mọi người. Sứ mệnh của Giáo Hội là kêu mời họ sống đúng với căn tính, phẩm giá, cũng như ơn gọi của mình qua sự hiệp nhất, liên đới, yêu thương và hòa hợp với nhau bất luận sự khác biệt về tôn giáo, văn hóa và nhiều hình thức xã hội khác.

Giữa thế giới đầy dẫy những bất công, lãnh đạm, Giáo Hội là khí cụ đem lại công lý và thông truyền lòng thương xót của Gia Đình Thiên Chúa. Theo Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô, “chúng ta cần nhấn mạnh niềm xác tín rằng chúng ta là một gia đình nhân loại. Không có bất cứ biên giới hay rào cản nào, chính trị hay xã hội, mà chúng ta có thể ẩn mình, lại càng ít khoảng trống cho toàn cầu hóa sự lãnh đạm.”[13] Tại hội nghị đặc biệt năm 1994, các Giám Mục Châu Phi nói rằng “Giáo Hội như là Gia Đình được định hướng tới việc xây dựng xã hội mà Giáo Hội thổi vào đó luồng sinh khí của các Mối Phúc [Beatitudes].”[14] Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đích-tô XVI thì khẳng định rằng lòng bác ái yêu thương của Gia Đình Thiên Chúa giữa lòng thế giới phải luôn vượt qua các biên giới của Giáo Hội và rằng dụ ngôn người Sa-ma-ri tốt lành luôn là tiêu chuẩn diễn tả tình yêu hoàn vũ của Giáo Hội cho những người thiếu thốn, đau khổ, bất hạnh.[15]

Trong khi phục vụ gia đình nhân loại, Giáo Hội luôn khơi dậy ý thức cộng đoàn trong gia đình này, bởi vì, giữa lòng thế giới, không ai là một ốc đảo.[16] Theo thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, “con người không được tạo dựng để sống một mình. Họ được sinh ra trong một gia đình và từ gia đình này họ lớn lên, dần dần tham gia vào xã hội thông qua hoạt động của họ.”[17] Chúng ta cũng có thể nói như vậy về Giáo Hội rằng Giáo Hội không được thiết lập ‘để sống một mình’ với những người đã được xác định, mà cho tất cả mọi người trong gia đình nhân loại. Do đó, Giáo Hội có sứ mệnh kêu gọi mọi người hãy ra khỏi vỏ bọc của mình để đến với người khác trong gia đình nhân loại rộng lớn này. Descartes cho rằng ‘ego cognito, ego sum’ (tôi suy tư nên tôi hiện hữu).[18] Trong thực tế, chúng ta thấy đúng hơn là ‘tôi thuộc về gia đình, nên tôi hiện hữu’. Như đã được đề cập ở trên, mặc khải Ki-tô Giáo cho chúng ta biết rằng trước khi có cái ‘tôi’ của con người thì đã có ‘Chúng Ta Vĩnh Cửu’ là Thiên Chúa: “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta” (St 1,26). ‘Tôi thuộc về gia đình, nên tôi hiện hữu’, điều này đúng, bởi vì, không ai có thể hiện hữu và tồn tại độc lập với gia đình. Chúng ta nhận thức rằng tất cả mọi người là ‘sản phẩm của gia đình’. Tất cả mọi người đều sinh ra từ gia đình, lớn lên từ gia đình và từ biệt cõi đời trong bối cảnh gia đình. Điều này có nghĩa rằng sống là ‘sống với’, sống là liên vị, sống là tương quan, sống luôn mang nghĩa cộng đoàn trước khi mang nghĩa cá nhân.

Giáo Hội luôn ý thức rằng mình không phải là một tổ chức, phe nhóm hay bất cứ hình thức tổ chức văn hóa xã hội đặc thù nào của nhân loại để cạnh tranh quyền lợi hay vị thế.[19] Trong khi thi hành tác vụ chính yếu của mình là đem lại ơn cứu độ muôn đời cho toàn thể gia đình nhân loại, Giáo Hội đặc biệt chú tâm đến những ai bị bỏ rơi bên lề xã hội, những nạn nhân của bất công và muôn hình thức bất hòa hợp khác trong gia đình nhân loại. Giáo Hội luôn ghi nhớ rằng trong khi rao giảng Tin Mừng, Đức Giê-su Ki-tô ưu tiên những người nghèo, những người cô thế cô thân, những người bị bách hại hay nạn nhân của các hình thức áp bức trong xã hội loài người. Do đó, dung mạo Giáo Hội là dung mạo của Đức Giê-su Ki-tô, ‘Người Tôi Tớ đau khổ’ của Thiên Chúa, giữa lòng nhân loại, để chia sẻ, cảm thông, đồng hành và an ủi họ.[20]

Trong bối cảnh hiện tại, gia đình nhân loại đang phải trải qua những khó khăn và lạm dụng nảy sinh do những nhận thức phiến diện về con người. Nhân phẩm, nhân quyền và tự do của con người đang bị tổn thương nghiêm trọng vì sự phân biệt đối xử bất công của những người nhân danh chủ nghĩa duy vật, chủ nghĩa thực dụng, lợi ích quốc gia, đảng phái hay thể chế chính trị. Nền văn hóa sự chết lan tỏa đến mọi ngõ ngách của cuộc sống con người. Phục vụ gia đình nhân loại, Giáo Hội cổ vũ nền văn hóa sự sống, khởi đi từ gia đình, trung tâm của nền văn hóa này.[21] Trong Tông Huấn Ecclesia in Asia, thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II nói rằng “trong khi phục vụ gia đình nhân loại, Giáo Hội quan tâm đến tất cả mọi người nam nữ mà không phân biệt đối xử, cố gắng cùng họ xây dựng nền văn minh tình thương đặt nền tảng trên những giá trị hoàn vũ về hòa bình, công lý, liên đới và tự do tìm được sự sung mãn của chúng trong Đức Ki-tô.”[22] Trong Tông Huấn Ecclesia in Africa, thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II nhấn mạnh rằng “mỗi cá nhân cần được bảo đảm tiếp cận các nguồn lực tài nguyên của thế giới mà Thiên Chúa tặng ban tất cả mọi người.”[23] Như là Gia Đình Thiên Chúa hiện diện ở trần gian, Giáo Hội mời gọi tất cả mọi người cùng chung tay góp sức nhằm làm cho thế giới ngày một tốt đẹp và nhân bản hơn để phẩm giá và ơn gọi của mỗi người được tôn trọng cách xứng hợp.

Giáo Hội nhận thức rằng nhờ vào truyền thông, phương tiện di chuyển và trao đổi thương mại trên thế giới, tần suất giao thoa văn hóa ngày càng tăng, các biểu tượng hay tính đặc sắc của mỗi nền văn hóa ngày càng được học hỏi, tích hợp và chia sẻ cách rộng rãi. Đó đây vẫn còn xung đột, phân cách, chia rẽ, nhưng nhân loại trở nên một gia đình ngày càng rõ nét hơn và không thể đảo ngược.[24] Chúng ta thấy rằng trong bối cảnh hiện nay, con người có thể thực hiện tình yêu thương bác ái mà không quá bị lệ thuộc nhiều vào không gian thời, gian như trước. Những người ở xa về mặt địa lý có thể là người thân cận của mình, trong khi những người ở gần, ngay sát vách tường nhà mình cũng có thể là người xa lạ.[25] Theo Công Đồng Vatican II, trong khi phục vụ gia đình nhân loại, “Giáo Hội khuyến cáo các con cái mình và hết mọi người: hãy vượt qua mọi tranh chấp giữa các quốc gia, chủng tộc trong tinh thần gia đình con cái Thiên Chúa và củng cố các hiệp hội nhân loại chính đáng.”[26] Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II nói rằng “như là Gia Đình Thiên Chúa ở trần gian, Giáo Hội phải là dấu chỉ sống động và công cụ hiệu quả của tình liên đới hoàn vũ trong việc xây dựng một cộng đồng thế giới yêu chuộng công lý và hòa bình. Một thế giới tốt đẹp hơn sẽ xuất hiện chỉ khi được đặt nền tảng vững chắc trên các nguyên lý đạo đức và tinh thần lành mạnh.”[27]

Trong khi phục vụ gia đình nhân loại, Giáo Hội ý thức rằng tương quan giữa Giáo Hội cũng như tất cả mọi người trong nhân loại không phải tương quan theo hình ảnh đường một chiều (one-way traffic), nghĩa là từ Giáo Hội tới mọi người mà là tương quan hai hay nhiều chiều (two-way traffic or multi-way traffic). Giáo Hội không chỉ sống và chuyển tải những giá trị thuộc nội dung đức tin của mình, mà còn học hỏi từ môi trường nhân loại những giá trị luân lý và tôn giáo cũng như những điều tốt đẹp, lành thánh mà Thiên Chúa đã gieo vãi trong môi trường nhân loại nhằm làm cho Giáo Hội ngày càng được ‘giàu có thêm’ trong hành trình dương thế của mình.[28] Do đó, sứ mệnh phục vụ gia đình nhân loại cũng là sứ mệnh hội nhập văn hóa của Giáo Hội theo nghĩa đầy đủ nhất.

Nhiều nguyên nhân dẫn tới sự xuống cấp của các gia đình trong thế giới hôm nay, tuy nhiên, chúng ta có thể nêu lên một số nguyên nhân chính sau đây: (1) chủ nghĩa cá nhân, (2) chủ nghĩa thế tục, (3) không nhận thức đủ về sự thánh thiêng và phẩm giá của gia đình, (4) những khó khăn xuất phát từ đời sống gia đình, chẳng hạn, điều kiện kinh tế, công ăn việc làm, trách nhiệm đối với con cái. Đây không nhất thiết là những rào cản sứ mệnh của Giáo Hội, mà là cơ hội cho phép Giáo Hội suy tư, lượng định, đánh giá tương quan giữa Giáo Hội và các gia đình trong thế giới, để Giáo Hội có thể phục vụ các gia đình cách tốt hơn. Tiếng nói ngôn sứ của Giáo Hội về gia đình không chỉ là tiếng nói sửa dạy, chỉ trích, phê bình mà còn là tiếng nói chia sẻ, cảm thông, khích lệ các gia đình giữa những khó khăn của họ, đồng thời, cung cấp cho các gia đình viễn cảnh phù hợp với nội dung đức tin mà Giáo Hội có sứ mệnh loan truyền giữa những biến chuyển của thời đại.

Trong bài giảng khai mạc Thượng Hội Đồng Giám Mục Ngoại Thường về Gia Đình tại Vatican (05-10-2014), Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô nói rằng Chúa kêu mời chúng ta chăm sóc gia đình, thực thể ngay từ ban đầu là phần thiết yếu trong chương trình tình yêu của Người cho toàn thể nhân loại.[29] Giáo Hội luôn ý thức rằng gia đình chính là địa chỉ phục vụ của Giáo Hội. Do đó, những gì liên quan đến gia đình đều liên quan đến Giáo Hội. Trong bối cảnh hiện tại, khi các gia đình phải đương đầu với muôn vàn thách đố, cũng là khi Giáo Hội và toàn thể nhân loại trên khắp hoàn cầu được mời gọi xem xét, lượng định, đánh giá tác vụ của mình. Tương lai nhân loại lệ thuộc vào sự nhận diện, đánh giá và đưa ra những giải pháp cụ thể để trả lời cho những thách đố nhằm duy trì sự thánh thiêng và phát triển ổn định của gia đình.

Như đã được đề cập ở trên, mầu nhiệm gia đình Na-da-rét tiếp tục hiện diện trong gia đình nhân loại. Điều này có nghĩa là không giây phút nào gia đình nhân loại miễn nhiễm những bấp bênh, thách đố trên đường dương thế. Giáo Hội thâm tín rằng gia đình Na-da-rét là khuôn mẫu cho gia đình nhân loại. Nghĩa là, những thay đổi, bấp bênh, đau khổ do hậu quả của tội lỗi mà tất cả mọi gia đình trong nhân loại gặp phải cũng là những thay đổi, bấp bênh, đau khổ mà gia đình Na-da-rét xưa kia phải hứng chịu cho dù gia đình Na-da-rét là ‘Thánh Gia’. Gia Đình Giáo Hội được mời gọi cộng tác với Thiên Chúa để khôi phục và đổi mới những gì biến dạng do Tội Nguyên Tổ và những hệ lụy của Tội Nguyên Tổ trong gia đình nhân loại. Hơn nữa, Gia Đình Giáo Hội được mời gọi trở thành kim chỉ nam cho toàn thể nhân loại trong việc nhận ra hướng đích phải tới của tất cả mọi người.

Gia Đình Giáo Hội không bao giờ vơi niềm hi vọng vào sự thành toàn chung cuộc của Giáo Hội nhờ vào ơn Chúa.[30] Trong khi phục vụ gia đình nhân loại, Giáo Hội diễn tả mình như là dấu chỉ của niềm hi vọng đích thực giữa những thất vọng, chán chường của nhiều người trong gia đình nhân loại. Những cơn khủng hoảng xảy ra trong môi trường gia đình, môi trường xã hội, môi trường văn hóa, môi trường thiên nhiên đã làm cho nhiều người mất niềm hi vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn. Giáo Hội ý thức về những khủng hoảng đó và hiểu được nguyên nhân sâu xa của những khủng hoảng đó trong nhãn quan của mặc khải Ki-tô Giáo, trong đó, nguyên nhân chính vẫn là ‘bóng đêm của tội lỗi và sự dữ’ trong thế giới thụ tạo cũng như những yếu đuối của con người. Đồng thời, Giáo Hội cũng ý thức và vững tin rằng mình được ủy thác để trao ban niềm hi vọng cho toàn thể nhân loại, niềm hi vọng rằng tương lai của nhân loại được định hướng và tiếp tục triển nở tốt đẹp nhờ ân sủng và sự quan phòng của Thiên Chúa.[31]

Trong khi phục vụ gia đình nhân loại, Giáo Hội luôn ý thức rằng Thiên Chúa là nguồn gốc từ đó muôn vật muôn loài được dựng nên, tồn tại, biến đổi và phát triển (1 Cr 8,6; Ep 4,6). Do đó, việc qui tụ ‘con cái’ của mình trong Biến Cố Đức Ki-tô bao gồm việc qui tụ và đổi mới toàn thể thế giới thụ tạo nữa. Thánh Phao-lô diễn tả rằng “muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt chịu vậy; tuy nhiên, vẫn còn niềm trông cậy là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang” (Rm 8,20-21). Tác giả sách Khải Huyền trình bày về sự biến đổi chung cuộc bao gồm sự biến đổi của toàn thể thế giới thụ tạo rằng “bấy giờ tôi thấy trời mới đất mới, vì trời cũ đất cũ đã biến mất và biển cũng không còn nữa… Đấng ngự trên ngai phán: “Này đây Ta đổi mới mọi sự” (Kh 21,1-5).[32] Giáo Hội luôn mời gọi tất cả mọi người chăm sóc và bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái, môi trường cho phép gia đình nhân loại hiện diện và hoạt động trong hành trình dương thế của mình.

Tiếp tục truyền thống các Giáo Phụ, Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo khẳng định rằng “vũ trụ được tạo dựng vì Giáo Hội. Thiên Chúa đã sáng tạo để vũ trụ được hiệp thông vào đời sống thần linh của Người.”[33] Thiên Chúa thiết lập gia đình của Người ở trần gian có tên là ‘Giáo Hội’, để qua Giáo Hội, nhân loại cũng như muôn loài muôn vật nhận biết và ngợi khen Thiên Chúa. Ý  tưởng của Công Đồng Vatican II cách đây hơn 50 năm vẫn còn nguyên giá trị rằng “tình trạng thế giới hiện nay đặt nhân loại trong một hoàn cảnh mới, vì thế, Giáo Hội, là muối đất và ánh sáng trần gian, càng được kêu mời khẩn thiết hơn để cứu rỗi và canh tân mọi loài, hầu mọi sự được tái lập trong Chúa Ki-tô và nơi Ngài mọi người họp thành một gia đình và một Dân Chúa duy nhất.” Dù mang trong mình những phần tử tội lỗi, bất xứng, nhưng Gia Đình Giáo Hội được mời gọi không ngừng thanh luyện để trở nên gương phản chiếu tình yêu, sự trung tín và lòng bao dung của Thiên Chúa cũng như chương trình của Thiên Chúa đối với tất cả mọi người cùng toàn thể thế giới thụ tạo.

6. Ưu điểm trong việc hiểu Giáo Hội như là Gia Đình Thiên Chúa

Những khai triển và trình bày trên đây cho phép chúng ta hiểu thêm rằng hình ảnh Giáo Hội như là Gia Đình Thiên Chúa ở trần gian vừa có nền tảng Kinh Thánh, Truyền Thống, Huấn Quyền vững chắc, vừa phù hợp với kinh nghiệm của tất cả mọi người trong nhân loại. Hình ảnh này được đề cập nhiều trong những thập kỷ gần đây được xem như là hiệu quả tất yếu của Công Đồng Vatican II và sự khai triển của Huấn Quyền Giáo Hội. Hình ảnh Giáo Hội như là Gia Đình Thiên Chúa cho phép chúng ta hiểu rõ hơn bản chất của Giáo Hội và quan tâm hơn tới các tương quan trong đời sống Giáo Hội trên bình diện thần học cũng như mục vụ. Đây cũng là hình ảnh giúp Giáo Hội ý thức hơn về vai trò của Giáo Hội giữa lòng thế giới là liên đới và đồng hành với tất cả mọi người trong gia đình nhân loại để xây dựng một thế giới nhân bản hơn.

Hình ảnh Giáo Hội như là Gia Đình Thiên Chúa không tương phản hay đối nghịch với bất cứ hình ảnh Giáo Hội nào từ nội dung đức tin của Giáo Hội cũng như sự đón nhận, sống và diễn tả nội dung đức tin đó theo dòng lịch sử Giáo Hội. Xem ra hình ảnh Giáo Hội như là Gia Đình Thiên Chúa tích hợp được nhiều yếu tố từ các hình ảnh Giáo Hội khác, chẳng hạn, đoàn chiên, những viên đá sống động, tòa nhà, hiền thê, người mẹ, thụ tạo mới, hiệp nhất giữa những người Do Thái và dân ngoại. Đặc biệt, hình ảnh này liên kết chặt chẽ với bốn hình ảnh được Công Đồng Vatican II nhấn mạnh: Vương Quốc Thiên Chúa ở trần gian, Dân Thiên Chúa, Thân Thể Đức Ki-tô và Đền Thờ Chúa Thánh Thần.[34]

Trong Tông Huấn Ecclesia in Africa, thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II nói rằng Giáo Hội như là Gia Đình Thiên Chúa được xem là việc diễn tả đúng đắn căn tính của Giáo Hội, đặc biệt trong bối cảnh Giáo Hội Châu Phi. Theo thánh Giáo Hoàng, việc loan báo Tin Mừng nhằm mục đích xây dựng Giáo Hội như là Gia Đình Thiên Chúa là cách tốt nhất để trả lời cho những chủ trương sai lạc về chủng tộc cũng như chủ nghĩa vị chủng ‘ethnocentrism’ khá thịnh hành ở đại lục này. Đồng thời, việc hiểu Giáo Hội như là Gia Đình Thiên Chúa sẽ là câu trả lời đúng đắn nhất cho những ai chủng trương chủ nghĩa đặc thù ‘particularism’ nhằm đề cao các đặc tính văn hóa địa phương trong việc diễn tả đức tin của Giáo Hội hơn là tính chất hoàn vũ của đức tin này. Chúng ta biết rằng niềm tin của Giáo Hội không lệ thuộc vào cách diễn tả đặc thù nào, trái lại, phù hợp với tất cả các nền văn hóa trên thế giới. Do đó, bổn phận của các tín hữu trong các nền văn hóa địa phương là cần đào sâu và diễn tả tính duy nhất và tính hoàn vũ của niềm tin Ki-tô Giáo cũng như thực thể Giáo Hội sao cho phù hợp với nền văn hóa mình.[35]

Khi Giáo Hội được hiểu là gia đình của Thiên Chúa ở trần gian thì không có sự ngăn cách nào giữa những người trong gia đình này. Tất cả mọi người đều đồng tâm nhất trí xây dựng Gia Đình Giáo Hội và ý thức rằng căn tính, đời sống và sứ mệnh của Gia Đình Giáo Hội cũng chính là căn tính, đời sống và sứ mệnh của con cái Giáo Hội. Biên giới tuổi tác, trình độ văn hóa hay những dị biệt khác không còn quan trọng nữa mà là sự hòa hợp của những con người cùng phẩm giá, nhưng khác biệt về chức năng trong Gia Đình Giáo Hội. Theo thánh Phao-lô, tương quan giữa những người lãnh đạo và các tín hữu cũng là tương quan trong gia đình. Ngài nói với tín hữu Cô-rin-tô rằng “tôi nói với anh em như nói với con cái: anh em cũng hãy mở rộng tấm lòng” (2 Cr 6,13).

Việc đào sâu, tìm hiểu căn tính, đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội như là Gia Đình Thiên Chúa cho phép Giáo Hội trả lời cho những thách đố nảy sinh trong thế giới hôm nay liên quan đến đời sống nội tại của Giáo Hội, chẳng hạn, (1) vai trò của cá nhân trong Giáo Hội, (2) vai trò của Gia Đình Giáo Hội, (3) vai trò của các hình thức gia đình khác trong Giáo Hội. Việc đào sâu, tìm hiểu này cũng giúp Gia Đình Giáo Hội trả lời cho những thách đố khác đối với các gia đình cơ bản nói chung, chẳng hạn, (1) thách đố về quan niệm gia đình, (2) thách đố về đời sống gia đình, (3) thách đố về thần học gia đình, (4) thách đố về mục vụ gia đình, (5) thách đố về định đường hướng gia đình, (6) thách đố về vai trò của gia đình trong xã hội. Hơn thế nữa, việc đào sâu, tìm hiểu căn tính, đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội như là Gia Đình Thiên Chúa còn cho phép Giáo Hội cung cấp hi vọng và viễn cảnh chính xác hơn cho toàn thể mọi người trong gia đình nhân loại. Đồng thời, cho phép Giáo Hội có được tiếng nói trong những vấn đề cụ thể như phân biệt đối xử bất công dựa trên văn hóa, sắc tộc, màu da, phái tính, đẳng cấp, tuổi tác hay hạn chế sinh sản bằng các phương thức trái tự nhiên, trái đạo lý hay nạn ly dị, tái hôn, lạm dụng tính dục và các hình thức ‘bần cùng hóa gia đình’ đang nảy sinh trong xã hội hôm nay.[36]

Kinh nghiệm cuộc sống cho chúng ta nhận thức rằng những người trong gia đình yêu thương và liên đới với nhau cách chân thành và đúng đắn hơn những người thuộc các tổ chức tập thể khác. Bởi vì, ngôn ngữ gia đình là ngôn ngữ both/and (cả hai/và), ngôn ngữ của tương quan, liên đới, phụ thuộc lẫn nhau, nói cách khác, ngôn ngữ gia đình là ngôn ngữ tình yêu. Khi các Ki-tô hữu ý thức rằng họ là anh chị em trong cùng một gia đình thì trách nhiệm của họ đối với nhau luôn cụ thể và thiết thực. ‘Máu loãng hơn nước lã’, các Ki-tô hữu là những người cùng chung ‘dòng máu’, cùng chung ‘dòng sự sống’ khởi từ Thiên Chúa. ‘Dòng máu’, ‘dòng sự sống’ này tích hợp và định hình ‘dòng máu sinh học’, ‘dòng máu chủng tộc’, ‘dòng máu quốc gia’ hay bất cứ dòng máu nào khác.

Khi các Ki-tô hữu hiểu Giáo Hội như là gia đình thì sự quan tâm của họ đối với Giáo Hội sẽ khác đi. Họ không đến với Giáo Hội như đến với một câu lạc bộ. Họ không đến với Giáo Hội như là khán giả của một buổi hòa nhạc hay thể thao. Họ không đến với Giáo Hội như là một nghĩa vụ. Họ không đến với Giáo Hội theo những thời điểm rời rạc, nhưng là toàn bộ sự hiện hữu và cuộc sống họ. Các Ki-tô hữu đến với Giáo Hội bằng con tim đầy nhiệt tâm, yêu mến của họ, đồng thời, họ vững tin rằng chính nhờ Giáo Hội và qua Giáo Hội họ tìm được nguồn hạnh phúc và bình an đúng nghĩa, bình an của Thiên Chúa, giữa những khó khăn, bất trắc của cuộc sống hằng ngày (Ga 14,27).

Khi các Ki-tô hữu nhận thức rằng nhờ Bí Tích Rửa Tội, họ trở thành con cái Thiên Chúa và anh chị em trong Gia Đình Thiên Chúa ở trần gian, thì cũng là khi họ nhận ra sự cần thiết để thúc đẩy tiến trình hiệp nhất Ki-tô hữu trên toàn thế giới (ecumenism). Tiến trình hiệp nhất này sẽ được triển nở khi các Ki-tô hữu nhận thức rằng họ là anh chị em một nhà. Sự chia rẽ trong Giáo Hội bởi các giáo phái khác nhau không làm mất đi căn tính gia đình của thực tại được Đức Giê-su thiết lập ở trần gian là chính Giáo Hội. Như đã được đề cập ở trên, Gia đình Giáo Hội luôn lớn hơn bất cứ cộng đoàn Ki-tô hữu nào: Công Giáo, Tin Lành, Anh Giáo, Chính Thống cũng như những cộng đoàn khác nhau phát sinh từ bốn nhánh chính này. Lời cầu nguyện của Đức Giê-su trước khi bước vào cuộc khổ nạn cho sự hiệp nhất của những ai bước theo chân Người vẫn còn vang vọng trong đời sống của các cộng đoàn tin nhận Đức Giê-su vào thực thi giáo huấn của Người.[37]

Một trong những vấn nạn được nhiều người quan tâm hiện nay đó là chủ nghĩa khủng bố. Nhìn bên ngoài, chúng ta thấy rằng khủng bố như là một hiện tượng chính trị, xã hội, nhưng tận căn, chúng ta thấy rằng khủng bố đúng hơn là vấn nạn tôn giáo. Chính sự lạm dụng tôn giáo, tôn giáo quá khích dẫn tới khủng bố. Khi mà người ta cho rằng Thượng Đế đứng về phía họ, khi mà người ta cho rằng Thượng Đế của họ là vĩ đại nhất, khi mà người ta không công nhận sự tự do lương tâm, khi mà người ta cho rằng ai muốn an toàn thì phải suy nghĩ và hành động như họ, bởi vì, họ được Thượng Đế hướng dẫn,…, khi đó người ta sẽ tìm mọi cách để hủy diệt người khác. Trái lại, khi người ta nhìn nhận rằng tất cả mọi người trong gia đình nhân loại đều là con của cùng một Cha Trên Trời và tất cả mọi người là anh chị em của nhau, người ta sẽ có những suy nghĩ và hành động tích cực hơn. Lịch sử nhân loại minh chứng rằng tôn giáo cực đoan, tôn giáo quá khích không bao giờ là câu trả lời cho những đau khổ, bất an của gia đình nhân loại. Bao lâu con người chưa tìm được tiếng nói chung và không nhận nhau như anh chị em trong Gia Đình Thiên Chúa, bấy lâu con người còn phải chứng kiến những đau thương gây nên bởi anh em đồng loại.

Việc nhận thức Giáo Hội như là Gia Đình Thiên Chúa ở trần gian, đồng thời, nhận thức rằng ân sủng của Thiên Chúa hiện diện và hoạt động cách kỳ diệu nơi các tôn giáo khác cho phép Giáo Hội dấn thân trong việc đối thoại liên tôn cách hiệu quả hơn (interreligious dialogue). Khi đối thoại liên tôn được đặt nền tảng trên sự đối thoại giữa những người trong cùng gia đình nhân loại, cùng trăn trở về những chủ để như Thượng Đế, vũ trụ và con người thì hiệu quả của việc đối thoại sẽ phong phú hơn là việc đối thoại đặt nền tảng trên sự khác biệt về thần học hay thực hành tôn giáo với những khái niệm và ngôn ngữ trừu tượng. Khi mọi người thuộc các tôn giáo khác nhau đều nhìn nhận rằng chỉ có một Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo muôn vật muôn loài và rằng toàn thể mọi người trong gia đình nhân loại từ tạo thiên lập địa cho đến tận thế đều chung một khởi điểm, một lịch sử, một hướng đi và một đích đến thì tiến trình đối thoại liên tôn sẽ vượt qua mọi rào cản.

Như là Gia Đình Thiên Chúa ở trần gian, Giáo Hội kêu mời tất cả mọi người trong gia đình nhân loại quan tâm, chăm sóc lẫn nhau trên bình diện cá nhân cũng như tập thể. Trong thế giới hôm nay, sự lãnh đạm của con người ngày càng phổ biến và lan rộng. ‘Toàn cầu hóa lãnh đạm’ (globalisation of indifference) được xem là hệ quả tất yếu của chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa giải thiêng, chủ nghĩa thế tục và một số hình thức chủ nghĩa khác nảy sinh từ não trạng và lối sống thực dụng. Khi người ta khước từ Thiên Chúa, khước từ sự thánh thiêng, khước từ những giá trị trường cửu và không nhìn nhận nhau như anh chị em trong ngôi nhà chung của gia đình nhân loại, cũng là khi các hình thức chủ nghĩa như vậy nảy sinh và phát huy tác dụng. Lãnh đạm dẫn tới sự xuống cấp của đời sống gia đình trong xã hội loài người và làm cho con người ngày càng qui ngã trong khi thờ ơ với tha nhân cũng như không màng tới thế giới quanh mình.

Như là Gia Đình Thiên Chúa ở trần gian, Giáo Hội trở thành phương dược làm cho chủ nghĩa lãnh đạm và các hình thức chủ nghĩa khác ngày càng phai nhạt trong thế giới nhân sinh. Dõi theo Đức Giê-su và Tin Mừng của Người, Giáo Hội kêu mời tất cả mọi người trong gia đình nhân loại biết quan tâm phục vụ lẫn nhau trong hành trình tiến về Gia Đình Thiên Chúa sung mãn muôn đời.

Kết luận

Những xem xét, đánh giá và tổng hợp trên đây cho phép chúng ta nhận thức rằng bản chất của Giáo Hội là gia đình, đồng thời, cho phép chúng ta hiểu biết hơn về tương quan mật thiết giữa năm hình thức gia đình: Gia Đình Thiên Chúa, gia đình thế giới thụ tạo, gia đình nhân loại, Gia Đình Giáo Hội, gia đình cơ bản (cell of society/ecclesia domestica). Từ khởi thủy, gia đình nhân loại vừa là đỉnh cao vừa là trung tâm của chương trình Thiên Chúa sáng tạo. Người chúc phúc và thánh hóa gia đình nhân loại để gia đình nhân loại cùng cộng tác với Người trong việc sáng tạo và chăm sóc thế giới thụ tạo. Mặc dù gia đình khởi thủy của nhân loại bất xứng, Thiên Chúa vẫn luôn yêu thương nâng đỡ. Trải qua thăng trầm lịch sử, gia đình nhân loại được Thiên Chúa dẫn dắt và khi tới thời viên mãn, Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa đã trở nên Con của gia đình nhân loại trong gia đình Na-da-rét để thông phần đau khổ và cứu độ gia đình nhân loại.

Trong sứ mệnh của mình, Đức Giê-su Ki-tô mặc khải về Gia Đình Thiên Chúa. Người cho các môn đệ của mình biết rằng Thiên Chúa, Cha của Người, cũng là Cha của họ và của những ai đón nhận Người và Tin Mừng của Người qua muôn thế hệ. Với Đức Giê-su Ki-tô, Gia Đình Thiên Chúa hiện diện và hoạt động giữa lòng nhân thế. Người đã thiết lập Giáo Hội như là Thân Thể Người, để Gia Đình Thiên Chúa tiếp tục hiện diện và hoạt động nhờ Giáo Hội. Ngay từ buổi đầu, các môn đệ Đức Giê-su đã sống bầu khí gia đình này. Sau khi Đức Giê-su Phục Sinh và với sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, họ đã ra đi loan báo Tin Mừng Gia Đình Thiên Chúa cho toàn thể nhân loại. Việc nhận thức Giáo Hội như là Gia Đình Thiên Chúa giúp chúng ta hiểu căn tính, đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội ở trần gian là qui tụ tất cả mọi người về với Gia Đình Thiên Chúa.

Như là Gia Đình Thiên Chúa, Giáo Hội thông ban sự sống và nuôi dưỡng con cái mình bằng Lời Chúa, các bí tích và đời sống phụng tự, đồng thời, Giáo Hội phục vụ gia đình con cái mình giữa những khó khăn trong đời sống họ. Giáo Hội khuyến khích toàn thể con cái mình luôn hiệp thông với Giáo Hội và với nhau để loan báo Tin Mừng Gia Đình Thiên Chúa giữa môi trường sống của mình. Trong khi loan báo Tin Mừng Gia Đình Thiên Chúa, Giáo Hội phục vụ gia đình nhân loại bằng chính những giá trị của Gia Đình Thiên Chúa mà Giáo Hội lãnh nhận, sống và được ủy thác trao ban. Giáo Hội diễn tả Gia Đình Thiên Chúa cách trung thực nhất và luôn thâm tín rằng Gia Đình Thiên Chúa là khởi thủy, niềm hi vọng và cùng đích của gia đình nhân loại cùng toàn thể thế giới thụ tạo.

Pet. Nguyễn Văn Viên

[1] Xem thêm Rm 14,17; Pl 3,20.

[2] Xem thêm Gl 4,4-7.

[3] Xem thêm Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI, Tông Huấn Evangelii Nuntiandi 20.

[4] Xem thêm Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đích-tô XVI, Thông Điệp Caritas in Veritate 79 (2009).

[5] Công Đồng Vatican II, Sắc Lệnh Apostolicam Actuositatem 8.

[6] Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Lumen Gentium 48.

[7] Xem thêm Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Gaudium et Spes 24.

[8] Hội Đồng Giám Mục Châu Phi: Message of the Synod 23 (1994).

[9] Xem thêm thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, Tông Huấn Ecclesia in Africa 66.

[10] Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đích-tô XVI, Thông Điệp Deus Caritas Est 19.

[11] Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, Thông Điệp Dives in Misericordia 4 (1980).

[12] Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, Tông Huấn Ecclesia in Africa 114.

[13] Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô, Thông Điệp Laudato Si’ 52.

[14] Hội Đồng Giám Mục Châu Phi: Message of the Synod 57.

[15] Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đích-tô XVI, Thông Điệp Deus Caritas Est 25.

[16] Xem thêm Công Đồng Vatican II, Gaudium et Spes 24.

[17] Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, Thông Điệp Fides et Ratio 31 (1998).

[18] Descartes (1596–1650) được xem là ‘cha đẻ’ của triết học hiện đại.

[19] Xem thêm Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Gaudium et Spes 3

[20] Xem thêm thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, Tông Huấn Familiaris Consortio 86 và Is 53,1-12.

[21] Xem thêm thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, Thông Điệp Evangelium Vitae 92 (1995).

[22] Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, Tông Huấn Ecclesia in Asia 32.

[23] Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, Tông Huấn Ecclesia in Africa 114.

[24] Xem thêm Công Đồng Vatican II, Sắc Lệnh Apostolicam Actuositatem 8.

[25] Xem thêm Lc 10,29-37 (dụ ngôn người Sa-ma-ri tốt lành).

[26] Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Gaudium et Spes 42.

[27] Thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, Tông Huấn Ecclesia in Africa 114.

[28] Xem thêm Công Đồng Vatican II, Tuyên Ngôn Nostra Aetate 2.

[29] Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô, Holy Mass for the Opening of the Extraordinary Synod on the Family (Vatican Basilica, Sunday, 5 October 2014).

[30] Xem thêm Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo 1818.

[31] Xem thêm thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, Tông Huấn Ecclesia in Asia 46.

[32] Xem thêm Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô, Thông Điệp Laudato Si’ 100.

[33] Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo 760.

[34] Xem thêm Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Lumen Gentium 3, 7, 9, 17. Mỗi hình ảnh có những giới hạn nhất định. Tổng hợp các hình ảnh Giáo Hội cũng không thể diễn tả đầy đủ thực thể Giáo Hội. Nhiều hình ảnh diễn tả Giáo Hội thì tốt hơn là ít hình ảnh. Khi diễn tả Nước Thiên Chúa, Đức Giê-su không chỉ dùng một hình ảnh mà nhiều hình ảnh, chẳng hạn, hình ảnh hạt cải, men trong bột, ruộng lúa.

[35] Xem thêm thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II, Tông Huấn Ecclesia in Africa 63.

[36] Xem thêm Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Gaudium et Spes 29.

[37] Xem thêm Ga 17,1-26.

About The Author

Number of Entries : 573

© TRANG THÔNG TIN CHÍNH THỨC CỦA ĐẠI CHỦNG VIỆN VINH THANH

Scroll to top