You Are Here: Home » SUY NIỆM » Hoán Cải, Hành Trình Trở Về Với Chúa

Hoán Cải, Hành Trình Trở Về Với Chúa

                                                  Lm.  Phaolô Bùi Đình Cao
(ĐCV. Vinh Thanh)  

sam-hoiTừ xưa tới nay hai chữ “hoán cải” vẫn làm cho khá nhiều người cảm thấy khó chịu và ngại ngùng khi nói hoặc khi nghe nhắc tới nó. Như một tác giả đã nói trong bài viết của mình, ngại ngùng, không phải vì cho rằng mình không có tội lỗi gì để hoán cải, nhưng ngại vì cho rằng những đòi hỏi của hoán cải hầu như bắt người ta phải cố gắng, phải hy sinh từ bỏ, nó làm cho cuộc sống không còn được thoải mái và tự do.[1] Dẫu khó chịu hay ngại ngùng mức nào đi nữa thì chúng ta cũng không thể tránh né vấn đề và cũng không thể không cần đến hoán cải để làm hòa, vì chúng ta đang sống trong một thế giới còn đầy dẫy những con người hằng làm tổn thương đến Thượng Đế và đến đồng loại của mình. Do vậy, có thể nói được rằng hoán cải là vấn đề muôn thuở của nhân loại nói chung và của dân Thiên Chúa nói riêng. Hoán cải được nhắc tới rất nhiều trong các giáo huấn Kinh thánh, từ thời các Ngôn sứ đến Đức Giêsu và các Tông đồ. Thực hiện sứ mệnh Chúa Kitô ủy thác, Giáo hội tiếp tục rao giảng về sự sám hối và dùng những phương thế thích hợp để giúp hối nhân nhận được ơn tha tội và được cứu độ.

Trong thực tế, mỗi khi đã đánh mất căn tính làm con Chúa hay khi đã mất ơn Chúa do tội gây nên, con người liền được mời gọi quay về với Thiên Chúa thông qua con đường hoán cải. Sứ điệp này được coi là hết sức cần thiết và gấp rút gửi tới tất cả những ai muốn được cứu độ. Trong Cựu ước, mỗi khi dân Chúa phản bội giao ước, vi phạm lề luật của Chúa thì các ngôn sứ liền lên tiếng kêu gọi họ ăn năn sám hối và trở về với nẻo chính đường ngay. Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ rao giảng của mình bằng việc kêu gọi mọi người thực hiện sự sám hối: “Anh em hãy sám hối vì Nước Trời đã gần đến” (Mt 7, 14). Lời kêu gọi này không chỉ xảy ra một lần, song nó vẫn tiếp tục vang lên trong suốt cuộc đời rao giảng của Chúa Giêsu cho tới khi chết trên thập giá. Và đây còn là lời trăng trối của Chúa Giêsu cho các môn đệ của Ngài khi xưa và Giáo hội hôm nay: “Phải nhân danh Thầy mà giảng dạy cho muôn dân, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội” (Lc 24, 47).

1. Thuật ngữ hoán cải

Từ hoán cải gần nghĩa với từ repentir hay từ conversion trong tiếng Pháp. Là một từ đa nghĩa, nhưng nói chung nó nói lên một sự thay đổi đời sống, cung cách, thái độ, lời nói hoặc hành vi để hướng tới một lối sống mới, tốt đẹp, hay hơn và hoàn hảo hơn. Xét riêng trên bình diện tôn giáo, tất cả những quyết định thay đổi đó đều nhằm đưa con người trở về với chân lý, với sự thiện, có nghĩa là trở về với Chúa, kết hợp và sống gần gũi với Ngài. Tuy nhiên, theo cách này, từ repentir hay conversion vẫn chưa thể lột tả và biểu đạt được một cách triệt để và toàn diện hành vi hoán cải nơi mỗi người. Thay vào đó, để hiểu rõ căn cơ bên ngoài lẫn bên trong của việc hoán cải ta phải tìm hiểu từ metanoia trong tiếng Hy Lạp.

Trong khi repentir có nghĩa là nuối tiếc về lỗi lầm mà mình đã sai phạm và ước muốn sửa chữa lỗi lầm, thay đổi cách sống để trở nên tốt hơn,[2] thì từ metanoia trong tiếng Hy Lạp cũng có nghĩa là thay đổi, nhưng đây lại là một sự thay đổi bên trong, thay đổi ý hướng, thay đổi tâm hồn (changenment d’esprit).[3] Hay nói cách khác, metanoia có nghĩa là thay đổi lòng dạ, ý hướng, đau đớn ăn năn, cải tà quy chính. Như vậy, hoán cải là thay đổi lối sống, cõi lòng, tâm trí một cách triệt để và tận căn.

Khi dùng từ metanoia trong Kinh thánh Cựu ước và Tân ước, các tác giả muốn nói lên sự thay đổi tâm tình, não trạng, hối tiếc, hối hận. Cách đặc biệt, nó còn được dùng để nói đến một sự thay đổi hướng đi, thay đổi đường xưa lối cũ, có nghĩa là từ bỏ đường tà để trở lại đường chính, triệt để quay về với Thiên Chúa. Như thế, hoán cải không chỉ là thay đổi việc làm bên ngoài hay chỉ bên trong tâm trí mà thôi, nhưng là thay đổi cả con người, thay đổi cả trong ý muốn cũng như trong hành động. Do đó, ta thấy được rằng hoán cải, ngoài chiều kích luân lý (bỏ điều dữ làm điều lành) còn có chiều kích thần học – chiều kích này làm động lực cho chiều kích luân lý. Hoán cải không đơn thuần chỉ là sửa chữa những lầm lỗi của của mình hay từ bỏ đường tà, nhưng điều cơ bản là phải nhận biết tôi là ai trước mặt Chúa. Hoán cải là được hiệp thông với Chúa, có nghĩa là nhận ra thân phận thụ tạo của mình, tuyệt đối qui hướng về với Thiên Chúa và ở lại trong Ngài.

Những phân tích trên đây cho chúng ta thấy rõ hai giá trị rất thực tế của việc hoán cải: (1) Hoán cải là hướng về quá khứ để hối hận đau buồn, muốn được sửa chữa và thay đổi; (2) Nhìn nhận quá khứ nhưng không dừng lại ở đó, song là hướng đến tương lai. Tóm lai, hoán cải là hướng về Thiên Chúa để được ở bên Ngài và vui hưởng cuộc sống bất diệt với Ngài.

2. Tiếng gọi hoán cải trong Kinh thánh

Kinh thánh Cựu ước cho ta thấy vô vàn lời kêu gọi hoán cải bằng cả nghi thức và phụng vụ. Ăn chay và cử hành nghi thức sám hối là hình thức khá phổ biến. Sách Samuel nói rõ về hình thức thức này như sau: “Họ tập hợp về Mitpa. Họ múc nước và đổ ra trước nhan Đức Chúa. Ngày hôm ấy họ ăn chay và nói tại đó : chúng tôi đắc tội với Đức Chúa” (1Sm 7,6; 2Sm 12,16; Tl 20, 26). Hình thức mặc áo vải thô và ngồi trên tro cũng thường xuyên được thực hiện, đó là trường hợp của vua Khitkigia, ông xé áo mình và mặc áo vải thô khi nghe những lời xấu xa (2V 19,1; Is 22,12; Gn 3,5-8). Tắm rửa cũng được dùng để chỉ việc sám hối, đó là trường hợp thanh tẩy các thầy Lêvi (Ds 8,7; 19,7). Ngoài ra, còn nhiều nghi thức xã hội khác cũng được áp dụng (Lv 4, 16,20). 

Tuy nhiên, những nghi thức sám hối bên ngoài ấy thường bị các ngôn sứ chỉ trích, bởi yếu tố quan trọng nhất của việc sám hối không chỉ là ăn chay, tắm rửa hay mặc áo vai thô, mà là phải thay đổi tâm hồn, thay đổi cách sống, thái độ, não trạng, nghĩa là phải hoán cải thực sự trong lòng. Nhận thấy được tình trạng nệ hình thức này ngôn sứ Samuel mạnh mẽ lên tiếng rằng: “Đức Chúa có ưa thích các lễ toàn thiêu và hy lễ như ưa thích người ta vâng lời Đức Chúa không? Này, vâng phục thì tốt hơn là dâng hy lễ, lắng nghe thì tốt hơn là dâng cừu mỡ” (1Sm 15,22; Is 1,11-17). Hoán cải trong lòng, có nghĩa là phải thay đổi lộ trình hay hướng đi không đúng mục đích. Trong hoán cải, tội nhân được kêu mời và thúc giục quay về với Chúa để được chữa lành và được vui sống bên Người. Bên cạnh hoán cải, tội nhân còn được mời gọi xưng thú tội lỗi để được thứ tha. Đây là chủ đề được khai thác khá nhiều trong các Thánh vịnh: Hạnh phúc thay, kẻ lỗi lầm mà được tha thứ, người có tội mà được khoan dung . . . (Tv 32,38,103). Rõ nét nhất là Thánh Vịnh 51, ghi lại lời cầu của vua Đavit sau khi ông ý thức được tội của mình, ông nói: “Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xóa tội con đã phạm . . .” Việc hoán cải của vị ngôn sứ được thực hiện dưới hình thức một lời cầu nguyện, đó là: nhìn nhận tội lỗi (c.5), xin thanh tẩy tâm hồn (c. 3 ;9), xin ban ơn để thay đổi lòng dạ (c. 12), và quyết tâm sống một đời sống đạo đức (c. 15-19).[4]

Ngoài hoán cải cá nhân, Cựu ước cũng kêu gọi hoán cải tập thể. Khi nhận thấy tình trạng tội lỗi của dân chúng, các ngôn sứ thường nhắc tới sự mù tối, bất trung của tập thể đối với Giavê và sự vi phạm Giao ước mà họ đã thề hứa với Người. Vì thế, toàn thể dân chúng cũng được yêu cầu trở về với Thiên Chúa. “Dân này chỉ đến gần Ta bằng miệng, tôn vinh Ta bằng môi, còn lòng chúng thì xa Ta lắm; chúng chỉ kính sợ Ta theo lệnh của người phàm, nhưng đó chỉ là sáo ngữ” (Is 29,13 ; Gr 31,31-34). Sách Aica cũng dạy điều đó khi nói: “Xin đưa chúng con về với Ngài, lạy Đức Chúa, để chúng con trở về” (Ac 5,21). Một việc hoán cải tập thể khác cũng được thực hiện bởi dân thành Ninivê sau khi họ nghe lời rao giảng của tiên tri Giona (Gn 3,1-10).

Hoán cải, dù là cá nhân hay tập thể, điều quan trọng là mỗi người phải thực lòng thay đổi con tim, lòng dạ, lối sống, thái độ và xưng thú lỗi lầm của mình với Thiên Chúa để được sống với Ngài. Tóm lại, với Cựu ước, hoán cải có nghĩa là ăn năn hối hận, đổi hướng, từ bỏ ngẫu tượng, thay đổi cách sống, trở về với Thiên Chúa (x. Kn 11,23 ; Is 1,27 ; Tb 14,6).[5]

Với Tân ước, hoán cải được coi là một trong những đòi hỏi cơ bản trong hành trình sống của mỗi người, cách riêng là Kitô hữu. Giao thời giữa Cựu và Tân Ước, trong tư cách là người dọn đường cho Đấng Mêsia, vị Tiền hô Gioan Tẩy giả không ngừng kêu gọi dân chúng hoán cải để trở về với Chúa và lãnh nhận ơn cứu độ. Nhiệt thành kêu gọi và có khi là gào thét mọi người phải thay đổi đời sống và đổi mới tâm hồn để dọn đường cho Chúa Cứu Thế đến là trọng tâm lời giảng của Ngài. Điều này đã được Tin mừng Luca ghi nhận: “Ông liền đi khắp vùng ven sông Giođan, rao giảng, kêu gọi người ta chịu phép rửa và tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội” (Lc 3,3). Cả cuộc đời của mình, Gioan Tẩy giả đã cống hiến cho việc rao giảng về sự sám hối cho dân chúng. Từ những người dân thường cho đến người thu thuế, binh lính và quan chức đều được Gioan dạy bảo hãy bỏ đường tà và những việc làm bất chính để chuẩn bị tâm hồn đón nhận Đấng Mêssia sắp ngự đến (x. Lc 3,10-14).

Mời gọi hoán cải là lời rao giảng đầu tiên của Đức Giêsu khi bắt đầu thi hành sứ vụ công khai: “Hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin mừng” (Mc 1,15). Áo cưới mà ta phải mặc khi đi dự tiệc Nước Trời chẳng gì khác hơn là sự hoán cải trong lòng (Mt 22,11-13). Ngài khẳng định hoán cải và tin vào Tin mừng là điều kiện cơ bản để được vào Nước Trời. Lời mời gọi ấy của Đức Giêsu được gửi tới cho hết mọi người, tội nhân cũng như người công chính, nhưng cách riêng cho các tội nhân (Lc 5, 32). Hai câu chuyện nổi bật cho thấy sự hoán cải của các tội nhân, đó trường hợp là người phụ nữ tội lỗi, vốn được xem là người tai tiếng phạm tội trong thành (x. Lc 7,36-50) và câu chuyện người thu thuế Giakêu, người thu thuế trưởng (x. Lc 19,5-9). Đây quả là hai câu chuyện trình bày cho chúng ta thấy một sự hoán cải tận căn và thay đổi hoàn toàn. Sau khi khám phá ra hành vi sai trái của mình và khi nhận ra Chúa, họ đã thay đổi cách sống và thực tâm trở về với đường ngay lẽ phải, trở về với Chúa. Dụ ngôn người cha nhân hậu hay đứa con đi hoang cũng đều nhằm minh họa cho thấy Thiên Chúa luôn sẵn sàng tha thứ (Lc 15).[6]

Tiếp tục giáo lý của Chúa Giêsu, các Tông đồ không ngừng kêu gọi mọi người hãy hoán cải. Bài giảng đầu tiên của Phêrô vào ngày lễ Ngũ tuần đã làm cho đám đông dân chúng thay đổi cõi lòng. Sách Công vụ kể: “Nghe thế, họ đau đớn trong lòng, và hỏi ông Phêrô cùng các Tông đồ khác: ‘Thưa các anh, vậy chúng tôi phải làm gì ?’ Ông đáp: ‘anh em hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô, để được ơn tha tội’” (Cv 2,37-38). Một cách cụ thể hơn, sau khi đã chỉ cho dân chúng thấy hành vi chối bỏ và giết chết Đấng Thánh, Phêrô liền nói với dân chúng: “Bởi vậy, hãy ăn năn và quay trở lại, tội của anh em sẽ được quên đi, thời đổi mới sẽ đến khi Chúa hiện diện, Người sẽ gởi Đấng Kitô là Đức Giêsu mà Người đã định cho anh em” (Cv 3,19-20).

Cách riêng, theo Tông đồ Phaolô, hoán cải là phải thay đổi tận căn để nên giống Đức Kitô hơn, nghĩa là lãnh nhận phép rửa để trở thành tạo vật mới và sống cuộc sống mới, cuộc sống của con cái Thiên Chúa: “Xưa kia anh em ở trong tối tăm, nhưng nay ở trong ánh sáng, hãy bước đi như con cái của sự sáng! Nay anh em đã là con người mới, hãy mặc lấy bản tính mới, được tạo dựng giống Thiên Chúa” (Rm 6,4 ; 2Co 5,17). Mặt khác, hoán cải không chỉ dừng lại ở việc sửa chữa, thay đổi, nhưng còn phải làm hòa với Thiên Chúa để được tha tội, thánh nhân nói tiếp: thưa anh em, “Chúng tôi là sứ giả thay mặt Đức Kitô, như thể chính Thiên Chúa dùng chúng tôi mà khuyên dạy. Vậy, nhân danh Đức Kitô, chúng tôi nài xin anh em hãy làm hoà với Thiên Chúa” (2Cr 5,20). Với Phaolô, hoán cải mang ý nghĩa “thay đổi lòng trí” (changement d’esprit) và thay đổi lối sống và hướng đi hay lộ trình (changement de chemin). Hành trình Damas của thánh nhân đã nói lên điều đó, ngoài việc đau đớn sám hối còn có niềm vui trở về với Thiên Chúa.

 3. Trọng tâm của việc hoán cải

Ăn năn chê ghét tội lỗi

Tội cắt đứt mối tương quan cha con, tương quan yêu thương giữa Thiên Chúa và con người; nó đe dọa tới ơn cứu độ của mỗi người. Tội làm cho con người sống trong bất hạnh, khổ đau, cô độc và phải lệ thuộc vào những điều xấu. Đó là lý do khiến Thiên Chúa hằng kêu gọi con người hãy sám hối và ăn năn. Ăn năn sám hối tức là quay lưng với tội lỗi, hối hận vì đã làm điều sai trái, xấu xa, từ đó ước ao sửa đổi, làm lại cuộc đời, sống lại tình trạng làm con Chúa. Vậy, hoán cải là ăn năn chê ghét những hành vi xấu xa mà tôi, anh, bạn đã gây ra cho Chúa và cho tha nhân để trở về với Thiên Chúa cứu độ.

Hoán cải là thực sự ăn năn để trở về. Dụ ngôn người con phung phá hay người cha nhân hậu đã cho chúng ta một cái nhìn thật thâm thúy và hết sức cảm động. Người con vì muốn được thoát khỏi vòng tay của cha mẹ, muốn tìm một cuộc sống khác, theo anh ta là thoải mái và tự do hơn, vì thế, anh ta quyết định bỏ nhà ra đi để có được cuộc sống ấy. Nhưng rốt cuộc anh ta sống trong cảnh khốn khổ, không cơm ăn, không tình cảm, thiếu thốn trăm bề. Ý thức được tình trạng đau khổ và cô đơn ấy, anh đã hối hận về cách hành xử và lối sống của mình nên quyết định quay trở về với cha và xin cha tha thứ (cf. Lc 15,11-24).[7] Hành vi trở về luôn gắn liền với ăn năn. Mỗi khi ăn năn, tội nhân sẽ cảm thấy hết sức đau khổ và buồn phiền trước những kết quả thật đắng cay do hành vi sai trái mình gây ra, và sẽ cảm thấy bị thôi thúc làm lại cuộc đời.

Rơi vào tình trạng tội lỗi, mất đi mối liên hệ với Chúa, đánh mất ơn cứu độ và sự thánh thiện, xa lạ với Thiên Chúa và với cộng đồng dân Chúa, đó là những lý do khiến cho lòng buồn phiền, đau khổ trước tội lỗi, từ đó, tội nhân sẽ gớm ghét tội. Người ăn năn tội tự lên án những việc xấu mình làm và toàn bộ cuộc đời tội lỗi của mình. Khi làm như vậy, tội nhân đã đặt mình trong tư thế sẵn sàng đón nhận ơn tha thứ của Thiên Chúa. Đó chính là hành vi mang lại sự tha thứ và cứu độ của Thiên Chúa. Thánh Phaolô nói, “Nếu ta tự xét xử mình, ta sẽ không bị xét xử và sẽ không bị kết án cùng thế gian (1Cr 11,31).”[8] Gớm ghét tội lỗi cách chân thành sẽ đưa ta tới chỗ từ giã hay khước từ và tránh tội với tất cả nỗ lực của mình. Làm được như thế là đã đoạn tuyệt với tình trạng hư hỏng và với cách sống sai lạc. Phải nói được rằng, ăn năn tội là biết thưa vâng với Thiên Chúa, là đã đoạn tuyệt với mọi sự vi phạm ý Chúa và luật Chúa, là cương quyết loại bỏ mọi sự bất công và vô lề luật để hoàn toàn quy thuận luật Chúa, là nơi biểu hiện ý muốn cứu độ của Người.[9]

Trở về với ơn cứu độ của Chúa

Xin đưa chúng con về với Ngài, lạy Đức Chúa (Ac 5,21). Hoán cải là kiểm điểm lại quá khứ để hối hận, đau buồn vì những lỗi đã phạm. Tuy nhiên, hướng về quá khứ tội lỗi không phải để dừng lại ở đó, song là để được trở về ơn cứu độ của Chúa. Xem xét tội lỗi, tâm tình sám hối tạo ra một tiến trình mới, đó là một cuộc tái sinh, một sự thay đổi tận căn, là hướng về Thiên Chúa cứu độ trong Đức Kitô. Do đó, trọng tâm của hoán cải là muốn được giao hòa với Thiên Chúa. Hoán cải là khôi phục lại tình yêu buổi ban đầu đối với Thiên Chúa giao ước (cf. Gr 3,12-14), là lên đường về nhà Cha: “Tôi sẽ chỗi dậy và trở về cùng cha tôi” (Lc 15,18). Chàng thanh niên trong dụ ngôn này khi rơi vào hoàn cảnh khốn khổ nơi xứ lạ đã tự nhủ lòng mình trở về với cha. Đây là một quyết định quay lại với ý muốn cứu độ của Chúa và đó là một tin mừng. Cho nên, khi về nhà anh đã ta được đón nhận một cách vui mừng và sung sướng: một bữa tiệc đã được tổ chức để đón tiếp anh.

Tất cả mọi lời rao giảng sám hối từ các Ngôn sứ cho đến Chúa Giêsu và các Tông đồ luôn có liên hệ mật thiết với Thiên Chúa hay Nước Trời. Khi rao giảng về sự sám hối, các Ngôn sứ cũng thường nhắc nhở cho Israel về tội lỗi của họ (Gr 35,13), nhưng đó là một lời mời gọi hướng về Thiên Chúa (Is 45,22 ; Ge 2,12). Hướng về Thiên Chúa là trở lại với ơn cứu độ, là tuân giữ lề luật mà Ngài đã ban hành. Lời kêu gọi hoán cải của Gioan Tẩy Giả cũng cho thấy rằng ông không muốn làm cho đám thính giả chỉ dừng lại ở tình trạng đau buồn về tội lỗi, mà hơn thế nữa, ông muốn nói đến viễn tượng vinh quang của Nước Thiên Chúa đã đến (Mt 3,2). Gioan muốn họ nhìn về phía trước, hướng về Đấng Cứu Thế đang đến, Đấng cao trọng hơn ông, đến nỗi ông không đáng cởi dây giày cho Người (Lc 3,16). Lời rao giảng của Chúa Giêsu cũng không có gì khác, trọng tâm lời rao giảng của Ngài là Nước Trời. Hoán cải vẫn là nội dung chính, tuy nhiên, trong nội dung này có một chi tiết mới liên hệ đến Ngài và sứ điệp của Ngài, đó là: “Hãy sám hối và tin vào Tin mừng” (Mc 1,15). Hoán cải được thực hiện trong niềm tin vào ơn cứu độ do Đức Kitô thực hiện. Hoán cải thật sự chính là hành động “Tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người trước” (Mt 6,33).

4. Những điều kiện phải có để thực thi hoán cải

Hoán cải là từ bỏ những hành vi sai trái, những lối sống sa đọa và những thái độ cố chấp trước việc nhận biết Thiên Chúa là Cha đầy lòng yêu thương. Đó là chết đi để được sống lại, hủy diệt tội lỗi để được làm con Thiên Chúa và được kết hợp với Đức Kitô. Thần học nêu lên một số điều kiện cần thiết để thực thi hoán cải như sau: 

1) Khiêm tốn nhìn nhận tội lỗi của mình. Khi được hỏi làm sao để xa lánh tội lỗi, thánh Augustino đã tuyên bố rất mạnh mẽ rằng bước thứ nhất để được giải thoát khỏi tội là “khiêm tốn và bước thứ hai cũng là khiêm tốn, bước thứ ba cũng là khiêm tốn. Nếu ai có hỏi tôi nhiều đến đâu, tôi cũng trả lời như thế: khiêm tốn.” Khiêm nhường là chìa khóa giúp ta nhận thấy được thân phận tội lỗi của mình để hoán cải và được tha tội, nó cũng giúp ta ý thức rõ sự lệ thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa và sẽ nhận được ân phúc của Ngài. Đức Trinh Nữ Maria, người tôi tớ khiêm nhường của Chúa đã thốt lên trong kinh Magnificat về giá trị và hiệu quả của khiêm nhường. Người kiêu căng sẽ bị loại trừ, kẻ khiêm nhường sẽ được Chúa trọng thưởng: “Chúa . . . dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (Lc 1,51-52). Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, cũng để lại cho ta mẫu gương về bài học khiêm nhường: “Dẫu là Con Thiên Chúa, Người hạ mình vâng lời cho đến chết, chết trên thập tự. Chính vì thế Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu” (Pl 2,8-11). 

Tin mừng Luca kể cho chúng ta câu chuyện về người biệt phái tự kiêu và người thu thuế khiêm tốn cùng lên đề thờ cầu nguyện. Người biệt phái tự mãn, đứng thẳng khoe khoang với Chúa về những việc tốt của mình. Anh cho rằng mình toàn làm việc tốt, không có tội gì cả, lại còn ăn chay và dâng cúng một phần mười lợi tức cho Chúa (Lc 18,12). Còn người thu thuế thì đứng đàng xa, khiêm tốn cầu nguyện cùng Chúa với lòng ăn hoán cải: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội” (Lc 18,13). Hai thái độ hoàn toàn khác biệt, một bên là tự kiêu, một bên biết hạ mình xuống, đấm ngực ăn năn tội. Rốt cuộc người thu thuế đã được thứ tha và được ban thưởng, còn người biệt phái thì không. Thông qua câu chuyện này, Đức Giêsu kết luận: “Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên” (x. Lc 18,9-14). Khiêm tốn nhìn nhận tội lỗi của mình cũng là hành động cao quý của người con đi hoang. Anh không tìm cách bào chữa, tránh né hay đổ lỗi cho ai, nhưng chỉ biết gục đầu trước mặt cha và thưa rằng “Thưa cha, con đã phạm tội với Trời và với cha; con không đáng được gọi là con cha nữa” (Lc 15,21). Bí quyết để được trở nên cao trọng là “trở nên như trẻ nhỏ” (Mt 18,4). Đây là sự khiêm nhường đích thực. Thiếu nó, người ta không thể trở thành con cái Cha trên trời, là Đấng hạ kẻ kiêu căng và đề cao kẻ khiêm nhường.

2) Khiêm tốn để nhận ra các khuyết điểm hay tội lỗi của mình tức là sẵn sàng làm mới lại chính mình về mặt luân lý. Xưng thú tội lỗi là điều cần, nhưng ăn năn hoán cải là bước đầu tiên và điều cần thiết hơn. Ăn năn tội có nghĩa là quyết tâm chỉnh sửa lại đời sống cho phù hợp với ý Chúa. Đúng vậy, “Hoán cải đòi hỏi những nổ lực của cá nhân và sự chiến đấu chống lại các quyền lực sự dữ, chống lại những ‘ham mê của xác thịt, ham mê của đôi mắt và sự tự kiêu tự phụ’”(1Ga 2,16). Bởi đó, ai chấp nhận thỏa hiệp với tinh thần thế gian thì không thể vào được Nước Chúa. Trong Tin mừng Matthêu Chúa Giêsu tuyên bố: “Ai không vác thập giá mình mà theo Tôi thì không xứng đáng với tôi” (Mt 10,38). Karl H.Peschke, S.V.D. cũng nhận định, nhìn nhận tội lỗi hay đau buồn trong lòng sẽ chẳng ích chi, nếu không sẵn sàng chiến đấu cho triều đại của Thiên Chúa đến trong linh hồn tôi và đến với toàn thể thế giới.[10] Chống lại các ham muốn bất chính và những lối sống vô luân là ta đang sẵn sàng để cho Chúa chiếm hữu, ngự trị trong tâm hồn mình và trong thế giới. Đó là cơ sở để chúng ta và mọi người được Thiên Chúa biến đổi thành con người mới và trong một nhân loại mới. 

3) Hoán cải là nỗ lực của ta, nhưng lại là ơn Chúa ban. Có thể nói, trong mọi trường hợp, chính Chúa đã đi bước trước. Ngài đã đi tìm kiếm “con chiên thất lạc” và đem nó về nhập đàn (Lc 15,4-7). Ngài đã đi bước trước để tìm kiếm những người tội lỗi và giúp họ trở về với Thiên Chúa. Trong câu chuyện Dakêu, đúng là ông ấy muốn xem thấy Chúa và đã trèo lên cây sung để nhìn. Tuy nhiên, Đức Giêsu đã thấy ông trước và gọi tên ông, chính Ngài hứa sẽ lưu lại nhà ông nên mới có chuyện ông thay đổi hoàn toàn: “Này ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông” (Lc 19,1-10). Ta không thể tự mình hoán cải hoàn toàn, nếu không có ơn Chúa. Tất cả đều do sáng kiến tình thương của Chúa. Vậy, hoán cải vừa là việc làm của ta, nhưng đồng thời cũng là ân sủng của Chúa, giúp ta đón nhận tình thương vô biên của Ngài.

4) Sau cùng, việc hoán cải cần được thực hiện qua các bí tích.[11] Hoán cải là việc làm thuộc lãnh vực tâm linh, nó diễn ra trong linh hồn con người. Tuy nhiên, hoán cải trong nội tâm cũng cần được biểu lộ qua những dấu hiệu bên ngoài và dấu hiệu này sẽ giúp tăng cường sự hoán cải bên trong. Trong Cựu ước ta gặp khá nhiều lần Dân Chúa thực hiện hình thức sám hối diễn ra trong phụng vụ và nơi công cộng. Nơi Kitô giáo, chiều kích xã hội của việc hoán cải trong các nghi thức phụng vụ và các bí tích là điều cần thiết; đó là dấu chỉ do Chúa thiết lập, dấu chỉ này trở thành những phương thế hữu hiệu để thực hiện những biến cố tâm linh và nên thánh. Hai bí tích để hoán cải là : Bí tích Rửa tội và Bí tích Hòa giải.

Rửa tội là bí tích của sự hoán cải lần đầu, diễn tả qua dấu chỉ rửa bằng nước. Qua bí tích này, người lãnh nhận sẽ được gia nhập vào cộng đoàn Kitô hữu và đón nhận niềm tin Đức Kitô. Sứ điệp mà Đức Kitô trăng trối cho nhóm mười hai vẫn còn đó, mọi người phải tin và hoán cải qua phép rửa mới được trở thành con của Thiên Chúa: “. . . Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ” (Mc 16,15-16). Giáo lý Hội thánh Công giáo cũng dạy: “Qua Bí tích Thánh tẩy, tín hữu được mời gọi hoán cải bằng những thái độ, hành động và lối sống mới trong Thánh Thần.”[12] Khi được rửa tội, Đức Kitô sẽ đón nhận họ vào cộng đoàn hiệp thông với Thiên Chúa, cho họ chia sẻ những kết quả của công trình cứu chuộc. Từ nay họ được thuộc về Đức Kitô và thuộc về Giáo hội của Người, vì thế các tín hữu có bổn phận trung thành bảo vệ sự ràng buộc tâm linh ấy giữa họ với Ngài.

Còn Bí tích Hòa giải là sự hoán cải các lần sau, dành cho các Kitô hữu đã lầm đường lạc lối và đang sống trong tình trạng tội lỗi. Đây cũng là bí tích của sự hoán cải liên tục và đặc trưng của mọi Kitô hữu. Hòa giải là bí tích có thể được nhận liên tục bao lâu còn có nhu cầu đổi mới và lớn lên theo tinh thần ăn năn. Bí tích này đòi phía hối nhân phải có lòng ăn năn, xưng thú tội mình và đền tội. Sự sám hối của tội nhân, kết hợp với thánh giá cứu độ của Đức Kitô, sẽ đưa đến ơn tha thứ cho tội nhân. Như thế, việc xưng thú này sẽ khách quan hóa tội lỗi. Bởi vì ta không thể vừa là hối nhân vừa là quan tòa của chính mình, mà chính là để cho Đức Kitô xét xử, hiện thân nơi vị linh mục giải tội. Việc xưng thú làm tăng thêm lòng hoán cải, bởi lẽ khi làm như thế đòi hỏi ta phải có lòng tin vào tư cách của vị đại diện Thiên Chúa, đồng thời, lòng tin ấy cũng gia tăng quyết tâm trở về.

Bí tích là phương thế thánh hóa, là những dấu chỉ của Hội thánh hữu hình và là những hành vi thờ phượng. Các bí tích sẽ thánh hóa tất cả những cố gắng của ta trong việc hoán cải và trong việc sống hoàn thiện hơn, nhờ công trạng của Đức Kitô tử nạn và phục sinh. Nhờ bí tích, chúng ta được gia nhập vào cộng đoàn Hội thánh, kiến tạo và củng cố Hội thánh. Cho nên, mục đích cuối cùng của bí tích là sự biến đổi con người tội lỗi thành con của Chúa, làm cho tội nhân được hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa trong vinh quang bất diệt của Ngài.

5. Thành quả của hoán cải

Hoán cải là trở về với Thiên Chúa tình yêu, nhưng hoán cải thực thụ còn phải được minh chứng qua những việc tốt lành, thánh thiện do việc hoán cải mang lại. Người có lòng ăn năn hoán cải chắc sẽ phải sinh hoa kết quả xứng với sự ăn năn: “Các anh hãy sinh hoa quả để chứng tỏ lòng sám hối” (Mt 3,8; Cv 26,29).

Bình an là hoa trái đầu tiên của hoán cải. Hoán cải là để được sống sự sống của Thiên Chúa và khi có Chúa trong tâm hồn là được bình an. Tác giả Thánh Vịnh ghi nhận điều này khi nói: Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi, hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn (Tv 62). Chỉ khi nào được ở bên Chúa và trong Chúa tâm hồn và cuộc sống của ta mới hết lo toan, bình an và hạnh phúc sẽ ngự trị. Hoán cải là phương thế đem lại niềm vui và bình an cho con người không những mai sau mà ngay cả ở đời này. Đề cập đến vấn đề này, Thánh Phaolô nói: “Chúng ta còn tự hào khi gặp gian truân, vì biết rằng ai gặp gian truân thì quen chịu đựng; ai quen chịu đựng thì được kể là người trung kiên; ai được kể là người trung kiên thì có quyền trông cậy. Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Ngài vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Ngài ban cho chúng ta” (Rm 5,3-5). Thiên Chúa ban bình an và niềm vui khi ta biết kiên nhẫn và có lòng thống hối ăn năn. Con người thống hối luôn được Thiên Chúa cưu mang, an ủi, vỗ về trong tình yêu của Ngài. Dụ ngôn người con hoang đàng hay người cha nhân hậu cho thấy rõ điều đó. Người cha đón nhận đứa con vào lòng, tổ chức tiệc để ăn mừng; người con như được sống lại, vui mừng và cảm thấy bình an bên người cha đầy lòng yêu thương. Câu chuyện ông Giakêu gặp Chúa cũng cho thấy điều đó. Có thể nói, về vật chất, ông trở nên nghèo hơn trước, nhưng hơn hết, ông như đã trút bỏ được gánh nặng bấy lâu nay, cảm thấy được tự do thanh thản và bình an sau khi đã được gặp gỡ và tiếp đón Chúa Giêsu.

Hoa trái quan trọng nhất của hoán cải là có được sự sống của Thần Khí.  Hoán cải sẽ mang lại cho ta đời sống mới theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.[13] Từ nay, người hoán cải sẽ sẵn sàng lột bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới là Đức Kitô (Ep 4,22-24). Đời sống mới này sẽ giúp con người trung thành tuân giữ luật Chúa hay giáo huấn của Ngài. Lòng trung thành và yêu mến của con người đối với Thiên Chúa được thể hiện qua việc tuân giữ các giới răn của Người: “Nếu các ngươi yêu mến Ta, các ngươi hãy tuân giữ các mệnh lệnh Ta truyền” (1Ga 3,5 ; x. Xh 19,5 ; Lv 18,5). Đời sống mới theo Thần Khí là đời sống của con người biết hành thiện, ngày càng có tinh thần nghèo khó, trái tim trong sạch, tấm lòng xót thương, khao khát sự công chính, xây dựng thuận hòa. Chính Thánh Thần biến đổi chúng ta tận thâm tâm, Ngài làm cho ta trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô.

Ngoài ra, người hoán cải thật từ nay sẽ cam kết dấn thân đi theo Đức Kitô. Hoán cải là cam kết bước theo Đức Kitô, nên cũng nhất thiết phải dấn thân cho triều đại của Nước Chúa. Dấn thân theo Chúa Kitô có nghĩa là sửa chữa đời sống của mình cho phù hợp với lợi ích Nước Trời và sẵn sàng làm tất cả mọi sự vì lợi ích cao cả này. Sự dấn thân này, trước hết là nhiệt tâm tông đồ trong việc cứu độ người khác, như phục vụ, yêu mến, tha thứ, giúp đỡ vật chất cũng như tinh thần; thứ đến là sẵn sàng tuyên xưng và bảo vệ đức tin của mình trong mọi hoàn cảnh; sau cùng là dám làm chứng cho Đức Kitô trong lúc thuận tiện cũng như lúc khó khăn, là can đảm chịu đựng bách hại, nhất thi hành sứ mạng làm “muối men cho đời.”

Kết luận

Thánh Gioan dạy: “Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội, chúng ta tự lừa dối mình” (1Ga 1,8). Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu là người hiến dâng hoàn toàn cho Chúa, hầu như không bao giờ phạm tội nặng. Thế mà trong cuốn tự thuật, thánh nữ vẫn bộc bạch về thân phận tội lỗi của mình và nói lên sự cần thiết của việc sám hối. Là con người với bản chất mỏng dòn, yếu đuối, luôn bị chi phối và bị lôi kéo vào con đường tội lỗi, hoán cải là phương thế hết sức cần thiết để được nên thánh như ý Chúa muốn: “Các ngươi phải thánh thiện, vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của các người, Ta là Đấng thánh” (Lv 19,2). Mệnh lệnh này được Chúa Giêsu tiếp tục rao giảng và âm vang của nó vẫn luôn có giá trị cho hết mọi người, mọi nơi và mọi thời: “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48). Như vậy, sám hối để được nên thánh không phải là phương thế do con người sáng tác ra, song đó là một mệnh lệnh yêu thương từ Trời ban xuống, nó được gửi tới cho hết mọi người và mọi thời đại, cách riêng cho người Kitô hữu.

Thiên Chúa công thẳng nhưng lại rất mực nhân hậu, Ngài sẽ tha thứ cho kẻ biết nhận ra lỗi lầm và thật lòng trở về. Thư thánh Phaolô gửi tín hữu Rôma dạy: “Hạnh phúc thay kẻ lỗi lầm mà được tha thứ, người có tội được khoan dung, hạnh phúc thay người Chúa không kể là kẻ có tội . . . ” (Rm 4,5-8). Nơi khác, thánh nhân còn nói: “Thiên Chúa nhân hậu như thế là để thúc giục hối cải”  (Rm 24). Chính lúc sám hối là lúc ta hướng tới lòng thương xót của Chúa, nhưng hơn hết đó là lúc Chúa biểu lộ tình thương của Ngài đối với con người. Lòng nhân hậu của Thiên Chúa được thể hiện qua nhiều con đường khác nhau, rõ nét nhất là nơi việc Ngài cho Ngôi Hai xuống thế làm người, qua hành trình khổ nạn, chết và phục sinh để cứu chuộc nhân loại.

Hoán cải để trở nên “đồng hình đồng dạng với Đức Kitô.” Dù hoán cải là phải hy sinh, từ bỏ, nhưng đó lại là một sứ điệp tình thương của Thiên Chúa dành cho những kẻ tội lỗi để họ quay về nhà Cha. Đó cũng là phương thế phục hồi nhân phẩm do tội gây ra và là con đường giúp ta nên giống Đức Kitô hơn. Phải nói được rằng đây là một hành trình thiêng liêng kéo dài suốt cả đời ta. Hành trình này được Giáo hội dùng những phương thế khác nhau để giúp thực hiện hiệu quả hơn. Một cách cụ thể, chúng ta có hai mùa trong năm phụng vụ là Mùa Vọng và Mùa Chay, những thời gian hết sức đặc biệt để thức tỉnh các Kitô hữu thực thi hoán cải. Kinh nguyện mỗi ngày, nhất là Giờ kinh Phụng vụ, nhắc nhở chúng ta về đề tài hoán cải thường xuyên. Đầu mỗi thánh lễ, Giáo hội cũng mời gọi ta sám hối với những công thức đầy ý nghĩa. Cuối mỗi ngày, vào giờ Kinh tối, chúng ta lại được kêu gọi thực hiện sám hối. Nói chúng, tất cả như là tiếng chuông theo nhịp thời gian, mời gọi, nhắc nhở và đánh thức cho chúng ta hành vi quan trọng này.

Thiên Chúa không mệt mỏi đến gõ cửa tâm hồn ta, Ngài vẫn hằng đợi chờ, tiếp đón và tha thứ cho kẻ có tội qua và trong Đức Giêsu Kitô. Hy vọng rằng sứ điệp yêu thương mà Chúa Giêsu mạc khải Tin mừng Luca luôn được ta đón nhận và tín thác: “Ta không đến để kêu gọi những người công chính, nhưng kêu gọi những kẻ tội lỗi hoán cải” để họ trở về với Thiên Chúa (Lc 5,31-32). 

[1] Xem www.simonhoadalat.com, tra cứu ngày 10/05/2015.

[2] Từ điển Công giáo5000 mục từ, Nhà Xuất bản Tôn giáo 2011.

[3] Dictionnaire Grec-Francais du Nouveau Testament, Alliance Bibilque Universelle, tr. 97.

[4] “Repentance–Conversion,” Dictionary of Theolory, ed. x Leon Dufour, 1957, 430. (Trích trong cuốn Christian Ethics của Kar H. Peschke, S. V. D, Alcester and Dublin 1986, sđd, Thần học Luân lý Tổng quát, tập II, tr. 200).

[5] Từ Điển Công Giáo – 5000 mục từ, Nxb. Tôn giáo 2011, tr. 167.

[6] Xem Kar H. Peschke, S.V.D, Christian Ethics, Alcester and Dublin 1986, sđd, Thần học Luân lý Tổng quát, tập II, tr. 201-202).

[7] Tình trạng khốn khổ do tội gây ra được bày tỏ rõ ràng nhất trong cuộc khổ nạn và cái chết của Đức Giêsu. Khi sám hối, người tín hữu thấy rõ nỗi đau khổ của Chúa Giêsu vì tội lỗi của nhân loại. Khi người tín hữu ăn năn sẽ nhìn nhận tội mình trong tương quan với các nỗi khổ tột cùng của Đức Giêsu trên thập giá.

[8] Xem Karl H.Peschke, S.V.D, Christian Ethics, Alcester and Dublin 1986, sđd, Thần học Luân lý Tổng quát, Tập II, trang 206.

[9] Sách đã dẫn, trang 207-208.

[10] Xem Karl H.Peschke, S.V.D, Christian Ethics, Alcester and Dublin 1986, sđd, Thần Học Luân Lý Tổng Quát, Tập II, trang 211.

[11] Sách đã dẫn, trang 116-119. (Xin xem thêm William J. BAUSCH, A new look at the Sacraments, 1994, sđd, Một Lối Nhìn Mới về Bí Tích, do Đaminh Nguyễn Đức Thông, CSsR, dịch, trang 222-236). 

[12] Giáo lý Hội thánh Công giáo, số 1098.

[13] Xem Karl H.Peschke, S.V.D, Christian Ethics, Alcester and Dublin 1986, sđd, Thần học Luân lý Tổng quát, Tập II, trang 215.

(Trích: Tập san “Đức Tin & Văn Hóa” – ĐCV. Vinh Thanh, số 5)

About The Author

Number of Entries : 545

© TRANG THÔNG TIN CHÍNH THỨC CỦA ĐẠI CHỦNG VIỆN VINH THANH

Scroll to top