You Are Here: Home » MỤC VỤ » Linh mục giáo phận sống tu đức toàn diện

Linh mục giáo phận sống tu đức toàn diện

LINH MỤC GIÁO PHẬN
Sống Tu Đức Toàn Diện Trong Bối Cảnh Thực Tế Của Giáo Hội Và Xã Hội Việt Nam Hôm Nay

Micae Phaolô Trần Minh Huy pss

Muc Lục

LỜI NÓI ĐẦU

CHƯƠNG MỘT:

A. ĐẶT VẤN ĐỀ:

B. Ý NIỆM VỀ ĐỜI SỐNG ĐỘC THÂN LINH MỤC

C. TÍNH THÂN MẬT CỦA ĐỜI SỐNG ĐỘC THÂN LINH MỤC

D. TÌNH BẠN KHÁC PHÁI CỦA NGƯỜI ĐỘC THÂN THÁNH HIẾN

E. KHÍA CẠNH TÂM LÝ VÀ TÍNH DỤC TRONG ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI

BÀI ĐỌC THÊM:

F. NHỮNG YẾU TỐ NỒNG CỐT CỦA TRƯỞNG THÀNH TÌNH CẢM

G. ỨNG SINH GIÚP NHAU TỰ ĐÀO TẠO CHÍNH MÌNH

Muc Lục

LỜI NÓI ĐẦU

Tôi rất thích định nghĩa này: “Đời sống thiêng liêng là đời sống nhân bản được sống trong Chúa Thánh Thần.” Quả vậy, việc đào tạo linh mục (được đào tạo và tự đào tạo) phải đi qua tiến trình “làm con người tốt, rồi làm người kitô hữu tốt, thì mới làm người linh mục tốt được.” Nếu hạ tầng cơ sở mà không vững chắc thì thượng tầng kiến thiết sẽ không bền lâu được. Điều đó Chúa Giêsu đã nói rõ trong Phúc Âm qua việc xây nhà trên đá.

Sau nhiều năm chia sẻ với các ứng sinh linh mục và tu sĩ thuộc nhiều giai đoạn được đào tạo và tự đào tạo, từ những gì tôi đã học được, đã hiểu, đã cố gắng sống và trải nghiệm, những kinh nghiệm sống bản thân không thiếu thăng trầm va vấp cho đến nay ở tuổi bảy mươi, những kinh nghiệm qúi báu rút tỉa được từ việc giúp tĩnh tâm, giải tội đối thoại và linh hướng, cũng như những bài học học được khi họ chia sẻ những thao thức, những trăn trở, những niềm vui và đau khổ, nước mắt và nụ cười, những thành công và thất bại, những thách đố và trông đợi, ở chính mình, ở anh chị em, ở Bề Trên và các nhà đào tạo, ở những người họ phải giao tiếp trong sứ vụ tông đồ, thuộc về Giáo Hội hay ở ngoài Giáo Hội công giáo, tôi nhận ra một thực tế rất hữu ích rằng chúng ta cần học hỏi lẫn nhau và cùng nhau học với vị thầy duy nhất là Chúa Giêsu Kitô trong Chúa Thánh Thần, nhất là đối với các ứng sinh linh mục triều.

Trong ánh sáng Lời Chúa và giáo huấn của Giáo Hội, những kinh nghiệm sống ấy gợi hứng cho tôi chú tâm hơn vào thực tế cuộc sống khi soạn đề tài “LINH MỤC GIÁO PHẬN TƯƠNG LAI SỐNG TU ĐỨC TOÀN DIỆN TRONG BỐI CẢNH THỰC TẾ CỦA GIÁO HỘI VÀ XÃ HỘI VIỆT NAM HÔM NAY.” [1]

Mong muốn của phần này là cố gắng theo sát ánh sáng chỉ đạo của giáo huấn Giáo Hội để nhìn vào thực tế đang diễn ra trong Giáo Hội và thế giới, đặc biệt trong bối cảnh Giáo Hội và Xã hội Việt Nam, hầu giúp ứng sinh can đảm đối mặt với thực tế của đời mình, và từ thực tế đó mà định hướng hay tái định hướng đời sống ơn gọi của mình theo đúng bản chất đích thực của lý tưởng đời sống và sứ vụ linh mục triều mà Chúa và Giáo Hội mong muốn, thế giới và con người ngày nay đang chờ đợi, với mục đích kép là vừa học cho mình sống hôm nay vừa chuẩn bị hành trang cho sứ vụ của mình ngày mai.

Vấn đề thật cần thiết và hữu ích, nhưng vượt quá tầm với của sức mình, nên tôi thêm hai chữ “BẢN THẢO” ở giáo trình này. Phải, đây mới là bản thảo. Là bản thảo nghĩa là chưa xong, chưa đầy đủ, chưa tốt, cần phải được liên tục sửa chữa, hiệu đính, cập nhật cái mới, bỏ đi cái cũ hay không thích hợp. Công việc này không phải tự mình tôi hay cùng những người nghe tôi chia sẻ và chia sẻ với tôi mà làm được. Tôi tha thiết xin mọi người, nhất là các bậc Thầy, các bậc Đàn Anh giúp chỉ giáo và sửa chữa giúp tôi, vì lợi ích lớn hơn của các ứng sinh, đang học làm linh mục và sẽ sống linh mục hơn lên mỗi ngày trong sứ mệnh của Giáo Hội giữa lòng thế giới không ngừng biến chuyển, đặc biệt trong bối cảnh Giáo Hội và Xã Hội Việt Nam hôm nay.

Nguyện xin Chúa Thánh Thần tiếp tục cho đến hoàn thành tốt đẹp những gì Ngài đã thương khởi sự cho chúng ta và với chúng ta, nhờ lời cầu bàu mạnh thế của Mẹ Maria Lavang và Thánh Cả Giuse.

Bùi Chu, Xuân Canh Dần

Micae Phaolô Trần Minh Huy pss

Muc Lục

CHƯƠNG MỘT: LINH MỤC GIÁO PHẬN TƯƠNG LAI SỐNG TỐT ĐỜI SỐNG ĐỘC THÂN LINH MỤC TRONG BỐI CẢNH GIÁO HỘI VÀ XÃ HỘI VIỆT NAM HÔM NAY

Điều khẳng định căn để là bản chất đời sống độc thân linh mục vẫn là một đòi buộc không hề thay đổi trong Giáo Hội Công Giáo Rôma và được các đương sự tự nguyện dấn thân vào. Nhưng trong bối cảnh xã hội hôm nay, nó phải được hiểu, được sống và được bảo vệ một cách tế nhị, cương quyết và khôn ngoan dù khó khăn hơn các thế hệ trước đây.

A. ĐẶT VẤN ĐỀ: MÔI TRƯỜNG SỐNG CỦA ỨNG SINH TRƯỚC KHI ĐƯỢC TIẾP NHẬN VÀ ĐÀO TẠO

Chúa kêu gọi và chọn lựa một người từ trong hoàn cảnh sống cụ thể của mình. Vậy môi trường sống của các ứng sinh muốn theo đuổi lý tưởng linh mục tại Việt Nam ngày nay như thế nào?

A.I. KẾT QỦA CỦA MỘT CUỘC ĐIỀU TRA

Có một cái gì đó thức tỉnh và thúc giục chúng ta khi đọc những kết luận giật mình được công bố trong cuộc Hội thảo “Giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên ở nước ta hiện nay – Thực trạng và Giải pháp” do Hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục Việt Nam tổ chức năm 2007 tại Đồng Nai [2].

A.I.1 Càng lên cao, người trẻ càng… “hư”

Tỷ lệ quay cóp: Rất ngạc nhiên khi có tới 8% học sinh tiểu học đã… quay cóp. Con số này lên đến bậc THCS và THPT đã nhảy vọt thành 55% – 60% và đến bậc ĐH, CĐ đã thành 69%.

Tỷ lệ nói dối: Ở bậc Tiểu học, đã có tới 22% nói dối cha mẹ, còn ở bậc THCS và THPT thì có tới 50% – 64% học sinh lừa cha dối mẹ. Và ở bậc ĐH, CĐ có đến hơn 80% sinh viên sẵn sàng nói dối để qua mặt phụ huynh.

Tỷ lệ thiếu niên phạm pháp cũng ngày một tăng cao: năm 1986 có 3.607, năm 1996 có 11.726 em vị thành niên phạm tội bị phát hiện (gấp 3 lần). Trung bình mỗi năm trên cả nước có 4.746 thiếu niên phạm pháp.

Nạn ma túy học đường gia tăng đột biến ngày càng trở thành vấn đề nhức nhối: Năm 2004 chỉ có 600 học sinh, sinh viên nghiện ma túy, đến năm 2007 con số này đã tăng lên 1.234 học sinh, sinh viên.

A.I.2 Phong cách sống đạo đức của học sinh, sinh viên ngày càng “có vấn đề”: Kết quả cuộc điều tra khảo sát năm 2007 tại 30 trường ĐH-CĐ trong cả nước do Vụ Văn hóa – Ban Tư tưởng Văn hóa Trung Ương phối hợp với Vụ Công tác Học sinh Sinh viên (Bộ GD-ĐT) cho thấy 51,4% sinh viên cho rằng “sống thử trước hôn nhân là hiện tượng khá phổ biến” và được coi là “bình thường” [x. Hiện tượng “sinh viên tầm gửi” và “tình ở trọ”]

A.I.3 Một số các nguyên nhân

– Chúng ta vẫn nặng về dạy chữ, nhẹ về dạy người. Nhiều giáo viên lên lớp chỉ lo truyền giảng kiến thức chuyên môn, chứ không chú trọng để uốn nắn chỉnh sửa những sai trái của học trò mình.

– Gia đình buông lỏng việc quản lý giáo dục con cái, để trẻ ngày càng tách khỏi thế giới thực và bị cuốn hút bởi những trò chơi bạo lực ly kì, hấp dẫn trên TV mà quên đi nhiệm vụ học tập, giúp đỡ gia đình.

– Việc giáo dục đạo đức trong nhà trường từ bậc phổ thông đến đại học còn nhiều bất ổn: Các chương trình giáo dục đạo đức còn nặng về lý thuyết, nhẹ giáo dục kỹ năng sống, không tạo được dấu ấn và điều kiện thuận lợi để hình thành nhân cách cho học sinh.

– Tác động của nền kinh tế thị trường, sự hội nhập các nền văn hóa và sự hấp dẫn của đời sống đô thị đã làm cho các giá trị đạo đức truyền thống bị xâm hại và mai một dần.

– Người trẻ càng lớn càng hư vì nhiều năm qua họ phải thụ hưởng một nền giáo dục đạo đức theo kiểu quan liêu, giáo điều, áp đặt, nhồi nhét và khô cứng mà không được tôn trọng thật sự.

– Cần coi trọng tính thực tiễn trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên: Thầy cô cần tích cực liên hệ thực tiễn, đưa ra nhiều tình huống để các em tự giải quyết, qua đó các em nhận thức được giá trị sống, học được kỹ năng cơ bản và định hướng hành vi. Nội dung chương trình các môn học khác cần được lồng ghép với nội dung giáo dục một cách phù hợp.

– Yếu tố kinh tế là vấn đề nổi cộm nhất, mà môi trường gia đình và xã hội có nhiều yếu tố xấu tác động trực tiếp đến nhân cách học sinh, đặc biệt là vấn đề đạo đức”.

A.II. NHẬN ĐỊNH CỦA HĐGM VIỆT NAM

“Ngày nay, một trong những điều gây nhức nhối lương tâm là sự gian dối trong nhiều lãnh vực, kể cả trong môi trường cần đến sự thật nhiều nhất là giáo dục học đường. Chắc chắn tất cả những ai tha thiết với tiền đồ của đất nước và dân tộc không thể không quan tâm đến tình trạng này… Do đó, việc giáo dục đạo đức và lương tâm phải là trách nhiệm hàng đầu của toàn xã hội, và cần đến sự tham gia tích cực của người dân cũng như các tổ chức xã hội” [3]

A.III. SUY TƯ VÀ NỔ LỰC CẢI TIẾN CỦA CHÚNG TA

Người có trách nhiệm trước nhất và cao nhất trong việc tuyển chọn và đào tạo linh mục là Giám Mục giáo phận. Đây cũng là trách nhiệm của mọi thành phần Dân Chúa, giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân, đặc biệt là các cha xứ (x. GL 233: “Toàn thể cộng đồng kitô giáo có bổn phận phải cổ động các ơn gọi để đáp ứng đủ những nhu cầu của thừa tác vụ thánh trong toàn thể Giáo Hội. Bổn phận này bó buộc cách riêng các gia đình, các nhà đào tạo, đặc biệt là các giáo sĩ, nhất là các cha sở… Chuẩn bị thích đáng cho những người nam đứng tuổi cảm thấy mình được gọi vào thừa tác vụ thánh.”

Nhưng trong chiều kích Giáo Hội tham gia, Giám mục giáo phận ủy nhiệm cho một số nhà đào tạo đã được chuẩn bị kỹ lưỡng cộng tác với Ngài để:

– đồng hành với các ứng sinh,

– tiệm tiến thẩm tra và giúp ứng sinh biện phân ý Chúa và thực thi ý Chúa (qua câu chuyện đời của anh),

– bảo đảm cho ứng sinh là anh được Thiên Chúa kêu gọi,

– mời gọi anh tham gia vào việc đào tạo chính anh bằng việc tự đào tạo chính mình,

– và sau cùng, chính việc Giám Mục gọi ứng sinh lên chịu chức linh mục xác nhận ơn gọi đích thực của Chúa đối với anh.

Cuộc sống đức tin, nhất là đời sống ơn gọi, luôn là lối đi ngược dòng với xu hướng thời đại của nền văn minh sự chết. Tuy nhiên, sống trong một bối cảnh xã hội như thế, chắc chắn các thanh thiếu niên nam nữ Công giáo cũng không thể không chịu ảnh hưởng, kể cả các dự tu nam nữ trong thời gian tìm hiểu và đi học ở ngoài.

Thật thế, trong Huấn Thị “Những chỉ dẫn về việc huấn luyện trong các dòng tu,” Bộ Tu sĩ nhận định: “… Thường có sự chênh lệch giữa những kiến thức đời, đôi khi rất chuyên môn, với sự tăng trưởng tâm lý và đời sống kitô… Họ cũng chịu ảnh hưởng của một xã hội tiêu thụ cùng với những thất vọng của nó. Khi đạt tới một địa vị xã hội, đôi khi rất vất vả, một số đã bị băng hoại do bạo lực, ma túy và dâm ô… Trong số những ứng sinh vào đời tu, càng ngày càng có không ít thanh niên đã có những kinh nghiệm thương đau trong lãnh vực vừa kể trên… đòi phải được thanh lọc và uốn nắn lại” [4]

Do đó, các nhà đào tạo phải quan tâm đến các mối liên hệ xã hội và đời sống độc thân thanh khiết của các ứng sinh trước khi vào Chủng viện hay Dòng tu. [5] Phải cân nhắc thái độ của ứng sinh đối với giới tính và khả năng sống độc thân thánh hiến (Bộ GDCG, Chỉ dẫn việc huấn luyện độc thân linh mục tr.7-75); đồng thời phải xem ứng sinh có ngăn trở Giáo luật nào không (GL 1024-1052).

Trong một xã hội tục hoá, buông thả luân lý và hưởng thụ khoái lạc, các nhà đào tạo cần phải giúp các ứng sinh nhận ra được lý tưởng cao cả của chức linh mục và đời sống tu sĩ, cùng những yêu sách tất nhiên của nó ở trong Giáo Hội, hầu kiên trì sử dụng mọi phương thế tự nhiên và siêu nhiên để gìn giữ và tự bảo vệ lấy mình, trong mọi mối tương quan nhân loại, nhất là tương quan khác phái, hầu được xứng hợp theo đuổi lý tưởng ơn gọi cho đến cùng.

Người trẻ ngày nay trưởng thành sớm về mặt sinh học nên chuyện tình cảm yêu đương không thể tránh. Họ cần được giúp hiểu và sống tốt nguyên vẹn cuộc đời mình trước khi đi vào lựa chọn đời sống hôn nhân hay đời sống linh mục và tu sĩ đúng như Chúa muốn và Giáo Hội dạy. Đồng thời cũng phải giúp họ thẳng thắn nhìn nhận những cản trở và chiến đấu không thể vượt qua được để lượng sức mình mà đổi hướng sớm, không cần đợi đến lúc bị phát hiện hay bị tố cáo, vì con đường linh mục hay tu sĩ không phù hợp cho họ. [6]

Đối với người Việt Nam chúng ta, lãnh vực tính dục rất tế nhị, các nhà đào tạo phải làm cho mình trở thành người biết nhẫn nại lắng nghe và khả tín hầu ứng sinh dễ dàng bộc lộ sự thật, đồng thời đừng để mình dễ bị “sốc” và có ngay biện pháp khiến ứng sinh lo sợ và co mình lại hoặc nói dối, kẻo một lần đã nói dối thì họ sẽ có khuynh hướng nói dối mãi, dù biết rằng sẽ phải trả giá rất đắt khi lời nói dối bị vạch trần.

Vì thế, thật hữu ích trong thời gian đầu này, ứng sinh cần được trình bày rõ và tự mình có trách nhiệm đối mặt với những gì đã xảy ra cho mình và giải quyết chúng, với sự giúp đỡ của các nhà đào tạo, nhất là vị linh hướng. Có thế thì sự chọn lựa đời sống linh mục hay tu sĩ có hướng dứt khoát ngay từ đầu, để tiến trình đào tạo và tự đào tạo được thanh thản và hiệu quả.

Nếu chỉ là chuyện tình cảm và tình yêu thì nên dần dần chấm dứt đi, khi đã chọn lựa đời tu. Nếu lỡ có chi hơn thế mà không đến đỗi mắc ngăn trở thì càng phải cương quyết chấm dứt, triệt để biến đổi lật sang trang đời mới, không nuôi dưỡng đèo bồng du dưa nữa. Kể cả hai bên đều cùng đi tu thì phải biến đổi và thăng hoa nó lên, để tránh những hệ lụy “người xưa cảnh cũ” sau này. Tốt nhất là không nên tìm cơ hội gặp gỡ riêng tư với người tình cũ. Nhớ câu chuyện “đứt đuôi nòng nọc.” [7] Và dù có nói là quyết tâm lật sang trang đời mới thì cũng cần có đủ thời gian để ứng sinh trắc nghiệm chính mình là mình có thể kiên trì làm được điều đó; đồng thời người có trách nhiệm có đủ dữ kiện để an tâm chứng nhận rằng ứng sinh thực sự đã đổi mới và kiên trì tiến bước được trên đường ơn gọi. Giáo Hội đã quá đau khổ, bị thiệt hại vì chuyện này và đang nỗ lực nghiêm khắc chấn chỉnh ngay từ bước tuyển lựa và đào tạo đầu tiên. Tiếc là nhiều người quá chú trọng đến THI về kiến thức mà không có TUYỂN kỹ càng về phẩm chất đạo đức, thanh danh luân lý và những vấn đề thuộc tâm sinh lý, cũng như những cản trở Giáo luật có thể có.

Đã là con người thì ai cũng có những nhu cầu và ham muốn tự nhiên cần phải chiến đấu, nhưng tội nghiệp cho những ai “bén mùi chùi chẳng sạch” sẽ phải chiến đấu nặng nề hơn. Tuy nhiên, nếu cứ phải chiến đấu quá nặng nề và quá dai dẳng thì không nên để tiếp tục, vì sẽ khổ cho đương sự và nhiều người khác sau này, thiệt hại cho công cuộc dưỡng giáo và truyền giáo của Giáo Hội.

Chớ gì ngay từ những ngày còn là mầm non ơn gọi, các người có trách nhiệm trong gia đình, giáo xứ và giáo phận tích cực hướng dẫn, nói rõ cho các em biết và xem xét, nếu em nào không có khả năng sống độc thân khiết tịnh (tiết dục toàn vẹn và trường kỳ) như Giáo Hội đòi hỏi thì thôi, đừng cho tiếp tục nữa, kẻo các em sẽ hiểu sai lệch và có một lương tâm lệch lạc về đời sống linh mục và tu sĩ, rất nguy hiểm. Cũng nên xem xét kỷ các động lực đi tu của các em.

Chuyện gì làm riêng tư một mình thì có Chúa biết. Nhưng chuyện gì làm giữa hai người thì rồi người khác cũng sẽ biết, không biết được hôm nay thì mai kia cũng sẽ biết. Có thể vì nhân đạo, họ không nói hoặc chưa nói đó thôi. Ứng sinh nên nhớ rằng những người thương mình và bảo vệ Giáo Hội sẽ không chấp nhận thái độ nước đôi đó đâu. Những người ghét mình hay gia đình mình sớm muộn gì sẽ tố cáo. Và ngay chính người con gái khó quên được chuyện ấy cũng sẽ không giữ kín được lâu đâu. Nàng có thể chấp nhận mất người yêu cho Chúa và Giáo Hội, chứ không chịu mất trong tay một hay nhiều cô gái khác đâu; và rồi chính nàng sẽ làm ra chuyện, vì “không ăn được thì đạp đổ!”

Nếu thiếu tính tự giác tự nguyện đổi hướng về phía ứng sinh, thì ứng sinh nào bị phát hiện là không thích hợp, vì khiếm khuyết thể lý, quân bình tâm lý hay luân lý, và có những ngăn trở theo Giáo luật, nên mạnh dạn và nhanh chóng đưa đương sự ra khỏi con đường theo đuổi ơn gọi. Cả hai phía, các nhà đào tạo và ứng sinh, không được phép nuôi dưỡng những hy vọng hảo huyền và những ảo tưởng nguy hiểm, dù biết rằng mỗi vị thánh đều có một quá khứ và mỗi tội nhân đều có một tương lai. Cũng không ai được tự phụ rằng ơn thánh sẽ thay thế cho những khiếm khuyết tự nhiên.

A.IV. ỨNG SINH NÊN BIẾT SỚM VỀ TRỞ NGẠI GIÁO LUẬT:

Tuy đang ở những bước khởi đầu, các ứng sinh cần được biết sớm những khoản Giáo Luật liên quan cần thiết. Không nên để quá muộn khiến tiến thối lưỡng nan, thiệt hại cho Giáo Hội lẫn cho đương sự.

– GL 1024 và 1033: Chỉ có người nam nào đã lãnh nhận Bí tích Rửa Tội và Thêm Sức rồi mới được lãnh nhận chức thánh cách thành sự và hợp pháp.

– GL 1025: Phải trải qua một thời gian thử thách, hội đủ những đức tính thích hợp, không bị điều bất hợp luật và ngăn trở nào, đủ các giấy tờ cần thiết, và phải được điều tra kỹ lưỡng (x. GL 1051)

– GL 1026: Đương sự phải được tự do hoàn toàn, tuyệt đối không được cưỡng bách bằng bất cứ cách nào và vì bất cứ lý do gì, cũng không được ngăn cản người đủ khả năng xứng hợp theo Giáo luật (x. Chuyện lo và sợ sau khi học về nhiệm vụ linh hướng).

– GL 1029: Chỉ nên cho tiến chức những ứng sinh có đức tin tinh tuyền, ý hướng ngay lành, kiến thức cần thiết, danh thơm tiếng tốt, đức hạnh vẹn toàn, nhân đức vững vàng, các đức tính về thể lý và tâm lý phù hợp với chức thánh sẽ lãnh nhận.

– GL 1036-1037: Ứng viên phải đệ trình một bản tuyên bố do chính tay mình viết và ký tên xác nhận mình tự nguyện và tự do xin được chịu chức và sẽ vĩnh viễn dấn thân cho thừa tác vụ của Giáo Hội, đã công khai đảm nhận nghĩa vụ sống độc thân trước Thiên Chúa và Giáo Hội.

– GL 1041: Những bất hợp luật không được chịu chức:

– điên khùng/bệnh tâm thần không đủ năng lực chu toàn thừa tác vụ;

– bội giáo, lạc giáo hay ly giáo;

– mưu toan kết hôn, dù chỉ là hôn nhân dân sự;

– tội sát nhân, phá thai có hiệu quả, hay tích cực cộng tác vào;

– chủ tâm hủy hoại thân thể mình hay kẻ khác, đã mưu toan tự vẫn;

– đã thực hiện một hành vi thuộc bí tích truyền chức [ngồi vào tòa giải tội nghe xưng tội, lấy MTC ra ban phép lành cho giáo dân…].

– GL 1043: Buộc tín hữu phải trình báo với Bản quyền về người có những ngăn trở để nhận lãnh chức thánh.

– GL 1045: Dù không biết là có những điều bất hợp luật và những ngăn trở thì vẫn bị mắc những điều ấy.

– GL 1051: Phải điều tra theo các phương thế hữu ích tùy hoàn cảnh mỗi thời và mỗi nơi:

– giấy chứng nhận các đức tính cần thiết: học thuyết ngay lành, đạo đức chân thành, hạnh kiểm tốt, khả năng thi hành thừa tác vụ;

– giấy chứng nhận đã khám nghiệm kỹ lưỡng sức khoẻ thể lý và tâm lý.

Ứng sinh cũng cần có một cam kết khởi đầu về ý ngay lành và tính trung thực của việc theo đuổi ơn gọi, liên quan đến bối cảnh gia đình “xét như chủng viện đầu tiên” (Optatam Totius số 21), những điều kiện bên ngoài, những điều kiện tự nhiên và những điều kiện thiêng liêng (x. Bản câu hỏi tự vấn).

Ứng sinh cũng được yêu cầu trải qua một cuộc kiểm tra sức khỏe tổng quát và trắc nghiệm tâm lý; lãnh vực đời sống tình cảm cũng cần được khảo sát và chữa lành hầu đạt được sự ổn định cần thiết cho đời sống linh mục mai ngày; những gánh nặng nội tâm cần được tháo gỡ và giải quyết nhờ sự trợ giúp của các nhà đào tạo, nhất là vị linh hướng (GL 239,2; 240,2; 246,4; FABC, 7th Plenary Assembly, Spiritual Direction).

– GL 239,2: Mỗi chủng viện phải có ít nhất một vị linh hướng và những tư tế khác được Giám Mục chỉ định vào nhiệm vụ này.

– GL 240,2: Không bao giờ được hỏi ý kiến của vị linh hướng hay cha giải tội trong việc cho chủng sinh tiến chức hoặc sa thải.

– GL 246, 4: Ứng sinh phải thường xuyên lãnh nhận bí tích sám hối và tự do chọn lựa cho mình một vị linh hướng để có thể tin tưởng bày tỏ lương tâm. Việc linh hướng thuộc bí mật tòa trong, như ấn tòa giải tội, trong mối tương quan khép kín tay ba (Chúa Thánh Thần, ứng sinh và vị linh hướng)

Điều mà vị linh hướng khám phá về người thụ hướng ở toà trong sẽ không được tiết lộ ra ở toà ngoài. Điều này không những để bảo vệ người thụ hướng, mà còn cống hiến cho anh sự tín nhiệm và tin tưởng rằng điều gì anh đã bộc lộ ở tòa trong vẫn được giữ bí mật. Chính niềm tín nhiệm và bảo đảm này mang lại sự chữa lành tận gốc. Ngay trong tai họa lạm dụng tình dục trẻ em khiến lập trường Giáo Hội trở nên cứng rắn hơn và yêu cầu tích cực hợp tác với thẩm quyền dân sự thì ấn tòa giải tội vẫn phải tuyệt đối tuân giữ, là cha giải tội không được tố cáo các linh mục xưng thú phạm tội ấu dâm. [8]

Tóm lại, việc chuẩn bị các ứng sinh thích hợp là nhiệm vụ hàng đầu của cộng đoàn Giáo phận, mà trên hết là của Giám Mục Bản Quyền và những người Ngài tin tưởng ủy thác cho công cuộc tối quan trọng này. Sự chuẩn bị nhắm đến việc tiếp nhận các ứng sinh vào chủng viện, qua việc phân định, nhận xét, đánh giá, tuyển chọn và khai tâm họ đi vào sự cam kết khởi đầu tiến trình tự biến đổi và cam kết với sứ vụ (x. GL 241). Việc đào tạo ở chủng viện tùy thuộc vào phẩm chất của các ứng sinh đã được nhận vào.

ĐTC Biển Đức XVI đau đớn về vấn đề lạm dụng tình dục trẻ em hiện đang làm ta bối rối, một vấn đề từng góp phần vào việc làm suy yếu đức tin không ít và mất đi lòng tôn kính đối với Giáo Hội và giáo huấn của Giáo Hội, đã nêu ra một số nguyên nhân:

“Chỉ bằng cách xem xét cẩn thận nhiều yếu tố phát sinh ra cuộc khủng hoảng hiện nay mới có thể tiến hành được một cuộc chẩn bệnh sáng suốt các nguyên nhân gây ra bệnh và tìm thấy các phương thuốc hữu hiệu. Chắc chắn, trong các yếu tố góp phần, ta có thể kể ra: các thủ tục thiếu sót trong việc ấn định ra tư cách xứng đáng để các ứng viên lãnh nhận chức linh mục và cuộc sống tu trì; thiếu sót trong việc đào tạo nhân bản, luân lý, tri thức và thiêng liêng trong các chủng viện và tập viện; khuynh hướng trong xã hội nể vì hàng giáo sĩ và những khuôn mặt có thẩm quyền khác; và việc quá quan tâm một cách không đúng chỗ tới tiếng tăm của Giáo Hội và tránh gương mù gương xấu, kết quả là không áp dụng các hình phạt hiện hành theo giáo luật để giữ tiếng tăm cho mọi người. Cần phải khẩn thiết hành động để điều chỉnh lại các yếu tố trên, từng mang lại nhiều hậu quả bi thương cho đời sống các nạn nhân và gia đình họ, và làm tối đen ánh sáng Phúc Âm đến độ ngay các thế kỷ bách hại cũng không làm hại đến thế” [9]

Muc Lục

B. Ý NIỆM VỀ ĐỜI SỐNG ĐỘC THÂN LINH MỤC

B.I. CÁI NHÌN TIÊU CỰC VỀ ĐỘC THÂN LINH MỤC

Người thời nay không tin là người ta có thể sống độc thân khiết tịnh được (x. PDV số 29), và chúng ta cũng phải khiêm tốn nhìn nhận là lắm khi phải chiến đấu cam go, cần nhiều ơn Chúa và khôn ngoan tỉnh thức (x. Câu chuyện “Tôi chịu không nổi…ở Nam Đông”).

Thánh Phaolô chia sẻ: “Có ai trong anh em yếu đuối mà tôi không cảm thấy yếu đuối; có ai trong anh em sa ngã mà tôi không cảm thấy như thiêu như đốt”. Và chính Chúa Giêsu cũng đã dạy: “Các con hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn để khỏi sa chước cám dỗ, vì tinh thần thì nhẹ nhàng chóng vánh, nhưng xác thịt lại nặng nề yếu đuối.”

Độc thân thánh hiến không phải chỉ là một mình, vì có nhiều người độc thân không sống một mình, nhưng sống với những người khác. Vì thế ở một mình không phải là một định nghĩa tốt về độc thân thánh hiến.

Độc thân thánh hiến không phải là không kết hôn, vì độc thân thánh hiến chẳng những có nghĩa là không kết hôn mà còn là kiêng tính dục sinh dục trọn vẹn và trường kỳ. Do đó ‘không kết hôn’ không phải là một định nghĩa tốt của độc thân thánh hiến, dù độc thân thánh hiến cấm linh mục và tu sĩ không được kết hôn.

Độc thân thánh hiến không phải là đơn lẻ, vì một người đơn lẻ hay đơn chiếc thì sẵn sàng để kết hôn. Nhưng một người độc thân thánh hiến thì không sẵn sàng để kết hôn. Do đó, độc thân thánh hiến không thể được định nghĩa là sự thoát khỏi người khác phái, hôn nhân, con cái, gia đình v.v…

Như thế chúng ta không thể định nghĩa độc thân thánh hiến là đơn lẻ, đơn chiếc, ở một mình, không kết hôn, kiêng cữ thân mật nhục dục v.v… Đó là những cách nhìn tiêu cực về độc thân khiết tịnh của linh mục.

B.II. CÁI NHÌN ĐÚNG ĐẮN VỀ ĐỘC THÂN LINH MỤC

Chúng ta phải nhìn độc thân linh mục một cách tích cực hơn: không phải theo cái gì nó không là, nhưng chỉ theo cái gì nó là.

Độc thân linh mục là một lựa chọn đời sống tích cực vì Nước Thiên Chúa. Như thế, độc thân linh mục là một món quà đặc biệt Thiên Chúa ban và được đón nhận vì Nước Trời.

Đoạn Tin Mừng đã trở thành nền tảng cho độc thân thánh hiến là Mt 19,12: “Vì có nhiều lý do khác nhau tại sao người ta trở nên yêm hoạn và không thể kết hôn:

– một số người được sinh ra như thế;

– những người khác, vì người ta làm cho họ ra như vậy;

– và những người khác yêm hoạn vì Nước Trời”

Độc thân khiết tịnh vì Nước Trời mà các linh mục được mời gọi và bị bó buộc phải là một món quà ân sủng đặc biệt được quí chuộng.

Nó giải thoát trái tim một con người, để người ấy trở nên sốt sắng hơn trong lòng kính mến Chúa và yêu thương mọi người: “Đàn ông không có vợ thì chuyên lo việc Chúa: họ tìm cách làm đẹp lòng Người. Còn người có vợ thì lo lắng việc đời: họ tìm cách làm đẹp lòng vợ, thế là họ bị chia đôi. Cũng vậy, đàn bà không có chồng và người trinh nữ thì chuyên lo việc Chúa, để thuộc trọn về Người, cả hồn lẫn xác. Còn người có chồng thì lo lắng việc đời: họ tìm cách làm đẹp lòng chồng” (1 Cor 7,32-34).

Vì lý do này, độc thân thánh hiến là biểu tượng cho lợi ích trên trời, và đối với linh mục, tu sĩ thì nó là phương tiện hữu hiệu nhất để hết lòng hiến dâng mình cho việc phụng sự Chúa và các công cuộc tông đồ. [10]

Đời Sống Độc Thân Linh Mục được nêu bật như ân huệ và quà tặng đặc biệt của Thiên Chúa, là lựa chọn một tình yêu không chia sẻ và mạnh mẽ hơn vì Chúa Kitô và vì Nước Thiên Chúa.

Đời sống độc thân cần được trình bày rõ ràng, không hàm hồ và theo cách tích cực. Các chủng sinh cần đạt được mức trưởng thành về tính dục và tâm lý đầy đủ, cùng một cuộc sống cầu nguyện siêng năng và đích thực, dưới sự hướng dẫn của các nhà đào tạo, nhất là vị linh hướng. Những điều đó sẽ hàm dưỡng khả năng đánh giá giá trị của hi sinh, xả kỷ, tự hiến hết mình, tự giác kỷ luật, đón nhận thập giá và sự cô tịch, nhất là đối với các linh mục triều.

Mọi công việc đào tạo nội tâm phải sinh hoa kết trái trong chính lối sống của ứng sinh: Các ứng sinh phải tìm kiếm Thiên Chúa nơi người khác qua việc phục vụ thừa tác vụ được trao ban nhưng không và đức bác ái mục tử. Do hồng ân này, linh mục và tu sĩ có thể gần gũi hơn với Chúa Giêsu với một trái tim không phân chia, và có thể cống hiến đời mình một cách tròn đầy hơn cho Nước Thiên Chúa. [11]

Optatam Totius [12] muốn Đời Sống Độc Thân Linh Mục phải được trình bày hết sức kỹ lưỡng cho các chủng sinh như là một món quà quí giá của Thiên Chúa, với tình yêu không chia sẻ vì Nước Trời.

Công tác đào tạo này cần được bổ sung bằng những khám phá mới nhất của khoa sư phạm và tâm lý lành mạnh, nhằm biết làm thế nào tránh được những hiểm nguy đe doạ đức trong sạch, làm thế nào đạt tới mức trưởng thành về nhân bản và làm chủ suy nghĩ, cơ thể, bản năng, tình cảm và những đam mê của mình.

Các chủng sinh cần được huấn luyện trong tinh thần vâng phục của linh mục, tinh thần sống giản dị và từ bỏ, để họ có thể tự nguyện từ bỏ ngay cả những thứ hợp pháp nhưng không thiết thực. Họ phải khiêm tốn hướng tới và đáp lại đời sống độc thân linh mục một cách tự do và quảng đại dưới ơn trợ giúp và tác động của Chúa Thánh Thần, với những phẩm chất tốt đẹp như thành thật, lòng yêu mến lẽ công bình, lòng trung thành với những lời cam kết, thái độ lịch lãm trong hành động, lòng khiêm tốn và bác ái trong lời nói.

Presbyterorum Ordinis [13] cũng nhắc nhở rằng được Hội thánh Latinh quyết định và bó buộc, Đời Sống Độc Thân Linh Mục được gìn giữ và đánh giá như là món quà của Thiên Chúa, được đón nhận và tuân giữ như một giá trị cao quí của đời sống linh mục. Nó là một dấu chỉ của đức ái mục tử và là một suối nguồi đặc biệt của sự phong phú thiêng liêng.

Thực ra, đời sống độc thân có nhiều khía cạnh thích hợp với chức linh mục. Qua đời sống độc thân, được tuân giữ vì Nước Trời, các linh mục kết hợp với Chúa Kitô dễ dàng hơn bằng một con tim không san sẻ (x.1 Cr 7,32-34). Qua Chúa Kitô, họ hiến dâng bản thân để phục vụ Thiên Chúa và Dân Ngài, và như thế các ngài dễ dàng trở nên dấu chỉ sống động của thế giới tương lai thời cánh chung.

Các linh mục phải khiêm tốn và nhiệt thành cầu nguyện cho đời sống độc thân và đón nhận đời sống ấy như là một món quà thuộc về ân sủng Thiên Chúa. Cùng với Hội Thánh, họ phải khiêm tốn và kiên định cầu nguyện cho ơn trung thành và sử dụng mọi sự trợ giúp siêu nhiên cũng như tự nhiên, đặc biệt là lối thực hành khổ chế đã được trải nghiệm và chấp thuận trong Hội Thánh. Cả các linh mục và tín hữu đều phải ấp ủ và nài xin Thiên Chúa ban quà tặng quí giá là đời sống độc thân linh mục cho Giáo Hội.

Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis [14] khẳng định đời sống độc thân linh mục, một nguyên tắc được Hội Thánh Latinh đặt ra cho những ai, nhờ ân sủng Thiên Chúa, tự nguyện đón nhận vì Nước Trời. Ở tình trạng này, các linh mục dễ dàng ở gần Chúa Kitô hơn với một trái tim không chia sẻ; tự do hơn trong việc trao hiến chính mình phục vụ Chúa và Dân Chúa, và đón nhận chức linh mục với lòng quảng đại.

Bởi vậy, các linh mục tương lai phải ý thức và đón nhận đời sống độc thân như là một món quà đặc biệt Chúa ban. Nhờ đời sống dành trọn cho việc cầu nguyện, cho mối hiệp nhất với Chúa Kitô, cho đức ái huynh đệ chân thành, họ có thể giữ gìn cách hân hoan và trọn vẹn đời sống độc thân của mình. Họ cần có được tự do hoàn toàn về tâm lý, cả bề trong lẫn bề ngoài, và đạt mức ổn định về tình cảm, để hiểu rõ và sống đời độc thân như là sự kiện toàn bản thân vì Nước Trời. Một nền giáo dục thích đáng về giới tính sẽ dẫn đưa họ tới một tình yêu trong trắng đối với con người hơn là một nỗi lo âu nhằm tránh tội, như vậy nhằm chuẩn bị cho họ dấn thân vững vàng vào tác vụ mục vụ trong tương lai. (Hát Trông cậy Chúa)

B.III. HỆ LUẬN

Vậy, lý do quan trọng để chọn độc thân khiết tịnh là “vì Nước Trời.” Độc thân khiết tịnh được một con người đảm nhận là vì con người ấy bị Nước Trời hấp dẫn mãnh liệt. Việc Nước Trời thu hút một ứng sinh mạnh đến đỗi ứng sinh ấy vui lòng hy sinh mọi sự, kể cả đời sống và tình yêu gia đình, để sở hữu Nước ấy. Việc từ bỏ mọi sự này không phải bị cưỡng bách mà là hoàn toàn tự do tự nguyện.

Việc nói ‘không’ với đời sống và tình yêu gia đình tìm được ý nghĩa của nó trong bối cảnh thưa ‘vâng’ với Nước Thiên Chúa. Người ta nên nói ‘không’ với sự vật và con người, khi những sự vật và con người ấy gây trở ngại cho việc linh mục sống cam kết với Chúa và Giáo Hội. Linh mục nói ‘Không’ như vậy là vì Chúa, vì Nước Trời, vì Phúc âm, vì các linh hồn. Các dụ ngôn về Nước Trời thật hấp dẫn: Kho tàng giấu trong ruộng và Viên ngọc quí (Mt 13,44-45); Phêrô, Anrê, Giacôbê và Gioan theo Chúa (Mt 4,18-22).

Vậy Đời Sống Độc Thân Linh mục được nêu bật:

– như ân huệ và quà tặng đặc biệt của Thiên Chúa,

– là lựa chọn tự nguyện và tự do của chính đương sự cho một tình yêu không chia sẻ và mạnh mẽ hơn vì Chúa Kitô và vì Nước Thiên Chúa.

– Đời sống độc thân linh mục cần được trình bày rõ ràng, không hàm hồ và theo cách tích cực là một kỷ luật của Giáo Hội được tự nguyện chấp nhận,

– Các ứng sinh cần đạt mức trưởng thành về tính dục và tâm lý, với một cuộc sống cầu nguyện siêng năng và đích thực, dưới sự hướng dẫn của các nhà đào tạo, nhất là vị linh hướng.

Tóm lại:

Độc thân thánh hiến phải được hiểu theo những liên hệ tình yêu của con người. Độc thân thánh hiến là một liên hệ đặc sủng của linh mục, tu sĩ:

– với Thiên Chúa,

– với chính mình,

– với các phần tử của cộng đoàn,

– với mọi người trong thừa tác vụ

– và với cả thiên nhiên.

Độc thân thánh hiến là một đặc sủng của Chúa Thánh Thần ban qua Giáo Hội để làm cho liên hệ tình yêu đích thực giữa linh mục, tu sĩ và các người mình thi hành sứ vụ được dễ dàng, nam cũng như nữ.

Độc thân thánh hiến là một lời kêu gọi làm chứng cho những đòi hỏi nội tâm đích thực của tất cả tình yêu con người.

Cái sẽ chiếu tỏa ra qua đời sống độc thân thánh hiến không phải là sự tự chủ của chúng ta, hay sự chúng ta siêu thoát khỏi những đường lối thế trần, nhưng là khả năng yêu thương của chúng ta. Những mối liên hệ nhân loại lành mạnh không có hại, nhưng đúng hơn nó có lợi cho việc sống độc thân thánh hiến.

Độc thân thánh hiến không phải là chướng ngại vật đối với các liên hệ của chúng ta. Độc thân thánh hiến không phải là phủ nhận liên hệ con người và tình cảm con người. Độc thân thánh hiến không rút lui khỏi những liên hệ, nhưng thăng tiến các mối liên hệ.

Độc thân thánh hiến không chối bỏ thân xác, cảm xúc, tình dục v.v… Độc thân thánh hiến không phải là cái gì làm cho chính bản thân mình thành không còn là con người nữa. Đúng hơn độc thân thánh hiến giải thoát, để giúp chúng ta yêu tốt hơn, quảng đại hơn, vì độc thân thánh hiến là một lời mời gọi yêu thương mọi người. Lời mời gọi sống đời độc thân thánh hiến là lời mời gọi tới liên hệ thánh thiện.

Như thế, độc thân thánh hiến là:

– liên hệ “tình yêu bao gồm” hơn là liên hệ “tình yêu loại trừ”

– lời mời gọi yêu người mà không có quyền sở hữu;

– liên hệ tình yêu và chăm sóc người khác, trong đó một người tập trung vào nhiều người hơn là vào một người;

– liên hệ mà trong đó chúng ta yêu người một cách thâm thúy, chân tình, sâu lắng, nồng ấm và vui tươi mà không đi vào nhục dục. (Hát Tôi xin chọn Người)

Muc Lục

C. TÍNH THÂN MẬT CỦA ĐỜI SỐNG ĐỘC THÂN LINH MỤC

C.I. TƯƠNG QUAN NAM NỮ VÀ THÂN MẬT GIỚI TÍNH

C.I.1 Tương quan Nam Nữ

Tương quan nam nữ khởi sự từ đầu khi Thiên Chúa sáng tạo con người: người nam và người nữ là một phần của nhau, bổ túc cho nhau và sự sống vẫn tiếp tục trải ra và phát triển, cả nhân bản và thiêng liêng.

Thiên Chúa đã dựng nên con người có nam có nữ. Biểu tượng Âm-Dương chứa đựng tất cả triết lý về cuộc sống con người. Vòng tròn mô tả tính phổ quát của âm dương. Phần màu đen tượng trưng cho Âm, còn phần màu trắng tượng trưng cho Dương.

Âm Dương tách biệt nhau, không phải bằng một đường thẳng, song bởi một đường cong hòa điệu và mềm mại. Do đó, tất cả những gì tiến tới, hoạt động và sáng là dương, còn những gì lùi lại, tiếp nhận và tối là âm. Dương tượng trưng cho trời, ngày, mặt trời, đàn ông, lửa, hành động, sức mạnh, niềm vui. Ngược lại, Âm tượng trưng cho đất, đêm, mặt trăng, đàn bà, nước, nghỉ ngơi, yếu đuối, đau khổ.

C.I.2 Thân mật giới tính

Desmond Morris (người Anh) chia các hành vi của các bộ phận cơ thể đối ứng tương tác với nhau theo hai giai đoạn yêu thương:

1) Giai đoạn yêu thương chia sẻ:

. Mắt đối với cơ thể

. Mắt đối mắt

. Lời nói đối lời nói

2) Giai đoạn yêu thương có tiếp xúc cơ thể trực tiếp:

. Bàn tay đối bàn tay

. Cánh tay đối vai

. Cánh tay đối eo

. Miệng đối miệng

. Tay đối ngực

. Miệng đối ngực

. Tay đối cơ quan sinh dục

. Cơ quan sinh dục đối cơ quan sinh dục

Khi đôi bạn chuyển từ giai đoạn yêu thương chia sẻ sang giai đoạn yêu thương có tiếp xúc cơ thể trực tiếp bằng một thứ ngôn ngữ không lời, thì tình cảm giữa họ càng sâu đậm hơn. Các hành vi đầu giúp thắt chặt thêm tình cảm giữa hai người, còn giai đoạn cuối cùng là hiệu ứng nảy sinh từ những hành vi thân thiết ấy, có tác dụng kết tinh tình cảm và tình dục của cả hai.

Đối với loài người, hành vi tình dục đem lại những cảm nghiệm sâu đậm đến tận xương tủy, gắn liền với những yếu tố nền tảng của luân lý và đạo đức. Hãy dành thời gian học cách yêu thương, học cách nhận biết và đáp đền. Hai bên hãy kìm giữ tốc độ chậm lại, ngay cả sức lực định dồn vào chuyện yêu đương cũng nên chuyển thành dịu dàng và kiên nhẫn, đồng thời tăng mức độ và thời gian suy nghĩ, cảm nhận, hướng về nhau.

Tình dục không nằm trong sự bảo trợ của tình yêu nồng thắm thì không những không thúc đẩy tình yêu thăng hoa, mà ngược lại còn có thể giết chết tình yêu. Sự phát triển tâm lý giới tính thường trải qua 3 giai đoạn:

– thời kỳ phân cảm giới tính dẫn đến xa lánh người khác phái,

– thời kỳ cảm tình với ngưới khác phái,

– và thời kỳ luyến ái lãng mạn.

Những xúc động, xao xuyến của tình cảm đầu đời nếu được sẻ chia, nâng đỡ, định hướng đúng sẽ là con đường đạt tới sự nếm trải trọn vẹn hạnh phúc làm người. Nếu không được quan tâm và giáo dục đúng, để mặc các em mò mẫm tự tìm cho mình lời giải đáp, sẽ dễ bị sa ngã dưới sức ép của bản năng.

Thân thể của ta chỉ thuộc về ta, ta phải chịu trách nhiệm về nó. Biết trân trọng thân thể của mình, biết yêu lấy chính mình là ta biết cách ứng phó với mọi tình huống, có cách nhìn nhận về tình bạn, tình yêu, quan hệ giới tính một cách nghiêm túc, tránh được sa ngã và những hậu quả thương tổn đến đời sống thể lý, tâm lý, thiêng liêng và hành trình ơn gọi.

Do đó, mỗi người cần được trang bị những kiến thức đúng đắn về giới tính; không chỉ là những kiến thức khoa học về sinh lý, sự thai nghén sinh nở, di truyền, các bệnh tình dục… mà điều quan trọng chính là giáo dục về nhân bản, tình bằng hữu, tình yêu thương, sự tự do, ý thức trách nhiệm, lòng thuỷ chung với chọn lựa và cam kết cuộc đời.

C.II. LINH MỤC CŨNG LÀ CON NGƯỜI

C.II.1 Nhu cầu tình yêu

Nhu cầu là một cái gì cần phải có để làm đầy đủ nhân cách của chúng ta. Nó là một đòi hỏi bên trong cần phải được thỏa mãn một cách phải lẽ, nếu chúng ta muốn có hạnh phúc trong đời sống mình.

Khi nhu cầu được thỏa mãn thì có sự điều chỉnh thích hợp, còn khi nhu cầu không được thỏa mãn thì có sự điều chỉnh không ăn khớp trong nhân cách của chúng ta. Kết quả của việc không thỏa mãn nhu cầu là chúng ta cảm thấy hụt hẫng, căng thẳng, mất quân bình, không ổn định trong đời sống, ảnh hưởng đến đời sống thiêng liêng và sứ vụ.

Mọi con người đều có một ước nguyện nội tâm và nhu cầu tình yêu, một nhu cầu tâm lý cơ bản. Một trong những thúc đẩy sâu xa nhất của bản tính tự nhiên của con người là yêu và được yêu.

Yêu một người nào có nghĩa là lắng nghe, hiểu biết, thấu cảm, chấp nhận, tôn trọng, và quan tâm, săn sóc người đó. Được yêu có nghĩa là được người khác chọn làm đối tượng đặc biệt của cảm giác yêu mến và thích thú của họ. Được yêu làm cho người ta hạnh phúc, và càng được yêu, người ta càng trở nên tự do hơn để yêu chính mình và yêu những người khác.

Khi nhu cầu tâm lý này không được thỏa mãn, bị bỏ bê, bị lờ đi thì một sự trống rỗng sâu xa phát triển nơi một người, và kết quả là người ấy cảm nghiệm những chán nản, khó chịu, thiếu hạnh phúc, tha hóa, vỡ mộng, cô đơn v.v… tác động tiêu cực lên đời sống thiêng liêng và sứ vụ.

Do không thỏa mãn nhu cầu yêu thương này, người ta đau khổ vì thiếu dinh dưỡng tâm lý và tình yêu; có thể nhiễm chứng căng thẳng thần kinh, bị stress, cản trở việc tăng trưởng thiêng liêng.

Con người cố gắng đáp ứng những nhu cầu tâm lý qua cách ứng xử của mình. Và việc thiết lập tình bạn thân mật sẽ thỏa mãn nhu cầu tâm lý căn bản yêu và được yêu của mình. Nhưng sự thỏa mãn đó phải được biểu lộ trong bối cảnh của đời sống ơn gọi thánh hiến.

(xin đọc “Tình bạn như nhiệm tích”).

C.II.2 Nhu cầu thân mật

Thân mật là một tình cảm đặc biệt đối với một người nào đó. Mọi người cần đến loại thân mật này để sống nhân bản lành mạnh. Tuy nhiên cấp độ của sự thân mật này có thể thay đổi từ người này đến người khác.

Con người ai cũng ước mong sự liên hệ này, tức là muốn yêu thương một người nào đó và muốn được người ấy yêu thương mình. Là người độc thân thánh hiến, chúng ta cũng nên thừa nhận rằng chúng ta cũng có những nhu cầu này trong cuộc sống, và những nhu cầu này phải được đáp ứng bên trong bối cảnh ơn gọi của chúng ta.

Nếu mỗi người chân thành yêu thương người khác và cảm nhận được người khác yêu thương thì nhu cầu kia được thỏa mãn và tình cảm con tim được bảo hòa. Chúng ta nên nhớ rằng tất cả chúng ta đều là những con người bất toàn, chứ không phải những con người hoàn hảo. Chúng ta không thể nói rằng chúng ta đã được giải thoát khỏi mọi nhu cầu này, vì chúng ta đã hiến dâng cuộc đời vì Nước Thiên Chúa. Chúng ta không thể nói rằng những nhu cầu này không có ảnh hưởng gì trên cuộc đời chúng ta vì chúng ta được Thiên Chúa kêu gọi để thi hành sứ mệnh của Người. Hãy nhìn nhận sự kiện chúng ta trước hết là con người, rồi là linh mục; và những nhu cầu này phải được kiện toàn trong bối cảnh ơn gọi của mình.

Trước Vatican II, sự quen thân và tình bạn thân mật chỉ được chia sẻ với Chúa Kitô, chứ không được chia sẻ với con người nào khác. Nhưng sau Vatican II, người ta hiểu rằng chúng ta không được lơ là thân mật với Chúa, nhưng đồng thời được khuyến khích thân mật với con người. Quả thế, Hiến Chế Mục Vụ Giáo Hội trong Thế Giới Ngày Nay nói: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ… Họ phải cảm thấy thực sự liên hệ mật thiết với loài người và lịch sử nhân loại” [15]

Đôi khi chúng ta chia ra từng ngăn đời sống bằng cách nói rằng chúng ta, những linh mục và tu sĩ, phải kính mến một mình Thiên Chúa thôi, con người không được xen vào: “… Người không kết bạn thì chuyên lo việc Chúa và tìm cách làm đẹp lòng Người. Còn người kết bạn thì lo lắng việc đời và tìm cách làm đẹp lòng bạn mình, thế là bị phân chia” (1 Cor 7,32). Thánh Gioan Tông Đồ nhấn mạnh tính cách quan trọng của lòng kính mến Chúa và yêu thương cận nhân: “Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được?” (1 Ga 3, 17)

Ngài nói tiếp: “Thiên Chúa chưa ai được chiêm ngưỡng bao giờ. Nếu chúng ta yêu thương nhau, thì Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, và tình yêu của Người nơi chúng ta mới nên hoàn hảo” (1Ga 4, 12). “Nếu ai nói: ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối, vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy.” (1Ga 4, 20)

Vậy mệnh đề trái tim không phân chia không làm tương phản liên hệ hay tình yêu của người độc thân thánh hiến và người có gia đình đối với Thiên Chúa và tha nhân, đúng hơn nó biểu thị phẩm tính của mối liên hệ tình yêu nơi người tín hữu và người độc thân thánh hiến: Thiên Chúa là nguyên ủy và là trọng tâm.

(Slideshow Tình yêu đã chọn)

C.II.3 Nhu cầu hạnh phúc

Con người luôn luôn khao khát hạnh phúc, tìm kiếm hạnh phúc và dừng lại để thụ hưởng hạnh phúc, từ hạnh phúc cao khiết của tinh thần, cho đến cảm khoái vật chất và nhục dục. Nhưng không bao giờ con người cảm nhận được thỏa mãn hạnh phúc trọn vẹn ở trong những sự đời này.

Từ chỗ đó, con người đi tìm hạnh phúc vĩnh cửu và bắt gặp được Thiên Chúa. Thánh Augustinô cảm nghiệm sâu sắc điều đó khi ngài nói: “Linh hồn tôi khắc khoải cho đến khi nào được nghỉ yên trong Chúa.”

C.III. TÍNH DỤC VÀ KHOÁI CẢM

Tính dục là hồng ân của Thiên Chúa ban như một chiều kích tích cực và lành mạnh của nhân cách. Tính dục có thể là tính dục tình ý hay tính dục sinh dục (tình dục).

C.III.1 Tính dục tình ý

Tính dục tình ý là phần tình cảm của nhân cách. Nó là khía cạnh liên hệ nhân bản và bao gồm tính nhạy cảm, sự hiểu biết, sự đón nhận, sự nồng ấm, sự cảm kích, lòng trắc ẩn, sự nâng đỡ, sự săn sóc v.v… Tính dục tình ý biểu lộ cảm giác yêu mến, gồm những đặc tính tinh thần, xã hội, dễ xúc động với tâm lý riêng cho nam và nữ.

C.III.2 Tính dục sinh dục

Tính dục sinh dục hay tình dục ám chỉ những gì liên quan đến kích thích hay sử dụng bộ phận sinh dục của thân thể con người (tự mình hay bởi người khác và cho người khác). Tính dục Sinh dục gồm hai khía cạnh/mức độ: Tình yêu sinh dục và Ứng xử sinh dục

C.III.2a Tình yêu sinh dục

Tình yêu sinh dục là có những ham muốn sinh dục, cảm giác sinh dục, tư tưởng sinh dục, tưởng tượng sinh dục… nhưng không được thực hiện thành ứng xử. Cảm nhận tình yêu sinh dục là điều bình thường vì tất cả chúng ta đều là những con người. Tình yêu sinh dục có thể xảy ra, được hoạt hóa tự nhiên hoặc thăng tiến một cách tự phát hay chủ ý.

Cuộc sống hiên ngang đầy can đảm,

Mưu thần chước quỷ biết phòng xa,

Khổ đau không để chồn chân bước,

Nẻo chính hằng theo bỏ lối tà.

Không ngừng bảo vệ luôn gìn giữ,

Thể xác tâm linh mãi vẹn toàn,

Đốt lửa cháy bừng tin cậy mến,

Tiểu trừ tà ý khỏi tâm can.

Đoan trang đức hạnh ngay từ sớm,

Tựa buổi ban mai dệt nắng hồng,

Lửa nóng tin yêu thành chính ngọ,

Tâm thần sẽ thoát cảnh hoàng hôn.

Thánh Thi Kinh Sáng Thứ Hai Tuần I

C.III.2b Cách xử lý tình yêu sinh dục

1) Làm hài lòng

Con người có thể làm hài lòng những cảm giác sinh dục của mình qua ứng xử sinh dục. Nhưng làm hài lòng những cảm giác sinh dục không có chỗ trong đời sống độc thân linh mục:

“Về điểm này, đừng ai làm tổn thương hay lừa dối anh chị em mình, vì Chúa là Đấng trừng phạt tất cả những cái đó, như chúng tôi đã từng báo trước và cảnh cáo anh em. Thật vậy, Thiên Chúa đã không kêu gọi chúng ta sống ô uế, nhưng sống thánh thiện” (1 Th 4, 6-7)

2) Ức chế

Ức chế là cách thức xô ngã những cảm giác sinh dục vào vô thức. Nó là phương pháp loại trừ khỏi ý thức những thúc đẩy, cảm nhận, cảm giác làm xáo trộn tâm lý. Đây là sự cố tình không chú ý tới, quên lãng đi, hay hướng qua một cái gì khác.

3) Đàn áp

Đàn áp là hành vi ý thức kiểm soát và kiềm chế một ý nghĩ, một cảm giác và không chấp nhận nó. Người ta ý thức và cố ý gạt bỏ những cảm giác sinh dục, không cho chúng biểu hiện, dựa trên lý trí và có cân nhắc, nghĩa là khi đàn áp những cảm giác sinh dục, chúng ta quyết định không tác động chúng. Đàn áp những cảm giác sinh dục đôi khi là tốt, nhưng nó cũng có thể gây phiền phức. Trong việc đàn áp những cảm giác sinh dục, nghị lực tâm linh cũng tác động bên trong cơ thể chúng ta.

Đường anh anh đi, đường em em đi, tình nghĩa đôi ta có thế thôi, đã quyết không mong sum họp nữa, bận lòng chi nữa lúc chia phôi (Nữa Chừng Xuân)

4) Thăng hoa

Thăng hoa là tiến trình của nghị lực tâm linh chuyển những cảm giác không chấp nhận được sang hành động và cách ứng xử được xã hội chấp nhận, tán thành: (xem Hồn Bướm Mơ Tiên: “Yêu nhau trong tinh thần, trong lý tưởng…”).

Thăng hoa có lẽ là cơ chế hiệu quả nhất trong việc xử lý những cảm xúc sinh dục. Chúng ta có thể thăng hoa những cảm giác sinh dục bằng cách tái hướng nghị lực đến hành động thăng tiến đời sống tu trì đích thực (“bắt đầu và lại bắt đầu”)

Chúa đã gọi anh,

Chúa đã gọi em.

Chúa đã gọi sao còn một tiếng gọi?!

Lòng như lòng can đảm dẹp mến thương,

Vâng tiếng Chúa,

Quyết giúp nhau sống cho tròn sứ mệnh.

(Hát Xin giữ con)

C.III.2c Ứng xử sinh dục

Chính con người mới có tình yêu sinh dục và chỉ có con người mới biểu lộ tình yêu sinh dục (làm tình) bất cứ mùa nào, lúc nào và bất cứ ở đâu; khác với loài vật chỉ có mùa theo bản năng. Nhưng để là con người thì không nhất thiết phải ứng xử theo tình dục. Một người trưởng thành có thể không tự cho phép mình ứng xử theo tình dục, huống chi là một người sống đời thánh hiến trưởng thành [tiết dục trọn vẹn và trường kỳ].

Ứng xử sinh dục đòi sự cam kết hôn nhân, nên chỉ hôn nhân mới được đòi liên hệ ứng xử sinh dục. Như thế, ứng xử sinh dục không có chỗ trong đời sống độc thân linh mục và trong tình bạn độc thân thánh hiến, vì tình bạn của người độc thân thánh hiến luôn luôn là không có ứng xử sinh dục. Ứng xử sinh dục đối với một người độc thân thánh hiến là không trong sạch.

(Slideshow Chúa đã chiếm đoạt con rồi)

C.III.3 Khoái cảm

Biết loại khoái cảm mà chúng ta cảm nhận trong mình và tìm cách tốt nhất để xử lý chúng là điều tốt.

C.III.3a Khoái cảm tinh thần

Khoái cảm này nổi lên từ sự vận hành của trí tuệ con người, nghĩa là trí năng và ý chí (đọc một cuốn sách hay, thưởng thức một bản nhạc ý nghĩa, ngắm một phong cảnh đẹp, v.v…). Không nên lẫn lộn khoái cảm tinh thần với khoái cảm sinh dục.

C.III.3b Khoái cảm giác quan

Khoái cảm này đi theo sự vận hành của các giác quan như thị giác, xúc giác, thính giác, vị giác và khứu giác. Có hai loại khoái cảm giác quan:

1) Khoái cảm giác quan đơn thuần

Nổi lên từ hoạt động của các giác quan và thường không liên kết với khoái cảm sinh dục. Không nên lẫn lộn khoái cảm giác quan đơn thuần với khoái cảm sinh dục.

2) Khoái cảm giác quan liên quan đến tình dục

Nổi lên từ sự vận hành của các giác quan và dẫn đến khoái cảm sinh dục.

Lạy Cha cực thánh, nguyện hồng ân vô hạn, Chặn đứng ngay những khoái cảm bên ngoài, Lẻn vào hồn xúi dục tình náo loạn, Ép tinh thần sa chước độc trần ai.

(Thánh Thi Kinh Sáng thứ Ba tuần IV)

Này ngôn ngữ, xin dằn cho êm lại, Nỗi bất bình, thu xếp gọn một bên, Còn đôi mắt, ngăn đừng cho cuồng dại, Thu bóng hình những ảo ảnh phù vân.

Cho tấc dạ trinh bạch như tuyết trắng, Mãi can trường trong thử thách đau thương, Khi tiết độ, khi cầu kinh nguyện ngắm, Vững tâm theo đường đạo lý luân thường.

(Thánh thi kinh Sáng Thứ Nam tuần IV)

C.III.3c Khoái cảm sinh dục

Khoái cảm sinh dục nổi lên là kết quả của sự kích thích cơ quan sinh dục. Sự vận hành của các giác quan cũng có thể kích thích khoái cảm sinh dục nơi một người. Hai loại khoái cảm sinh dục:

1) Khoái cảm sinh dục được muốn trực tiếp

Nếu mục đích chính của một hành động là để có khoái cảm sinh dục thì đó là khoái cảm sinh dục được muốn trực tiếp (ứng xử tình dục). Độc thân thánh hiến loại trừ khoái cảm sinh dục được muốn trực tiếp.

Xin thương bảo vệ hương thanh khiết,

Sợ lúc đêm về giữa cô đơn,

Lợi dụng tối tăm thần quỷ quyệt,

Phóng tên ác độc giết tâm hồn.

Xin che chở trí lòng luôn thoát khỏi, Dục tình cường bạo cứ đuổi theo,

Và muôn cảm nghĩ đầy tội lỗi,

Cho mảnh hồn thiêng mãi yêu kiều

(Thánh thi Kinh Chiều thứ Ba tuần IV)

2) Khoái cảm sinh dục được muốn gián tiếp

Nếu khoái cảm sinh dục nổi lên như một phó phẩm của một hành động không trực tiếp muốn, thì đó là khoái cảm sinh dục được muốn gián tiếp (không phải ứng xử tình dục). Ở đây mục đích chính của hành động là cái gì khác, chứ không phải để tìm khoái cảm sinh dục. Thí dụ vào dịp sinh nhật của một người bạn, bạn mang quà đến tặng diễn tả tình cảm của bạn với người bạn ấy, bạn có thể cảm nhận khoái cảm sinh dục nơi bạn, vì bạn là một con người. Nhưng khoái cảm bạn đang cảm nhận chỉ là phó phẩm của việc bạn bày tỏ tình thương mến.

C.IV CÁC LOẠI THÂN MẬT CỦA LINH MỤC

C.IV.1 Thân mật không dành riêng

Thân mật dành riêng là tình bạn được tập trung vào một người duy nhất, có khả năng dẫn đến ứng xử sinh dục. Sự thân mật người độc thân thánh hiến phải luôn luôn là không dành riêng, bởi vì tình yêu người độc thân thánh hiến không chỉ hướng tới một người duy nhất, nhưng luôn luôn phải mở ra đối với mọi người. Sự thân mật dành riêng là kẻ thù đối với sự thân mật của người độc thân thánh hiến.

C.IV.2 Thân mật không sở hữu

Người đang yêu muốn được sở hữu đối tượng. Ghen tương là khuynh hướng sở hữu trong thân mật. Ghen tuơng nổi lên là kết quả của so sánh. So sánh dẫn đến những mặc cảm tự ti. Không có so sánh thì không có ghen tương. Không có ghen tương có nghĩa là không có sở hữu. Timothy Radcliffe chỉ ra rằng tình bạn mời gọi những người độc thân thánh hiến giúp đỡ người khác mà không tìm cách sở hữu. Chấp nhận bạn như bạn là, và chấp nhận người bạn yêu như người ấy là, lòng bạn sẽ bình an và đời sống thiêng liêng của bạn sẽ tiến bộ.

C.IV.3 Thân mật có chọn lựa

Chúng ta được kêu gọi để yêu thương mọi người, nam cũng như nữ. Một người cố gắng sống thân mật với mọi người thì không cảm nghiệm thân mật với riêng một ai cả. Do đó sự thân mật của chúng ta có tính cách chọn lựa. Song chọn lựa ở đây không có nghĩa là chỉ có một người. Nếu chỉ một người mà thôi, thì đó là tình bạn dành riêng. Nhưng thân mật dành riêng không có chỗ trong đời sống người độc thân thánh hiến, nhất là đối với người khác phái.

C.IV.4 Khoảng cách và sự riêng tư

Trong sự thân mật của người độc thân thánh hiến, người ta phải giữ khoảng cách trong một số liên hệ, để duy trì tình bạn với những người khác. Cũng như cuộc sống cá nhân đòi hỏi sự riêng tư thì tình bạn cũng cần sự riêng tư. Bạn bè có quyền có sự riêng tư và tín cẩn gần như tòa trong vậy.

C.IV.5 Độc lập trong thân mật

Dấu hiệu của sự trưởng thành trong liên hệ tình bạn là tính cách độc lập. Bạn bè phải có sự độc lập của mình. Quá tùy thuộc trong thân mật cũng là dấu hiệu của sự thiếu trưởng thành, vì nó dẫn đến thái độ bất cập hoặc thái quá.

C.IV.6 Đụng chạm và thân mật

Liên hệ đụng chạm không sinh dục là điều có thể được trong thân mật của người độc thân thánh hiến. Nhưng nên nhớ rằng đụng chạm cũng có thể dẫn tới ứng xử sinh dục. Khả năng đụng chạm là một hồng ân Chúa ban, và việc đụng chạm có thể thật đằm thắm, nên dùng nó với đúng người và vào đúng lúc. Sự thân mật người độc thân thánh hiến không đòi đụng chạm thể lý, nhưng nó cũng không loại trừ hay ngăn ngừa.

C.IV.7 Đối đầu trong thân mật

Đối đầu là một cố gắng chủ ý để giúp người kia khảo sát những hậu quả của một ứng xử nào đó của mình. Do đó đối đầu là một lời mời gọi xét mình, kiểm điểm đời sống, thay đổi cách sống, cách hành xử. Mục tiêu của đối đầu là một cách diễn tả tình yêu và sự quan tâm đối với người kia. Nó cũng là một cách tăng cường mối tương quan với người ấy. Chúng ta không mong giúp đỡ được người bạn, nếu không cố ý tăng cường tình bạn của chúng ta với nguời ấy.

Phê bình, chỉ trích, trách mắng, thi hành kỷ luật v.v… sẽ không mang lại sự thay đổi nơi người kia, vì thay đổi là kết quả của sự đối đầu cộng với tình yêu và ơn Chúa. Cần lưu ý rằng rất thường chúng ta thấy đối đầu với người mà chúng ta không thích thì dễ, còn đối đầu với những người chúng ta yêu mến thật khó, vì hay vị nể và sợ mất lòng. Do đó, đối đầu trong thân mật của người độc thân thánh hiến rất quan trọng để lớn lên, không những trong tình bạn mà còn trong con đường lý tưởng.

C.IV.8 Cởi mở trong thân mật

Cần phải cởi mở về sự thân mật đối với Chúa, cha giải tội, vị linh hướng, bề trên và bạn thân. Có thể có những thời gian chúng ta phải đối mặt với những vấn đề, khó khăn, nghi ngờ trong các mối tương quan. Trong những thời gian này, chúng ta nên chia sẻ những khó khăn của chúng ta với một người tín cẩn nào đó để có được sự giúp đỡ thích hợp của họ.

C.IV.9 Trung thành với ơn gọi

Người độc thân thánh hiến phải bén rễ sâu trong ơn gọi độc thân thánh hiến của mình với Chúa Giêsu, với Giáo hội, và với thừa tác vụ của mình. Khi lớn lên trong thân mật thì ta cũng phải lớn lên trong sự mộ mến độc thân linh mục. Tình bạn độc thân thánh hiến cho ta nghị lực tâm lý và thiêng liêng để thực hiện thừa tác vụ của mình tốt hơn và sống xứng ơn gọi của mình.

Để sống tốt đời độc thân linh mục, chúng ta phải thực hành cầu nguyện, suy niệm và khổ chế cá nhân dựa trên các nhân đức được sống trong đời sống hằng ngày. Đời sống độc thân linh mục vì Nước Trời phải được trình bày như một chọn lựa rất thuận lợi cho việc hân hoan loan báo Chúa Kitô Phục Sinh. Ở tình trạng này, chúng ta dễ dàng ở gần Chúa Kitô hơn, với một trái tim không chia sẻ, và được tự do hơn trong việc trao hiến chính mình phục vụ Chúa và Dân Chúa với lòng quảng đại.

Nhờ đời sống cầu nguyện, hiệp nhất với Chúa Kitô và tình huynh đệ chân thành, ta có thể giữ gìn cách hân hoan và trọn vẹn đời sống độc thân linh mục của mình. Cùng với Hội Thánh, linh mục phải khiêm tốn và kiên định cầu nguyện cho ơn trung thành và sử dụng mọi sự trợ giúp siêu nhiên cũng như tự nhiên, đặc biệt là lối thực hành khổ chế đã được trải nghiệm và chấp nhận trong Hội Thánh.

(Hát Niềm xác tín của con)

Muc Lục

D. TÌNH BẠN KHÁC PHÁI CỦA NGƯỜI ĐỘC THÂN THÁNH HIẾN

D.I. Đặt vấn đề

Linh mục và những người sống đời độc thân thánh hiến có thể có tình bạn khác giới không? Nếu Chúa Kitô, trong nhân tính của Ngài, đã làm bạn với phụ nữ để lôi kéo họ tới thiên tính của Ngài, cho họ cộng tác với Ngài trong công trình cứu độ nhân loại, thì tình bạn giữa người nam và nữ sống đời độc thân thánh hiến đã được Thiên Chúa phê chuẩn. Và Chúa Giêsu trở thành mẫu gương hoàn hảo của tình bạn khác giới của người sống đời độc thân thánh hiến.

Mẫu gương sống động về tình bạn của Chúa Giêsu với phụ nữ có căn bản Thánh Kinh cho loại liên hệ này trong cuộc đời con người. Cha Felix M. Padimatham nói rằng Chúa Giêsu trở thành mẫu gương hoàn hảo của tình bạn khác tính luyến ái. Ngài cũng chỉ ra nhiều mẫu gương các Thánh và Chân Phước đã có loại tình bạn này trong cuộc đời các ngài, như:

– thánh Hiêrônimô và bà quả phụ Paula,

– thánh Gioan Kim Khẩu và nữ trợ tế Olympias,

– thánh Phanxicô Assisi và thánh nữ Clara,

– thánh nữ Catarina Siena và Chân Phước Raymon Capua,

– thánh nữ Têrêsa Avila và thánh Gioan Thánh Giá, v.v…

Và mẫu gương của Chúa Giêsu vẫn còn có giá trị cho những người theo Ngài, trong tất cả mọi chiều kích nhân bản và thiêng liêng của đời sống ơn gọi và sứ vụ. Nhưng một điều rất rõ ràng là sự yếu đuối và những nguy hiểm đã không đe dọa Chúa Giêsu, lại có thể đe dọa những người nam và người nữ sống đời thánh hiến trong những liên hệ như vậy. Do đó, chúng ta phải biết cân nhắc các giới hạn và điều kiện cần thiết.

Chúng ta đừng bao giờ quên rằng mọi thân xác đều mang giới tính và bất cứ tương quan nam nữ nào cũng có yếu tố phái tính (“trai khôn không ở với mạ, má khôn không ở với trưa”). Vì thế, quà tặng độc thân thánh hiến có thể bị nguy hiểm, nhất là trong quan hệ độc hữu, khi mà một người nam đơn độc ở với một người nữ đơn độc (solus cum sola) lâu giờ trong một nơi kín đáo cửa khóa chặt, chẳng ai biết và trông thấy, mà không có bất cứ khoảng cách nào, cùng với những biên giới cần thiết về thể lý, tâm lý và thiêng liêng, nhất là ý thức về sự hiện diện thường hằng của Chúa (x. Câu chuyện “Một nơi kín đáo không ai thấy”).

Linh mục và những người sống độc thân thánh hiến không có sự quân bình tự nhiên của người sống đời đôi bạn theo nguyên lý bổ túc âm dương, nên phải thiết lập cho được và sống thế quân bình siêu nhiên bằng đời sống cầu nguyện, mật thiết với Chúa, đời sống huynh đệ, tận tụy với sứ vụ, cảnh giác toàn bộ cách ứng xử và cảm xúc của mình, ý thức rằng mình “gìn giữ kho tàng ấy trong những chiếc bình sành” dễ vỡ (2 Cor 4,7).

Sự thiếu quân bình trong đời sống và sứ vụ cộng với những khó khăn, thử thách đau khổ, yếu đuối nhân loại bên trong, và những thử thách, cám dỗ lôi cuốn từ bên ngoài, khiến người ta có khi đi tìm lại sự quân bình tự nhiên kia mà vấp ngã. Kinh nghiệm cho thấy những linh mục, tu sĩ thất bại trong sứ vụ, gặp thử thách buồn phiền từ Bề trên và anh chị em, lại bỏ đời sống cầu nguyện, thiếu tình huynh đệ cộng đoàn và bỏ bê bổn phận sớm muộn gì cũng sẽ sa ngã, bỏ cuộc: người ta sẽ liều thua cuộc khi con tim thổn thức, mất hướng trước những thử thách buồn phiền, chán nản gây nên bởi những người đáng ra không nên làm như thế! Vì thế, chúng ta được thúc đẩy thiết lập mối tương quan trưởng thành, lành mạnh, hài hòa và quân bình giữa cả hai phái. Người ta nên tốt hay không đều do các mối tương quan của họ.

D.II. Linh mục tương quan với người nữ

(x. Micae-Trần Minh Huy, Đào tạo và tự đào tạo thiêng liêng của linh mục tương lai trong bối cảnh Việt Nam ngày nay, tr.283-291).

D.II.1 Tương quan của linh mục với phụ nữ:

Trợ Lực hay là Vấn Đề cho Cuộc Sống và Sứ Vụ?

Theo sách Sáng Thế (St 2, 18-24) và theo quan niệm Á Đông về Âm-Dương, người nam và người nữ rất gắn bó nhau, hấp dẫn nhau và bổ túc cho nhau. Người nam không thể là một con người nếu không có người nữ và ngược lại. Điều này đã khởi sự tự nhiên ở trong gia đình và ngay từ thời niên thiếu: người nam và người nữ bổ túc cho nhau, và sự sống, cả nhân bản và thiêng liêng, vẫn tiếp tục trải ra và phát triển.

Sự việc cũng như thế với các linh mục và phụ nữ, nữ tu hay nữ giáo dân. Trong những mối tương quan này, có nhiều phương diện của cuộc sống thật ý nghĩa và đẹp đẽ và có nhiều công việc thật tuyệt vời. Tuy nhiên, họ không luôn luôn là trợ lực, nhưng lắm khi cũng là vấn đề và sa lầy không lối thoát cho một số linh mục. Và, vì một người đàn bà, một số linh mục đã từ bỏ thừa tác vụ, nhất là trong bối cảnh hiện nay của nền văn minh tục hóa, lấy cái tôi làm trọng tâm, vật chất, hưởng thụ khoái lạc, phim con heo và nhục dục. Vì thế, đời sống độc thân linh mục cần được bảo vệ cách ý thức bằng việc đặc biệt giữ cảnh giác cảm xúc và toàn bộ cách cư xử của mình, với ý thức rằng “chúng ta gìn giữ kho tàng ấy trong những chiếc bình sành” dễ vở (2 Cor 4,7). “Cách thực tế, một lối sống phù hợp với chức linh mục không thể được phát triển, nếu chủng sinh dấn thân vào một mối quan hệ độc hữu với một phụ nữ.”

Do hoàn cảnh cuộc sống, nhất là học hành từ nhiều thập niên qua trong các trường đời, vì trường đạo không được phép tồn tại, bên cạnh các bạn đồng giới, các ứng sinh linh mục có nhiều bạn là con gái từ nhà trẻ, mẫu giáo, lên bậc tiểu học, rồi trung học, cao đẳng, đại học, cũng như trong các sinh hoạt xã hội và ngành nghề; thậm chí có một số ứng sinh không chỉ có bạn là con gái, mà là «bạn gái» nữa, với những hệ quả và phản ứng như đã nói trên kia.

D.II.2 Tương quan của linh mục với nữ tu:

Phải Khôn Ngoan và Tỉnh Thức

Linh mục hãy giữ trong trí óc và tâm hồn sự lệ thuộc của chính mình, cũng như sự lệ thuộc của các nữ tu đối với Chúa, và luôn ý thức phải “trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa” (x. Mc 12,17): Cái đã cho rồi, không lấy lại mà cho người khác!

Nhưng do lý tưởng hiến dâng và môi trường mục vụ chung, linh mục và nữ tu có thể có mối tương quan thân mật, bằng sự cởi mở tâm sự cho nhau, bằng sự hiểu nhau và chia sẻ sứ vụ, những thành công cũng như những khó khăn thất bại, tin tưởng nhau, cảm thông nhau, dịu dàng và ân cần chăm sóc nhau. Và cũng phải kể đến những người nữ cùng làm việc tông đồ với linh mục trong các đoàn hội, hay ân nhân, bảo trợ, mạnh thường quân: Không ai cho cái gì mà cho không cả, và nhiều khi ÂN đòi được trả bằng TÌNH ! “Em ngồi em kể công ơn, bạc vàng nặng ít nghĩa nhơn nặng nhiều.”

Chính từ sự thân mật này, một cảm nhận “yêu thương” có thể dễ dàng phát sinh và phát triển, rồi tình trạng có thể trở nên nguy hiểm hơn, với những hình thức được bộc lộ ra theo tiến trình: muốn chiếm hữu – ghen tuông – và muốn độc quyền. Những hình thức này dễ nhìn thấy bộc lộ ra nơi các cô bếp hay những nữ tu trẻ đẹp phục vụ và ở luôn trong nhà xứ. Không những thế, mà nhiều trường hợp còn đi xa hơn trong chiều hướng tiêu cực. Ước mong những người có trách nhiệm khôn ngoan và kiên quyết tránh hoàn cảnh nguy hiểm/bẩy ngầm của việc chung sống dưới một mái nhà.

Không hiểu tại sao các vị hữu trách cấp cao về phía giáo phận cũng như Dòng tu vẫn để tình trạng một, hai nữ tu trẻ, kể cả em đệ tử sống chung trong nhà xứ cùng với các cậu dự tu và không dự tu, Thầy xứ và cha xứ, cha phó! Các ngài quá thánh quá siêu và coi ai cũng thật thánh thật siêu mà quên đi nhận định bao đời của tiền nhân “lửa gần rơm lâu ngày cũng cháy” chăng?! Không ai trách lửa tại sao đốt cháy rơm; và cũng không ai trách rơm tại sao để bị lửa đốt cháy; mà trách người đã để rơm gần lửa. Nhiều trường hợp thương tâm đã và đang xảy ra đó đây, lẽ nào lại để tiếp tục xảy ra nữa sao?!

Linh mục đừng quên lời khuyên của Chúa Giêsu (x. Mt 26,41; Mc 14,38): là những con người thánh hiến, nhưng linh mục và nữ tu vẫn không thôi là những con người với những yếu đuối nhân loại. Thánh Phaolô chia sẻ: “Có ai trong anh em yếu đuối mà tôi không cảm thấy yếu đuối, có ai trong anh chị em sa ngã mà tôi không cảm thấy như thiêu như đốt?”

Linh mục và nữ tu cũng phải ý thức rằng sự thân mật là nhu cầu của con người, nhưng sự thân mật trong đời sống độc thân thánh hiến không cần (và không được) biểu lộ có tính cách thể lý phái tính, cùng với hoạt động truyền sinh. Sự thân mật độc thân thánh hiến có mức độ thích hợp của nó. Chính mức độ riêng biệt này cung ứng cho linh mục và nữ tu đủ tự do để yêu thương nhau và yêu thương mọi người mà không vượt qua các giới hạn.

Linh mục và nữ tu hãy khuôn đúc các mối tương quan nam nữ của mình theo gương mẫu đời sống của Chúa Ba Ngôi và kêu xin ơn can đảm để thăng tiến, vượt thắng và thánh hoá “tiếng gọi nhân loại” này, ngõ hầu giúp nhau sống và chu toàn những gì đã cam kết trong ơn gọi và sứ vụ của mỗi người, vì tình yêu nhiều khi không có tuổi và giờ hẹn:

Chúa đã gọi cha,

Chúa đã gọi con.

Chúa đã gọi, sao còn một tiếng gọi?

Trong trường hợp ấy, linh mục và nữ tu phải biết tôn trọng: nơi chốn – thời gian – thời lượng – khoảng cách và giới hạn cần thiết, về thể lý cũng như tâm lý, của các cuộc gặp gỡ, nhất là ý thức sự hiện diện thấu suốt mọi bí ẩn của Thiên Chúa. Có thế mới mong:

Lòng như lòng can đảm dẹp mến thương,

Vâng tiếng Chúa, sống cho tròn sứ mệnh.

Linh mục và nữ tu phải rõ ràng và thành thật với chính mình, với người khác và với Chúa, bởi vì lắm khi sự “hẹn hò yêu thương ấy” thường được che giấu dưới những cớ hợp pháp và chính đáng của các công tác và hoạt động mục vụ, nhưng “thực tế đó là những nghiêng chiều nguy hiểm của con tim.” Và chớ gì đừng vì thế mà dại dột can thiệp giữ lại hay cản trở việc thuyên chuyển chính đáng của Nhà Dòng, nhất là khi họ muốn rút về các nữ tu ở chung trong nhà xứ vì chưa có điều kiện xây dựng cơ sở cộng đoàn riêng.

Mỗi linh mục và nữ tu, hiện thể hay năng thể, hãy nhớ rằng mình không thôi là con người: Chúng ta có thể làm cớ cho người khác vấp phạm, và người khác cũng có thể làm cớ cho chúng ta vấp phạm: “Tại cả anh, tại cả ả, tại cả và hai!” Thánh sử Matthêu đã viết: “Đức Giê-su quay lại bảo ông Phê-rô: “Sa-tan, lui lại đàng sau Thầy! Con làm cớ cho Thầy vấp phạm, vì con không nghĩ đến việc của Thiên Chúa, mà chỉ nghĩ đến việc của loài người” (Mt 16,23).

Trong hoàn cảnh tế nhị này, sự hiện diện yêu thương và đời sống huynh đệ cộng đoàn sẽ mang lại sự trợ giúp cần thiết. Nhờ tình bạn dâng hiến và nhiệt tình, mỗi người có thể là sự trợ giúp lớn lao cho người khác, trong việc soi sáng và khích lệ lẫn nhau, khi phải chịu đựng những hoàn cảnh nguy hại khác nhau, cũng như sự lây nhiễm một thứ tinh thần thế tục nào đó.

Xin nhớ trong mọi hoàn cảnh sống, Tình huynh đệ sẽ là:

· một sự đoàn kết bên nhau để cùng tiến bước,

· một cuộc đối thoại thường xuyên trong cuộc sống đa nguyên đa diện,

· một cuộc gặp gỡ cởi mở hơn cho cuộc hành trình đầy gian khó và nguy hiểm,

· một sự có mặt khích lệ hay một nâng đỡ hỗ trợ tinh thần,

· một lời vui, một tiếng cười thanh thỏa cùng chia sẻ tình thương dâng lên vời vợi,

· một cái nhìn cảm thông khi vướng trở ngại, hay khi bị thất bại chua cay,

· một “tôi khác” để mỗi người có dịp phản tỉnh nhìn lại bộ mặt của mình, có khi đã hoen ố bụi đời,

· một bạn đồng hành để con đường thập giá bớt nỗi đơn côi,

· một Simong vác đỡ hay một Vêrônica lau mặt,

· một cái gì khỏa lấp chỗ trống vắng tình thương sau tình yêu Thầy Chí Thánh,

· một hiện diện và hiện thân của Thiên Chúa cao xa vô hình.

Và mỗi người chúng ta trước hết hãy là người bạn như thế cho nhau và cho kẻ khác.

(slideshow Tình bạn là gì?)

Hơn nữa, linh mục và nữ tu cũng đừng cả dám tự phụ quên đi cái nghịch lý mà thánh Phaolô đã trăn trở: “Vì tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt, đôi bên kình địch nhau, khiến anh em không làm được điều anh em muốn… Những ai thuộc về Đức Ki-tô Giê-su thì đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê. Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí, thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước ” (Ga 5,17.24-25).

Linh mục không được quên nhu cầu cầu nguyện, khổ chế, ăn chay và chiêm niệm: “Người ta không thể đi theo con đường khó ấy nếu không có một thứ khổ chế đặc biệt.” Chúa Giêsu tha thiết cầu nguyện với Chúa Cha cho linh mục: “Con không còn ở trong thế gian nữa, nhưng họ còn ở trong thế gian… Con không xin Cha cất họ ra khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần. Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không thuộc về thế gian. Xin Cha lấy sự thật mà thánh hóa họ. Lời Cha là sự thật. Như Cha đã sai con đến thế gian thì con cũng sai họ đến thế gian. Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật họ cũng được thánh hiến” (Ga 17,11.15-19)

Mặc trần thế ngày ngày giăng cạm bẫy

Đây một lòng xin tuân phục ý Cha

Đã tốn công gieo rắc chẳng nề hà

Hương ngào ngạt Chúa Kitô khắp cõi.

Bắt thân xác phải hy sinh đền tội

Lấy lời kinh mà nuôi dưỡng tâm thần

Những coi thường các lợi lộc phù vân

Tìm ân thưởng phúc trường sinh chân thật.

Thánh Thi Kinh Sáng Lễ Chung Thánh Nữ

Cho tấc dạ trinh bạch như tuyết trắng

Mãi can trường trong thử thách đau thương

Khi tiết độ, khi cầu kinh nguyện ngắm

Vững tâm theo đường đạo lý luân thường

Thánh Thi Kinh Sáng Thứ Tư Tuần IV

Nhưng trên hết, mỗi người phải tin rằng tình yêu của Thiên Chúa lớn hơn tình yêu nhân loại (một tình yêu lớn hơn vượt thắng tình yêu nhỏ hơn và những hấp dẫn của nó); rằng chỉ có Thiên Chúa mới làm thoả mãn được con tim chúng ta và chúng ta thế nào thì Ngài yêu thương chúng ta thế ấy, và Ngài yêu thương chúng ta cho đến tận cùng; và rằng chúng ta cũng phải yêu thương Ngài đến tận cùng như vậy. Chúa luôn hiện diện trong cuộc đời chúng ta như là “người canh giữ”, như là “bóng mát” của cột mây ban ngày và cột lửa ban đêm để soi đường trong sa mạc, và như là “cánh tay uy quyền” của người bảo vệ.

D.II.3 Ứng sinh tương quan với bạn khác phái đời thường

Đối diện với những vấn đề này, các ứng sinh được thúc đẩy thiết lập một mối tương quan trưởng thành, lành mạnh, hài hoà và quân bình; và các nhà đào tạo cũng cần có những quan tâm sâu sát. Xin phân biệt hai trường hợp bạn là con gái và bạn gái Công giáo và không công giáo.

Nếu những lưu ý về nơi chốn, thời gian, thời lượng, khoảng cách và giới hạn cần thiết, về thể lý cũng như tâm lý, của các cuộc gặp gỡ đã được nhắc đến trên kia với giới nhà tu vì những yếu đuối của con người, thì ở đây càng được nhấn mạnh hơn nữa, nhất là đừng bao giờ mời hay nhận lời đi riêng với một mình họ đến khách sạn, nhà khách, nhà nghỉ, hay những nơi tương tự như qua đêm ở phòng trọ riêng của mỗi người, vì bất cứ lý do gì.

Nhiều trường hợp đã gặp phải những hậu quả thê thảm, hỏng mất lý tưởng và cả đời người. Nhớ bài “Lý Con Quạ” Nam Bộ: “Quạ kêu, cái mạ quạ kêu, nam đáo bất đáo nữ phong, người dưng khác họ, chẳng nọ thời kia, ban ngày mắc cỡ, tối ở quên về, chừng ra í a ra về, tình tình mà nhớ thương, chừng ra í a ra về, tình tình mà nhớ thương.”

Đối với các bạn là con gái hay bạn gái Công giáo thì dù gì cũng có một mẫu số chung là đức tin, luân lý và giáo lý công giáo. Chính mẫu số chung đó với quan niệm và lập trường về nhân đức hay tội lỗi tạo nên một môi trường tăng trưởng lành mạnh, những giới hạn được bảo vệ hữu hiệu. Tâm thức sợ tội và yêu mến sự thánh thiện được coi trọng, đề cao và chăm sóc gìn giữ bởi các thẩm quyền hữu trách trong Giáo hội, trong Dòng Tu, trong gia đình, trong cộng đồng giáo xứ và đoàn thể.

Nếu người nào “xem ra có cái gì đó” thì sẽ có những can thiệp kịp thời và thích đáng. Thậm chí nếu ai thực sự “có vấn đề” thì cũng có mẫu số chung của Đạo để giải quyết. Tuy nhiên, “đừng đùa với lửa”, nhiều lúc trong tình trạng xem ra an toàn lại gặp phải nguy hiểm nhất. Anh em cũng đừng quên giữ luật giao tiếp của chủng sinh: Ai giữ luật thì sẽ được luật gìn giữ cho.

Trái lại, nếu anh em có những bạn là con gái hay bạn gái không công giáo thì vấn đề sẽ khác hẳn. Việc không có được mẫu số chung về đức tin và luân lý, về nhân đức và tội lỗi, về các qui tắc của Giáo Hội sẽ làm cho các mối tương quan trở nên phức tạp vì sự khác biệt căn bản về Đạo, mà sự thua thiệt chắc chắn sẽ về phía anh em. Các bạn ấy chỉ biết yêu là cho và cho để chinh phục người mình yêu, dù có biết anh em đi tu thì cũng cố gắng đi tới, nhất là khi anh em cũng yêu họ: họ nhằm cho “có kết quả rồi” anh em có muốn lui cũng chẳng được nữa.

Đời có quá nhiều mánh lới và cạm bẩy mình không thể lường trước được, nhiều người đã “chết vì không biết đủ.” Dĩ nhiên đời cũng có rất nhiều người tốt, nhưng cũng có những cái tốt tự nhiên tự nó lại không phù hợp cho người sống đời thánh hiến, mà còn trở nên xấu và tác hại đời tu, chỉ vì cách nhìn, cách hiểu, cách suy nghĩ không chung hướng đạo đức.

Hy vọng nói ít mà anh em sẽ hiểu được nhiều. Và nếu được phép khuyên thì xin khuyên rằng ai chưa có những liên hệ như thế đừng nên thiết lập, và ai đã có thì cố gắng cởi bỏ dần dần đi, nhớ câu thơ của Xuân Diệu: “Đường êm quá ta đi mà quên ngó, đến khi hay thì gai nhọn đã vào thấu xương!”

Mong anh em sẽ biết ứng xử thích đáng, sống và giữ đúng cương vị ứng sinh linh mục của mình, đừng làm cho họ hiểu sai và đánh giá sai về đời tu và linh mục Công giáo. Đó là một gương đại xấu gây cản trở lớn lao cho chứng tá Tin Mừng và truyền giáo của Giáo Hội. Thiệt hại lớn lao đó đòi hỏi đương sự phải cất đi cho Giáo Hội bằng cách tự ý rút lui và người có trách nhiệm cũng cần cương quyết trong việc này: Vâng lời Chúa hơn là vị nể con người. Chúng ta phải nhớ đến sứ mệnh và nỗ lực truyền giáo, làm cho Chúa Kitô được nhận biết và yêu mến, mà vẫn không quên ‘nỗi lo sợ bị hư mất’ của thánh Phaolô.

Anh em cũng phải cẩn trọng với các bà goá, một đàng với các góa phụ trưởng thành giàu có sẵn lòng giúp đỡ nơi ăn chốn ở, tiền bạc xe cộ, máy móc… Nhớ cuộc điều tra về “sinh viên tầm gửi” của những chàng trai có sự “hấp dẫn tính dục” mà ngày trước tôi không thể hiểu được “đĩ đực” là gì vì chỉ nghe “con đĩ”; và đàng khác những góa phụ trẻ đẹp “mẹ dại con thơ” gặp khó khăn cần giúp đỡ, lòng trắc ẩn của anh em và lòng biết ân nghĩa của họ sẽ là bẫy ngầm không ngờ đó! Một số phụ nữ dù đã có gia đình cũng không thể cưỡng lại những người đàn ông có sức hấp dẫn tính dục, và họ không loại trừ đàn ông đi tu!

D.II.4 NHỮNG CON ĐƯỜNG TƯƠNG QUAN TỐT

D.II.4a Tương quan với Mẹ và Chị Em của mình

Mối quan hệ đầu tiên và cơ bản nhất của linh mục với các phụ nữ phải kể cụ thể là mối quan hệ với chính mẹ và chị em của mình. Mẹ linh mục là người phụ nữ mà ngài đã nhận được sự sống, và nhờ mẹ mà ngài có được ơn kêu gọi. Sự dịu dàng và chăm sóc yêu thương của tình mẹ nâng đỡ và bảo vệ ngài, giúp ngài lớn lên trong đời sống nhân bản cũng như đời sống thiêng liêng. Mẹ và chị em luôn tiếp tục đồng hành với ngài, với tình yêu thương, cầu nguyện, với chăm sóc canh phòng nhưng đầy an toàn và kính trọng. Một linh mục tốt luôn giữ mối liên hệ mật thiết với mẹ và các chị em mình, đặc biệt trong thời gian gặp thử thách, thất bại, bị hiểu lầm, đau ốm bệnh hoạn, buồn phiền chán nản, lại bị dao động tình cảm và bị cám dỗ.

D.II.4b Đối xử với các Cụ Bà như là mẹ, và với các thiếu nữ như chị em với tấm lòng trong sạch” (1 Tm 5,2):

Để sống hồng ân quí giá là đời sống độc thân linh mục vì Nước Trời trong con đường trưởng thành và trong sáng, điều xem ra đặc biệt quan trọng là linh mục phải phát triển cách sâu xa trong chính mình, hình ảnh của các phụ nữ như mẹ và chị em mình, với cùng một lòng yêu thương và kính trọng như đối với mẹ và chị em mình, mà thánh Phaolô đã khuyên nhủ Timôtê.

Trong thời đại hôm nay, linh mục phải biết “khám phá ra phẩm giá và ơn gọi của phụ nữ trong Giáo Hội và trong thế giới.” Hơn bao giờ cả, ngày nay người ta nói nhiều đến giải phóng, bảo vệ và thăng tiến phụ nữ, và xem ra ngoài xã hội nhiều hơn trong Giáo Hội.

Thật ra không phải thế, vì ngay từ thời của Ngài, Chúa Giêsu đã ân cần đón nhận sự cộng tác của nhiều phụ nữ theo giúp Ngài và cho họ một vị trí đặc biệt quan trọng, nhất là vai trò của Mẹ Maria và Maria Madalêna dưới chân thập giá, trong biến cố Phục sinh và thời kỳ đầu của Giáo Hội sơ khai, bắt đầu với Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống đầu tiên.

Sự thăng tiến này làm cho người nam và người nữ cảm thấy bình đẳng và biết tôn trọng nhau trong mọi khía cạnh. Một biến cố thời sự chứng minh điều vừa nói là Vatican loan báo rằng ngày 21/1/2010 vừa qua, ĐTC Biển Đức 16 đã bổ nhiệm Cô Flaminia Giovanelli là người phụ nữ đầu tiên nắm giữ vị trí Phó Thư Ký của Hội Đồng Giáo Hoàng Công Lý và Hòa Bình.

Ngược lại, Đức Phaolô VI cũng nhắc Dân Chúa trách nhiệm của họ là cầu nguyện và chân thành trợ giúp các linh mục vượt qua mọi nỗi khó khăn, tận tình yêu thương các ngài với tình con thảo và sẵn sàng cộng tác với các ngài, với kính trọng và tế nhị dè giữ, khích lệ và an ủi, vì các ngài là những người hoàn toàn tận hiến cho Chúa Kitô và Giáo Hội.

D.II.4c. Nhìn Cách Ứng Xử và Mối Tương Quan Hài Hoà của Chúa Giêsu đối với Phụ Nữ

Phúc Âm cho chúng ta biết rằng thái độ ứng xử của Chúa Giêsu mang lại tự do và hòa điệu giữa Ngài và các phụ nữ. Linh mục cần học từ Chúa Giêsu, là Thầy và Chủ của mình, cách thức quan hệ và ứng xử thế nào cho đúng mực với các phụ nữ. Chúng ta hãy xem vài khuôn mặt chính:

· Mẹ Maria, người mà Ngài đã tỏ lòng yêu thương của một người con và hết lòng kính trọng vâng phục; và Mẹ đã trở nên bản đối chiếu mật thiết của Ngài trong việc lắng nghe và thực thi ý Chúa;

· Mattha và Maria ở Bêtania, nơi mà Chúa thường ghé qua trong cuộc hành trình truyền giáo; và Ngài đã trở nên rất gần gũi với họ;

· Người phụ nữ xứ Samaria, được hoán cải và đổi mới, đã giới thiệu Chúa Giêsu cho dân chúng vốn không biết đến căn tính đích thực của Ngài;

· Maria Madalêna, người được cứu sống và hoàn toàn biến đổi nhờ Chúa Giêsu; cô đã thấy Chúa Phục Sinh và nhận lãnh trực tiếp từ Ngài sứ vụ loan báo sự sống lại;

· Người phụ nữ vô danh mà Chúa đã dạy cho biết hạnh phúc lớn lao là lắng nghe và thực hành lời Chúa;

· Các con gái thành Giêrusalem đã theo Chúa trên con đường thánh giá.

Tóm lại, trong các mối tương quan của tình bạn khác phái, dù với người tu hay ở giữa thế gian, linh mục phải luôn qui hướng về Chúa Kitô, khiêm tốn nhìn nhận những điều kiện con người yếu đuối của mình, lắng nghe sự khôn ngoan và kinh nghiệm của kẻ khác, đừng bao giờ dám tự phụ cho mình là mạnh, trái lại nhớ luôn rằng “con chim nhát là con chim sống” hay “tam thập lục kế, vi tẩu thượng sách.” Phải khiêm tốn và bền bỉ cầu xin ơn trung thành: những cây đại thụ trong Giáo Hội còn ngã (có vị TGM bị ĐGH bãi luôn cả tình trạng giáo sĩ) huống gì nhỏ bé dòn mỏng như chúng ta!

Ngoài ra, phải phát huy tình huynh đệ bí tích linh mục. Khi mà linh mục thực sự yêu thương nhau, ai cũng thỏa mãn được nhu cầu tâm lý căn bản yêu và được yêu của con người, thì chẳng ai thèm đi tìm bù trừ hay đón nhận một tình cảm nào khác. Thế nhưng trong bất cứ cuộc chiến đấu nào cũng có chiến thắng và chiến bại. Nếu gặp phải trường hợp chiến bại, hãy cư xử theo lòng nhân hậu của Chúa Kitô, giúp nhau chuyển bại thành thắng, chỗi dậy đứng lên tiếp tục hành trình với bài học kinh nghiệm và tâm hồn đổi mới. Hãy coi lầm lỗi như một lúc con tàu bị trật bánh ra khỏi đường ray. Nếu khéo léo điều chỉnh, bánh xe sẽ lại trở về đúng vị trí để con tàu tiếp tục vận hành.

Người lầm lỗi được chân thành thương yêu, quảng đại tha thứ và nhân từ nâng đỡ sẽ đủ nghị lực kiên trì biến đổi nên tốt, với sự trợ giúp của ơn thánh Chúa: Mỗi vị thánh đều có một quá khứ và mỗi tội nhân đều có một tương lai.

Tâm lý chung của những người cầu toàn khi phát hiện một lầm lỗi là muốn làm om sòm lên. Nhưng liệu sự om sòm ấy có làm thay đổi được tình hình, hay nó lại càng “vạch áo cho người xem lưng” về tình trạng thiếu yêu thương của mình. Trước hết nên bình tĩnh, nhìn lại chính mình. Ai cũng có thể bị “vi-rút” tình cảm và tình dục tấn công. Vấn đề là cần có sức đề kháng tốt để tránh được bệnh. Sức đề kháng đó nằm ở chính sự kết hiệp mật thiết với Chúa Giêsu và tình huynh đệ bí tích của linh mục với nhau, là nhân tố làm thỏa mãn nhu cầu yêu và được yêu trong bối cảnh của đời sống ơn gọi, được đặt trọng tâm nơi Chúa Giêsu, và kiên trì chu toàn bổn phận theo đấng bậc của mình.


Muc Lục

E. KHÍA CẠNH TÂM LÝ VÀ TÍNH DỤC TRONG ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI

E.I. NHẬN ĐỊNH TỔNG QUÁT

Tự nhiên, chúng ta được tự do một phần trong sự chọn lựa sử dụng ý muốn, lý trí hầu có thể làm chủ bản thân, điều khiển chính mình đến một đối tượng khao khát nhằm mục đích tối hậu là được biến đổi trong Chúa Kitô thành một lời đáp trả trọn vẹn với ân sủng và hội nhập vào chính cuộc sống mình.

Bản thân (Cái Tôi) mỗi người là điểm gặp gỡ của Tâm lý học và Thần học: Như những con người, chúng ta đáp lại Thiên Chúa qua các định luật tâm lý mà Ngài đã ghi khắc trong chúng ta. Trong tiến trình đáp trả đó, chúng ta bị thách đố đặt trật tự vào cuộc đời chúng ta như thánh Augustinô nói: “Nhân đức là tình yêu có trật tự”. Nhưng khi tình yêu bị rối loạn (mất trật tự), chúng ta nhận ra qua các dấu hiệu này: sự đi trệch định hướng cuộc đời và tìm tự tôn vinh mình.

Các cấp độ của Cái Tôi được mô tả qua bốn vòng tròn đồng tâm :

– Vòng ngoài cùng: Thế giới, các thực tại bên ngoài (tha nhân, xã hội, tạo thành, các biến cố …);

– Vòng kế tiếp: Thân xác – tâm sinh lý;

– Vòng tiếp theo: Tâm thể – tâm lý xã hội;

– Vòng tâm: Tinh thần con người – tâm lý tinh thần hay tinh thần hữu lý, gồm có:

· khả năng hiểu biết – cảm nhận – trực giác – tưởng tượng – ký ức – ý muốn;

· Khả năng cho các nhân đức như tình yêu – tha thứ – niềm vui – nhẫn nại …

“Chỉ có người có khả năng làm chủ mình có thể trở thành một quà tặng cho kẻ khác, một quà tặng cho Chúa trọn vẹn đến đỗi người ấy thành chiếc bình trong suốt cho ánh sáng của Chúa chiếu qua” (J. Riddick)

Cái Tôi có hai định hướng:

Định hướng sai lầm: Tình yêu cho thế gian… một đời sống trống rỗng “Anh em đừng yêu thế gian và những gì ở trong thế gian. Kẻ nào yêu thế gian thì nơi kẻ ấy không có lòng mến Chúa Cha, vì mọi sự trong thế gian như dục vọng của tính xác thịt, dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của, tất cả những cái đó không phát xuất từ Chúa Cha, nhưng phát xuất từ thế gian; mà thế gian đang qua đi, cùng với dục vọng của nó. Còn ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa thì tồn tại mãi mãi” (1 Ga 2, 15-17). Cái nổi bật trong định hướng sai lầm này là tính chất trần tục: khoái lạc, của cải, địa vị / quyền lực.

Định hướng đích thực: Sự sống dồi dào “Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá hủy. Phần tôi, tôi đến để chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Cái nổi bật trong định hướng đích thực này là sự sống trở nên giống Chúa Kitô trong các thiên hướng, thái độ, nhân đức dẫn tới lời mời gọi của mọi tín hữu.

Cuộc chiến đấu: Chúng ta trải nghiệm những sức lôi cuốn và thúc đẩy đến từ hai hướng đối nghịch nhau: cái tôi bị thống trị bởi các nhu cầu và cái tôi bị thống trị bởi các giá trị. Ơn gọi vào đời sống thánh hiến là triệt để đi theo Chúa Giêsu. Đó là lời kêu gọi tới một sự biến đổi con tim nhân loại qua các Lời Khuyên Phúc Âm.

Mỗi người sống kinh nghiệm ơn gọi đều trải qua kinh nghiệm sống cái tôi của mình, hoặc đặt trọng tâm nơi mình hoặc đặt trọng tâm nơi Chúa, mà có định hướng đúng hay định hướng sai lầm:

· Định hướng sai lầm đi theo hình ảnh cái Tôi: khoái lạc, sở hữu của cải, địa vị/quyền lực.

· Định hướng đích thực họa theo hình ảnh Thiên Chúa: Thanh Khiết, Khó Nghèo, Vâng Lời.

· Chiến đấu: Trong cả hai định hướng này, chúng ta kinh nghiệm sự có mặt của những thúc đẩy của con người tự nhiên: vui thích, tăng trưởng, cho đi và lãnh nhận.

E.II. NĂM ĐỊNH LUẬT TÂM SINH LÝ NAM NỮ

E.II.1 Luật Ưu Tiên

Nơi người nữ: trái tim ưu tiên. Điều ưu tiên là một quả tim, một tình cảm. Một tráii tim muốn được hòa nhịp với trái tim khác, một tình cảm tha thiết muốn hiến trọn cho người mình yêu. Nó ẩn chứa một cái gì thanh nhã trong đó: Người nữ muốn mang đến cho người mình yêu một trái tim muốn yêu và muốn được yêu đến cực độ.

Nơi người nam, thể xác ưu tiên. Khi người nam nghĩ đến người nữ thường hình dung tới thân hình, đường nét, sắc diện thể chất… Do đó, đứng trước một thiếu nữ đẹp, người thanh niên sẽ thấy thể xác xúc động trước, rồi sau đó tình cảm và trái tim mới hoà nhịp theo. Người nam dễ bị lôi cuốn bởi thể xác người nữ, và thường mau chóng hướng tới việc kết hợp thể xác.

Sự sai biệt này có thể gây nên những khó khăn, những nguy hiểm…

Người nữ dễ dàng bị chinh phục bằng tình cảm: nể nang, tội nghiệp, thương hại…, để rồi dễ dàng mất tự chủ trước tiếng gọi của con tim, đưa đến nguy cơ nhượng bộ đòi hỏi thể xác của phái nam. Trái lại, người nam dễ bị chinh phục bởi những đường nét duyên dáng nơi thân xác người nữ, khó lòng tự kiềm chế và thường đòi hỏi mau chóng kết hợp thể xác, coi đó như một bằng chứng tình yêu.

Người nữ nên để ý điểm này để tránh những nhượng bộ gây lỡ làng, với hậu quả đáng tiếc khiến phải ân hận suốt đời. Còn người nam nên để ý điểm yếu của mình để làm chủ bản thân, kính trọng người nữ, hiểu rằng người nữ nặng về tình cảm, sự săn sóc ân cần tế nhị, lời âu yếm, cử chỉ thân mật, dịu dàng, kính trọng. Do đó, người nam đừng quá chú ý tới thể xác hoặc vội vàng đốt giai đoạn trong khi gần gũi với…

Người nữ dễ bị chi phối bởi tình cảm, tính nhẹ dạ hay thay đổi, ít óc lý luận và thường hướng về hành động mau chóng của trực giác… Người nữ hãy thận trọng trước những xúc cảm đầu tiên hay trước hành động của mình, đừng nghe lời dỗ ngọt của người nam mà dễ dàng nhượng bộ: “Chuông già đồng điếu chuông kiêu, anh già lời nói em xiêu tấm lòng”

Người nữ hãy lưu ý tới óc lý luận của người nam, có khi rất ngụy biện để đạt mục đích (vd yêu cho tới bến để có kinh nghiệm mà tu cho chắc!), và cũng đừng theo tình cảm nhiều khi rất mâu thuẫn của mình (có mà nói không hay ngược lại). Người nam không cãi lý với phụ nữ, nhưng tìm cách khơi dậy tình cảm, lòng trắc ẩn của người nữ để thành công. Người nữ biết tâm lý đàn ông như vậy thì nên thực tế, đừng quá lý tưởng hay dại dột.

E.II.2 Luật Phân Cách

Trái tim người nữ chỉ có một ngăn và dành hết cho tình yêu. Trái tim người phụ nữ có thể nói là một toàn thể dành hết cho người mình yêu, không có phân cách. Mối tình dành cho người yêu chiếm hết trái tim chị. Chị chỉ nghĩ đến anh, sống chỉ vì anh, sống để yêu và được yêu. Vì thế khi không yêu nữa thì lập tức anh bị tống khứ hoàn toàn ra khỏi trái tim chị, và đứa con hoặc nhân tình sẽ thay thế. Hai mối tình không thể chung sống hòa bình (đánh ghen, và có khi đánh ghen rất dại và ngông cuồng, đến tàn bạo bất nhân). Tình yêu chi phối mọi hoạt động. Đó là đặc điểm trái tim phụ nữ.

Trái lại, các chuyên gia tâm lý nói trái tim người nam thì lại khác: rắc rối, nhiều chuyện, có tới 4 ngăn và các ngăn ấy hoàn toàn biệt lập nhau, khiến cho người nữ không hiểu nổi:

· Ngăn thứ nhất: dành cho vợ. Anh yêu vợ và khi ở với vợ là không nghĩ tới gì khác.

· Ngăn thứ hai: dành chỗ quan trọng cho sự nghiệp, địa vị. Có nhiều người vì sự nghiệp mà quên cả vợ con, gia đình.

· Ngăn thứ ba: dành cho những việc anh làm vì sở thích, vì lý tưởng, chính trị, xã hội, giáo dục…

· Ngăn thứ tư: dành cho giải trí, nghỉ ngơi.

Người nữ hãy an tâm tin rằng anh yêu chị, thương gia đình. Đừng thấy anh say mê những công việc khác mà nghĩ rằng anh thờ ơ với gia đình, rồi đâm ra nghi ngờ, khó chịu. Trái lại, hãy tập cảm thông với anh, chia sẻ với anh và trong mọi lúc hãy tươi cười đón anh, lo âu với anh, an ủi anh và khuyến khích anh. Đừng ngăn cấm hoặc cản trở công việc của anh.

Anh không nên bắt chị phải theo những hoạt động anh thích, và phải chừng mực trong công việc. Nếu được, nên để chị tham gia công việc với mình. Biết đền bù bằng lời nói, thái độ, cử chỉ yêu thương, hành vi phụ giúp công việc của chị. Nhớ rằng chị coi trọng gia đình hơn nghề nghiệp, quan tâm đến con người hơn công việc.

E.II.3 Luật Thính Giác

Người nữ có lỗ tai to. Chị không chỉ là một trái tim mà còn là một lỗ tai to, một lỗ tai to gắn liền với trái tim. Những gì vào lỗ tai rơi thẳng ngay vào tim. Do đó chị có nhược điểm này: thích nghe và dễ tin những điều người ta nói. Chị dễ tin những lời tán tỉnh, dịu ngọt; dễ chú ý đến điều người ta nói hơn là việc người ta làm: “Chuông già đồng điếu chuống kiêu, anh già lời nói em xiêu tấm lòng!” Chị muốn được yêu bằng những lời âu yếm dịu dàng tâm sự. Chị thích NGHE. Anh làm những công này việc nọ giúp chị mà không nói gì, chị vẫn cho là anh không thương chị hoặc chưa thương trọn vẹn.

Trái lại, người nam lại ngắn hay thiếu cái lưỡi. Ở quán xá hoặc ở những nơi khác anh nói thao thao bất tuyệt về những chuyện chính trị, xã hội, nghề nghiệp… vì những chuyện đó có tính cách chung chung, vô thưởng vô phạt. Còn ở nhà thì ngược lại: anh câm như hến, ít nói, trầm ngâm, vì anh không thích những chuyện vụn vặt, chi tiết. Anh ngại tâm sự, bộc lộ có đụng chạm tới bản thân mình.

Nhưng sự im lặng thường tạo nên bầu không khí nặng nề cho cả hai. Vì thế, anh thích ra quán cà phê hay đến một nơi vui nhộn; còn chị thích la cà bên nhà hàng xóm để chuyện trò “ngồi lê đôi mách”, “vuốt râu ông nọ đặt cằm bà kia”… Do đó phải có đối thoại, trao đổi, sẽ tránh được những nghi ngờ, hiểu lầm, xích mích. Yêu là nói và nghe. Anh nghe chị tâm sự, nói chuyện nhà cửa, gạo cơm, con cái, bạn bè… Chị nghe anh nói chuyện về chính trị, xã hội, thể thao…

Yêu là đối thoại, là mở tâm hồn và lý trí để cùng đón nhận, tham dự, chia sẻ tâm tình của nhau. Anh phải tập nói, phải phá tan bầu không khí nặng nề trong gia đình. Anh phải nói những lời yêu thương,… Nhắc lại những kỷ niệm đẹp, êm đềm ngày trước, vì chị thích sống lại những quá khứ đẹp.

Anh phải nói với cung điệu nhẹ nhàng ôn tồn. Những gì anh nói với giọng dịu dàng, âu yếm, kính trọng, chị sẽ cho là đúng, chị sẽ chấp nhận. Những gì anh nói với giọng gắt gỏng, khó chịu hoặc khinh khỉnh, chị sẽ cho là sai, khó chấp nhận mặc dầu đó là những điều đúng. Vậy khi phải chỉ trích, xây dựng những khuyết điểm của chị, anh phải áp dụng như thế; đừng bao giờ chê trách hoặc chế diễu chị, nhất là trước mặt người khác.

E.II.4 Luật Chi Tiết

Người nữ để ý đến các chi tiết, hay chú ý đến những cái cỏn con của sự việc, thích những mẫu tin vụn vặt. Người nam quan tâm đến điều cốt yếu, chỉ nhớ đến những nét đại cương, những chuyện đáng để ý, lại thích những tin chính trị, xã hội, quốc sự…

Sự sai biệt tâm lý này là nguyên do nhiều vui buồn, đau khổ :

Chị chú ý, quan sát và nhớ kỹ những chi tiết trong đời sống của anh, của gia đình trong khi anh ít để ý và hay quên. Chúa sinh ra chị có giác quan nhạy cảm về chi tiết để chị có khả năng chu toàn sứ mạng làm vợ, làm mẹ, săn sóc gia đình, nuôi con… đòi hỏi phải làm bao nhiêu việc nhỏ, bao nhiêu chi tiết. Một việc nhỏ cũng làm chị bực mình, đau khổ. Một quên sót của anh đối với chị làm chị buồn tủi, giận dữ, nghi ngờ.

Anh thường dễ bực bội, cáu kỉnh khi chị hay than phiền về những chuyện nhỏ nhặt, hoặc khó chịu khi thấy chị hay dò xét… Hiểu như vậy, chị hãy rộng lượng với anh, thông cảm với những dự tính công việc, những sinh hoạt hoặc giao tế của anh. Vì thế anh hãy chịu khó để ý đến chị, nhẫn nại nghe chị nói, dầu là những chuyện nhỏ mọn. Hãy lợi dụng những cơ hội, những chi tiết làm chị vui: quà tặng ngày sinh nhật, những ngày vui buồn của chị, một lời khen, một quan tâm, một giúp đỡ… Cả hai phải biết rằng Yêu là nghĩ đến người yêu và tìm hạnh phúc cho người yêu.

E.II.5 Luật Bất Đồng Cảm

Người nữ phản ứng chậm, nhưng kéo dài. Trong phạm vi tình cảm, người nữ như một trái bom nổ chậm. Chị không phản ứng cùng lúc, nhưng sau anh. Tuy nhiên khi đã xúc cảm thì nỗi cảm xúc ấy kéo dài hơn anh. Người nữ như một đầu máy xe lửa: chuyển bánh chậm, khi có đà đi rất nhanh, nhưng ngưng lại chậm.

Người nam phản ứng nhanh, nhưng cũng mau dứt. Nơi người nam, tình cảm chóng bộc phát mà cũng chóng nguội tàn. Vì vậy mà “cú sét ái tình” thường xảy ra nơi thanh niên hơn nơi thiếu nữ. Trong mọi việc, anh hãy kiên nhẫn, chờ đợi, chuẩn bị… Trong tình yêu thân mật cũng vậy: tránh những cử chỉ vội vàng, hấp tấp, mà nên dịu dàng, tế nhị. Hiểu biết định luật tâm lý này để biết tha thứ cho nhau, tránh những xích mích nghi kỵ.

Tóm lại, những định luật vừa nói trên không áp dụng riêng rẽ nhưng bổ túc, liên hệ với nhau và là những định luật rất quan trọng chi phối đời sống nam nữ. Nhưng đó không phải là tất cả những sự khác biệt, bởi mỗi cá nhân là một “huyền nhiệm” không dò thấu. Những định luật này rất hữu ích để giúp bạn hiểu được người kia và khi nắm vững được những khác biệt tâm sinh lý này, bạn sẽ tránh được những phán đoán, những thái độ chủ quan thường đưa đến bất hòa, đổ vỡ, thua thiệt. (Slideshow Truyền thuyết tạo dựng người nữ)

E.III. VẤN ĐỀ THỦ DÂM

E.III.1 Định nghĩa và thực trạng

MASTURBATION: Manus (tay) – Turbatio (kích thích). Thủ dâm là dùng tay kích thích bộ phận sinh dục để tìm đạt được khoái cảm sinh dục. Sau hành động thủ dâm, phần đông cảm thấy ngượng ngập, mặc cảm tội lỗi, lo lắng, chán nản, hận mình.

Thủ dâm được thực hành khá phổ biến, cả nơi những người có gia đình, nhất là nơi người độc thân trẻ, có người coi như không có gì sau hành động ấy, còn người khác lại bị lương tâm ray rứt vì hành động tính dục đơn độc riêng tư và do căng thẳng trầm trọng này (x. Giải mã giấc mơ tình dục).

Thủ dâm có thể xảy ra cùng với những liên hệ khác tính luyến ái (KTLA) hay đồng tính luyến ái (ĐTLA): làm cho mình, làm cho người khác và để người khác làm cho mình. Có người coi thủ dâm là sự dữ nhỏ hơn trong hai sự dữ (minus malum): cái thay thế cho hoạt động ĐTLA hay KTLA; hoặc để điều hướng cái tôi của mình hơn là dính líu với trẻ em hay một người nào đó.

Thủ dâm không kéo dài suốt đời người độc thân, cũng như giao hợp không kéo dài suốt đời người có gia đình (x. St 18,12: Sara cười thầm tự bảo ‘Mình đã cằn cỗi rồi còn tìm lạc thú nữa sao? Ông nhà mình lại là một ông lão!). Đó là một cuộc chiến đấu và phải đi vào cuộc chiến đấu ấy: Bỏ được là lý tưởng, để việc tận hiến cho Chúa được chu toàn và hoàn toàn trao hiến cho Chúa.

Cầu nguyện cho bỏ được thủ dâm như một phần cần thiết cho tăng trưởng và phát triển con người, cũng như trong cuộc sống và sứ vụ ơn gọi. Quả thế, nếu một mình mà không làm chủ và thắng vượt được chính mình, thì làm sao có thể làm chủ và thắng vượt được khi gặp phải hoàn cảnh éo le hai người khác phái cùng tác động lên nhau!

Ngày sáu khắc êm trôi lặng lẻ, Chúa ngăn ngừa chẳng để phút giây, Tay chân miệng lưỡi hình hài, Buông theo tội lỗi mà đầy bợn nhơ.

Thánh Thi Kinh Sáng Thứ Năm Tuần I TN

E.III.2 Các loại thủ dâm

· Thủ dâm trẻ nít: Trẻ, trước tuổi dậy thì, tìm khám phá cơ thể, trong đó có vùng sinh dục của mình, như một phần tăng trưởng bình thường.[16]

· Thủ dâm thiếu niên: Xảy ra trong tuổi dậy thì và đa số trường hợp thủ dâm thuộc thời kỳ này.

· Thủ dâm trưởng thành: Loại thủ dâm này phổ thông với người trưởng thành (người độc thân, người chưa kết hôn tránh giao hợp trước hôn nhân) và như một lối thoát căng thẳng.

· Thủ dâm xúc phạm: Chọn bộ phận sinh dục để giao hợp “một mình.” Có tính cách tác hại vì phân rã hơn là hiệp nhất nhân vị.

E.III.3 Nguyên do và mục tiêu

· Do ngứa ngáy (phimosis – chít hẹp bao da quy đầu gây viêm nhiễm ngứa ngáy phải gãi liên tục); buồn chán, lo lắng, tâm trạng vở mộng, cô đơn.

· Lối thoát dễ dàng để xả căng thẳng.

· Thay thế cho quan hệ tình dục.

· Đối phó và trốn thoát sự thân mật tính dục liên nhân vị.

· Bắt im lặng lời mời gọi vào tình dục yêu đương liên nhân vị.

E.III.4 Những thỏa hiệp

· Sợ đàn bà: Không muốn bị liên lụy tình dục hay tình cảm với đàn bà (sợ hậu quả), hay vì không được liên hệ với đàn bà, nên tìm thỏa hiệp với những hình thức tính dục khác (đồng tính ái), gây nên một tâm lý tính dục thiếu trưởng thành.

· Sách báo, phim ảnh khiêu dâm nhằm kích thích tính dục do:

– miêu tả các đối tượng và những tình cảnh gợi tình (tác phẩm, hình vẽ, điêu khắc, trình diễn…)

– mô tả sự lạm dụng phụ nữ (nếu không tàn bạo thì cũng xuống cấp) và vì vị nễ mà chìu, rồi sau đó cứ bị ám ảnh.

– đồi trụy: phá hoại phẩm tính tương quan tính dục, đưa tới khai thác và kinh doanh tính dục, lạm dụng tình dục trẻ em.

– Bù trừ: nhòm lỗ khóa/nhìn chỗ kín/thích xem phim khiêu dâm, nhất là giới nam (mở đầu/tăng cường hoạt động tính dục, thủ dâm, lạm dụng trẻ em).

· Phô bày bộ phận sinh dục của mình (cho người khác phái) để được khoái lạc tính dục bởi sự nhìn xem phản ứng của người kia.

· Mặc y phục của người khác phái, thay thế vai kề vai với người khác phái mong ước, rồi thủ dâm để xả căng thẳng.

· Hành động thú tính: ham muốn và thực hiện tính dục với súc vật.

· Bạo động với chính mình (thường là phái nam) để bảo vệ độc thân: Origène; nhiều vị tử đạo sẵn lòng chịu chết để bảo vệ trinh tiết/đức tin: hai cha truyền giáo ở Lào.

E.III.5 Một số quan điểm

· Freud và William Fleiss: Thủ dâm là biểu hiệu bệnh thần kinh phổ quát, có thể có hậu quả đáng tiếc.

· Fenichel: Thủ dâm là triệu chứng bệnh hoạn, là khả năng làm thỏa mãn bị xáo trộn.

· Những biện pháp vô nhân đạo: Mang giây lưng thanh khiết hành xác, thiến hoạn (nam) và cắt bỏ âm vật (nữ).

· Xã hội học và tâm lý học hiện đại: Thủ dâm là phát triển bình thường vào một thời kỳ nào đó trong đời người, dẫn tới sự chín mùi tâm lý tính dục lành mạnh; là tiền thân của ứng xử tính dục liên nhân vị.

· Quan điểm của Giáo Hội: Trước Vaticanô: thủ dâm là điều xấu trầm trọng và là trọng tội, vì vi phạm bản tính tự nhiên và ích kỷ. Huấn thị của Bộ Giáo lý Đức Tin, “Tuyên bố về một số vấn nạn liên quan đến đạo đức tính dục”: Thủ dâm là một hành vi bóp méo và trái ngược của khả năng tính dục, là sự thiếu trưởng thành, thiếu quân bình tâm lý, và do thói quen. Thủ dâm không luôn luôn là lỗi nặng, nhưng vẫn là nguồn mặc cảm tội lỗi và lo lắng.

E.III.6 Tiến trình phát triển lành mạnh

· Trẻ khám phá hết mọi chỗ trong cơ thể nó, trong đó có vùng bộ phận sinh dục: tiến trình tăng trưởng bình thường (x. Chuyện hai bà mẹ tắm cho con: “Con gái dở quá, có một cái mà cũng làm vỡ” – “Sao con không có một cái như thằng đó?”)

· Trò chơi sinh dục/Táy máy chân tay (do liên hệ khắng khít mẹ/con, cha/con) thiết lập ý thức về bản thân. Bé trai có ý thức nhạy bén về khả năng cương cứng đưa tới làm chủ bản thân, đụng chạm dương vật để tự trấn an.

· Chưa trưởng thành: Thủ dâm là một hoạt động tính dục thiếu trưởng thành, nhưng trẻ dùng thủ dâm để học điều khiển bản năng tính dục của nó (chơi đùa có tính chất thăng hoa mà thủ dâm không có: “thi xịt nước”).

· Can thiệp khôn khéo: Nếu bắt trẻ chận đứng thủ dâm cách không khôn khéo, nó sẽ có ý tưởng rằng tính dục là xấu xa và nguy hiểm, khiến trẻ có thể bị chứng loạn thần kinh chức năng và biến dạng nhân cách.

· Can thiệp thiếu thích hợp: Những cấm kỵ thủ dâm có thể đưa tới những hình thức bệnh hoạn. Nhưng nếu thủ dâm với lương tâm xấu và lo lắng cũng đưa tới hậu quả bệnh hoạn và tội lỗi.

E.III.7 Hướng dẫn hữu hiệu và chữa lành

· Quan tâm thích đáng: Phải khảo sát tỉ mỉ trong một khung cảnh rộng lớn hơn, (tiểu sử gia đình, cá nhân đương sự để tìm biết những động lực sâu hơn), chứ không phải chỉ là nhục dục (bệnh cơ quan sinh dục cần chữa trị bằng y khoa; chớ gì có nữ tu bác sĩ chuyên ngành phụ khoa cho các nữ tu)

· Lắng nghe để hiểu: Phải lắng nghe chăm chú và nhạy cảm đối với người có những hình ảnh tưởng tượng kèm theo thủ dâm (trước và sau)

· Nhìn lại để thương: Thủ dâm là cách thức dễ dàng để làm dịu sức ép và căng thẳng. Do đó phải khảo sát những nguồn sức ép và căng thẳng để tiêu diệt/giảm thiểu chúng: ăn một thực đơn cân bằng, nghỉ ngơi và giải trí thích hợp.

· Đừng vẽ đường cho hươu chạy: Những phơi bày thái quá trước những kích thích tính dục thường thúc đẩy thủ dâm. Do đó, tránh những kích thích đó sẽ giảm thiểu tính thường xuyên của thủ dâm.

· Tự chủ và liên đới: Tập tự chủ bản thân; mở rộng liên hệ với người khác (không chỉ qui về mình và yêu mình). Phải phát triển những tình bạn sâu xa với nhiều người nam lẫn nữ, đừng để bị sự cô lập xã hội và khó khăn trong các mối tương quan dồn ép.

· Tìm kiếm sự bình an: Không nên để bị tâm trạng lo lắng trầm trọng xâu xé, mà nên tìm chữa lành và bình an qua việc xưng tội.

· Nhìn vào lý tưởng: Từ bỏ gia đình vì Nước Trời là sự thăng hoa bản năng tính dục: hãy thành thật nhìn nhận thất bại: [Hai sức mạnh đối nghịch hằng giao chiến trong tôi khiến những điều tốt tôi muốn làm tôi lại không làm được và những điều xấu tôi không muốn làm thì tôi lại làm. Ai cứu tôi khỏi cái xác hay chết này? – Ơn Ta đủ cho con] (x. 2 Cr 12,7-9)

· Trợ lực cảm thông: Tình bạn chia sẻ đem lại khuây khỏa và nâng đỡ chống lại chiến đấu bên trong và áp lực bên ngoài. Đã có chiến đấu là có chiến thắng và chiến bại. Hãy lấy thất bại làm bài học chiến thắng: thua keo này bày keo khác! [“Ai từng chiến thắng mà không hề chiến bại? Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần? Nhưng đây chưa phải trận sau cùng chiến đấu!”]

· Chia sẻ chữa trị: Thái độ mới thích hợp của việc điều trị nhóm: Những tình bạn sâu sắc khiến người ta cởi mở chia sẻ những cuộc chiến đấu, công khai nhìn nhận mình thủ dâm, nhóm không bối rối hay bình luận tiêu cực gì, là một nâng đỡ rất lớn trong việc hội nhập tính dục với tu đức, thăng tiến đời sống thiêng liêng.

· Trợ giúp thiêng liêng: Tính dục là một chiều kích của đời sống con người ảnh hưởng đến cuộc hành trình thiêng liêng một cách sâu xa. Những can thiệp thiêng liêng cũng ảnh hưởng trên tính dục một cách sâu xa. Sự trợ giúp thiên liêng là một hợp lực, một khí cụ hùng mạnh trong việc biến đổi sự yếu hèn và chán nản của con người: “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện…”

Do đó, phải khuyến khích chạy đến với sức mạnh của cầu nguyện, của các bí tích, của khổ chế, của việc linh hướng thường xuyên.

Xin thương bảo vệ hương thanh khiết, Sợ lúc đêm về giữa cô đơn, Lợi dụng tối tăm thần quỷ quyệt, Phóng tên ác độc giết tâm hồn.

Che chở trí lòng luôn thoát khỏi, Dục tình cường bạo cứ đuổi theo, Và muôn cảm nghĩ đầy tội lỗi, Cho mảnh hồn thiêng mãi yêu kiều.

Thánh Thi Kinh Chiều Thứ Ba Tuần IV TN

· Ý thức cam kết ơn gọi: Chú tâm sống cam kết độc thân, rèn luyện tỉnh thức, điều độ.

· Sức mạnh của lời cầu nguyện: Dĩ nhiên phải luôn khiêm tốn cầu nguyện. Chúa Giêsu dạy: “Các con hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn để khỏi sa chước cám dỗ, tinh thần thì nhẹ nhàng chóng vánh, nhưng xác thịt lại nặng nề yếu đuối.” Thánh Phaolô chia sẻ: “Ai trong anh em yếu đuối mà tôi không cảm thấy yếu đuối, ai trong anh em sa ngã mà tôi không cảm thấy như thiêu như đốt” (2 Cr 11,29).

· Đồng hành tin cậy: Người trợ giúp phải tỏ ra đáng tin cậy, niềm nở đón tiếp vô điều kiện và sẵn sàng đồng hành với đương sự trong những chiến đấu của đương sự khiến đương sự cảm thấy thoải mái và tin tưởng. Có thế mới giúp hội nhập tính dục và ơn gọi độc thân.

(Slideshow Nở hoa cho cuộc đời)

Muc Lục

BÀI ĐỌC THÊM: THỦ DÂM TRẺ NÍT VÀ TUỔI DẬY THÌ

Hiện tượng bé trai 3, 4 tuổi sờ mó cơ quan sinh dục không phải là biểu hiện phát dục sớm. Sự trưởng thành tâm sinh lý của con người là một quá trình phát triển liên tục, nên một số vùng hưng phấn trên thân thể (bộ phận sinh dục) bị đánh thức trước tuổi dậy thì.

Trẻ mới sinh khi bú mẹ giống như quá trình hưng phấn tính dục của người lớn. Trẻ 7-8 tháng mân mê bộ phận sinh dục, làm một số động tác kẹp đùi,… Trẻ trai 3, 4 tuổi phát hiện cảm giác dễ chịu là lạ ở “chồi nụ” của mình qua một kinh nghiệm ngẫu nhiên: lúc mắc tiểu, được cha mẹ kỳ cọ làm vệ sinh khi tắm rửa, cọ xát vào quần khi đùa nghịch, đi lại,…hoặc cũng có thể do bệnh tật (phimosis – chít hẹp bao da quy đầu gây viêm nhiễm ngứa ngáy phải gãi liên tục) từ đó chợt phát hiện và khơi dậy tiềm năng hưng phấn tính dục, dẫn đến thích thú và đòi hỏi loại khoái cảm này.

Xét về bản chất, mục đích trò chơi tính dục của trẻ là phi tính dục, vui chơi và giao hữu nhưng trong chiều sâu nội tâm không lý giải và ý thức được điều đó. Đừng áp đặt “Tabu văn hoá” của mình lên trẻ, không la mắng trách phạt trẻ, mà nên làm phong phú sinh hoạt của trẻ một cách đa dạng, thú vị:

– hướng trẻ vào những trò chơi trí tuệ: vẽ, nặn, xếp giấy…

– hạn chế không để trẻ bị kích thích trong môi trường dẫn đến hoạt động tính dục (trèo cây, ôm gối, ngủ chung giường với cha mẹ, anh chị…).

– hướng dẫn một số thường thức về tính dục bình thường, dạy cách giữ vệ sinh, giúp trẻ hiểu về cơ quan sinh dục, cách tự bảo vệ mình tránh khỏi bệnh tật, những thói quen xấu, tránh bị xâm hại tình dục.

Để giải đáp mọi thắc mắc hóc búa của trẻ về tính dục:

– Nên có thái độ tự nhiên ôn hoà, thẳng thắn, không nói dối, không cần trả lời quá tỉ mỉ.

– Giải thích ngắn gọn về cơ quan sinh dục, khuyên trẻ tự bảo vệ mình như thế nào, không thể tự tiện đùa nghịch “cái ấy”.

– Trả lời kiên quyết, rõ ràng, không nên dài dòng, liên tưởng.

– Nên nói nhẹ nhàng, không nên mắc cỡ hoặc gây cảm giác sợ hãi hay thần bí.

`Ai cũng trải qua thời kỳ “khủng hoảng” của tuổi dậy thì, những thay đổi về tâm sinh lý gây cho ta tinh thần bất an và khơi gợi trí tò mò về những điều không biết trước được. So với thế hệ trước, lớp trẻ thời nay dậy thì sớm hơn, nghĩa là độ chín về mặt sinh học giới tính đến sớm hơn. Nhưng có một điều là sự chín chắn về mặt xã hội và tâm lý lại chậm hơn so với thế hệ trước. Tuổi trẻ hôm nay dường như nông nổi hơn, tự do hơn trong việc quyết định cuộc sống của mình.

Những nét đặc trưng tâm lý của tuổi hoa niên thì bao đời nay vẫn thế: Một số bạn gái xuất hiện kinh nguyệt từ 10-12 tuổi; một số bạn trai 12-14 tuổi đã có những giọt tinh trùng đầu tiên trong những giấc mơ (mộng tinh) hoặc do thủ dâm. Tâm trạng của người trong cuộc phụ thuộc vào hiểu biết của bản thân về hiện tượng này, nếu được đọc sách hoặc được cha mẹ thầy cô và người đi trước chỉ dẫn thì sẽ bớt lo âu, sợ hãi, chỉ còn lại sự hồi hộp.

Các em gái lúc này vóc dáng đã mềm mại uyển chuyển hơn, làn da mịn màng hơn, đã quan tâm đến bộ ngực của mình, e thẹn khi mặc thêm chiếc áo lá hoặc chiếc nịt ngực bên trong lần áo ngoài, hơi chùng người xuống hoặc ôm cặp phía trước để che đi phần nào độ lớn của chúng. Một số em khác lại ngượng ngùng, thậm chí cảm thấy bất hạnh, khi đến tuổi này mà ngực vẫn phẳng lì “trước sau như một.” Cả hai trường hợp đều bộc lộ sự thiếu tự tin.

Tình cảm lứa tuổi này rất dễ biến đổi, dễ xúc động và biểu hiện tính hai cực rõ rệt: các em thường tự khép kín thế giới nội tâm của mình đồng thời lại có cảm giác mình cô độc. Nếu không được giải toả tâm lý dễ dẫn đến trầm cảm. Ngoài ra xuất hiện những đặc điểm này: Tính đối kháng và tính phục tùng, tính độc lập và tính ỷ lại, tâm lý bất an, thích kết bạn, lòng tự trọng cao… Nhiều cô còn hay ghen tị với người khác hoặc mặc cảm tự ti về bản thân một cách thái quá…

Con trai khi bước vào tuổi dậy thì cũng có một số biến đổi về cơ thể và tâm lý để dần trở nên người đàn ông trưởng thành: lông tóc mọc rậm và mau dài hơn, mọc ria mép và râu (“nam tu nữ nhũ”), cục yết hầu nổi lên ở cổ, “vỡ giọng”, mọc mụn trứng cá ở trên mặt…, tăng chiều cao và bắp thịt tạo nên dáng vẻ riêng của phái mạnh. Các cậu bắt đầu quan tâm đến nửa kia của mình và luôn sẵn sàng ra tay giúp đỡ người khác, thể hiện chí khí nam nhi của mình. Tâm tính thay đổi thất thường: hay nổi nóng, lòng tự ái cao, hay chống đôi người cùng phái (cha, anh, thầy giáo…); có bạn hay chải chuốt, ăn diện gây sự chú ý cho mọi người, có bạn lại ăn mặc xuề xoà – “bụi bụi” đến mức… phủi ra bụi – vì cho rằng chỉ có phe tóc dài mới hay đi shopping và quan tâm đến vẻ bề ngoài. Vì tâm lý bốc đồng hay nổi máu anh hùng nên các cậu dễ bị sa đà hoặc bị kẻ xấu lôi kéo, lợi dụng. Cũng có những bạn gặp “trục trặc” trong tiến trình phát triển giới tính mà chúng ta quen gọi là những người thuộc “giới tính thứ ba” (á nam á nữ).

E.IV. VẤN ĐỀ ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI

(Slideshow Dẫu con là ai)

Nằm vắt tay lên trán ta nghĩ đến chuyện cuộc đời, ngồi bấm đốt ngón tay ta nghĩ đến chuyện ngày qua. Nằm vắt tay lên trán ta nghĩ đến chuyện bây giờ, ngồi bấm đốt ngón tay ta nghĩ đến chuyện ngày mai.

E.IV.1 Nhận định

Đồng tính luyến ái là một vấn đề ngày nay rất nhạy cảm và rất có nguy cơ xảy ra. Và do đó cũng rất có nguy cơ hiểu lầm và bị gán lầm “nhãn hiệu đồng tính luyến ái” cho những tình bạn và đôi bạn thân thiết tốt lành. Sự ngộ nhân này sẽ làm tổn hại bầu khí thanh bình, tin tưởng và an toàn của cộng đoàn giáo dục, và có thể đưa tới những hậu quả tiêu cực đáng ra không nên có. Vì thế, cả các nhà đào tạo lẫn các ứng sinh, cũng như các thành phần khác trong cộng đoàn, cần trực diện với nó và cẩn trọng xem xét thấu đáo mọi khía cạnh liên quan, ngõ hầu xây dựng và sống tốt mọi mối tương quan lành mạnh, trong bầu khí tin tưởng, an vui và hạnh phúc của các con cái Chúa.

Theo trình thuật sáng tạo loài người trong sách Sáng Thế (St 2,18-24) và theo quan niệm Âm-Dương Á đông, người nam và người nữ hấp dẫn nhau, cần nhau, gắn bó nhau và bổ túc cho nhau, tạo một thế quân bình tự nhiên, được biểu lộ đặc biệt trong đời sống hôn nhân.

Cuộc sống tu trì thiếu mất sự quân bình tự nhiên đó. Nếu không thiết lập được và sống trong một thế quân bình siêu nhiên trong các môi trường đồng giới nam và đồng giới nữ (bằng đời sống cầu nguyện, đời sống huynh đệ cộng đoàn, tận tụy với sứ vụ), thì sự cuốn hút đó có thể được bù trừ bởi một sự chuyển hóa tâm lý, vì trong mỗi con người đều có cả hai yếu tố nam và nữ; yếu tố này có thể trội hơn yếu tố kia tùy người. Sự chuyển hóa tâm lý này có thể đưa tới một mối tương quan thiếu quân bình hay lệch lạc trong ứng xử tình cảm và giới tính ở một số đôi bạn đồng giới, nhưng không hẳn đã là đồng tính luyến ái thực thụ, dù có thể đưa tới đồng tính luyến ái.

Ngày nay, nền văn minh tục hóa lấy cái tôi làm trọng tâm, tôn thờ vật chất, hưởng thụ khoái lạc nhục dục, suy thoái đạo đức làm nảy sinh và gia tăng tình trạng đồng tính luyến ái. Trong bối cảnh ấy, người ta nghi ngại và lo sợ đến đỗi nhầm lẫn với cả những tình bạn thân thiết tốt lành, vốn mang lại nhiều lợi ích lớn lao trong mọi lãnh vực cuộc sống, nhất là khi có được người bạn tri âm tri kỷ, có thể nói được với nhau bất cứ điều gì hầu giúp nhau sửa chữa nên tốt.

Tuy nhiên cũng có những tình bạn làm tha hóa cuộc đời con người. Vì thế mà có sự lo lắng trước những biểu hiện tình bạn thân thiết trong các môi trường đồng giới nam hay đồng giới nữ, khiến những người có trách nhiệm đào tạo, đánh giá và cất nhắc các ứng sinh thường lo lắng và đề phòng trước những biểu hiện tình cảm giới tính không phù hợp với đời sống linh mục và tu sĩ, đặc biệt vấn đề đồng tính luyến ái.

Nỗi lo của các ngài là chính đáng. Chúng ta kính trọng, cảm thông chia sẻ trách nhiệm của các ngài và nhận ra động lực yêu thương của các ngài. Nhưng cách hiểu và đánh giá chính xác bản chất đồng tính luyến ái là gì? thế nào? cũng như cách thức và mức độ của các biện pháp phòng ngừa và giải quyết thì cần được quan tâm làm sáng tỏ, đưa tới hiệu quả tích cực, trong đào tạo cũng như trong cuộc sống sứ vụ ra sao?

E.IV.2 ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI LÀ GÌ?

E.IV.2a. Hiện tượng đồng tính luyến ái trong Kinh Thánh

1) Kinh Thánh Cựu Ước.

Tính dục đồng giới hay đồng tính luyến ái không phải là điều mới lạ, nhưng đã có từ xưa vì bản tính tội lỗi của con người. Trong tiếng Anh có danh từ sodomy mô tả những hành động kết hợp tội lỗi giữa những người nam với nhau. Trong Kinh Thánh Cựu Ước, thuật ngữ này phát xuất từ tên thành phố Sôđôma là thành phố tội lỗi đã bị Chúa hủy diệt bằng lửa. Khi Chúa sai hai thiên thần đến giải cứu gia đình ông Lót, cháu ông Ábraham, cư ngụ tại Sôđôma thì dân thành Sôđôma đã đòi có những hành động tội lỗi với hai thiên sứ mà họ nghĩ là hai người đàn ông:

“Hai sứ thần đến thành Xơ-đôm vào buổi chiều; ông Lót lúc ấy đang ngồi ở cửa thành. Vừa thấy các ngài, ông Lót đứng lên ra đón các ngài và cúi sấp mặt xuống đất. Ông nói: Thưa các ngài, kính xin các ngài ghé lại nhà tôi tớ các ngài đây để nghỉ đêm và rửa chân, rồi sớm mai các ngài tiếp tục đi đường. Họ đáp: Không! Chúng tôi sẽ nghỉ đêm ngoài đường phố. Nhưng ông nài nỉ các ngài mãi nên các ngài ghé lại và vào nhà ông. Ông làm tiệc đãi các ngài, nướng bánh không men, và các ngài đã dùng bữa. Các ngài chưa đi nằm thì dân trong thành, tức là người Xơ-đôm, bao vây nhà, từ trẻ đến già, toàn dân không trừ ai. Chúng gọi ông Lót và bảo: Những người vào nhà ông đêm nay đâu rồi? Hãy đưa họ ra cho chúng tôi chơi.

Ông Lót ra trước cửa gặp chúng, đóng cửa lại sau lưng, rồi nói: Thưa anh em, tôi van anh em đừng làm bậy. Đây tôi có hai đứa con gái chưa ăn ở với đàn ông, tôi sẽ đưa chúng ra cho anh em; anh em muốn làm gì chúng thì làm, nhưng còn hai người này, xin anh em đừng làm gì họ, vì họ đã vào trọ dưới mái nhà tôi. Chúng đáp: Xê ra! Tên này là một ngoại kiều đến đây trú ngụ mà lại đòi xét xử à! Chúng tao sẽ làm dữ với mày hơn là với những tên kia! Họ xô mạnh ông Lót và xông vào để phá cửa. Nhưng hai người khách đưa tay kéo ông Lót vào nhà với mình, rồi đóng cửa lại. Còn những người đứng ngoài cửa, thì các ngài làm cho chúng ra mù, từ người nhỏ nhất đến người lớn nhất, khiến chúng không sao tìm ra cửa. Hai người khách nói với ông Lót: Ông còn ai ở đây nữa không? Con rể, con trai, con gái, và tất cả những gì ông có trong thành, hãy đưa ra khỏi nơi này. Chúng tôi sắp phá huỷ nơi này, vì tiếng kêu trách dân thành quá lớn trước nhan Đức Chúa, và Đức Chúa đã sai chúng tôi đến huỷ diệt chúng” (St 19,1-13).

Khi con dân Chúa đi qua sa mạc vào Đất Hứa, Chúa đã ban luật lệ cho họ và một trong những điều luật đó là: Chớ ăn nằm với người nam như người ta ăn nằm với người nữ; đó là một điều quái gở. Nếu một người nam ăn nằm với một người nam khác, hay một người nữ ăn nằm với một người nữ khác, thì hai người đó hẳn phải bị xử tử, vì họ đã làm một điều gớm ghiếc; máu họ sẽ đổ lại trên mình họ: “Ngươi không được nằm với đàn ông như nằm với đàn bà: đó là điều ghê tởm” (Lv 18,22); “Khi người đàn ông nào nằm với một người đàn ông như nằm với đàn bà, thì cả hai đã làm điều ghê tởm; chúng phải bị xử tử, máu chúng đổ xuống đầu chúng” (Lv 20,13).

2) Thánh Kinh Tân Ước,

Thánh Phaolô đã viết trong thư gửi các tín hữu tại Rôma, thủ đô đế quốc Lamã lúc bấy giờ, mô tả về tình trạng tội lỗi của con người: “Họ buông theo dục tình đồi bại. Đàn bà không quan hệ theo lẽ tự nhiên, mà lại làm điều trái tự nhiên. Đàn ông cũng vậy, không quan hệ với đàn bà theo lẽ tự nhiên, mà lại đem lòng thèm muốn lẫn nhau: đàn ông bậy bạ với đàn ông. Như vậy là chuốc vào thân hình phạt xứng với sự lầm lạc của mình” (Rm 1, 26-27). Và Ngài cũng viết trong thư gởi cho tín hữu tại Corinthô: “Những kẻ tà dâm, thờ thần tượng, ngoại tình, đồng tính luyến ái, trộm cắp, tham lam, say sưa, chưởi rủa, cướp giật sẽ không được thừa hưởng nước Chúa” (1 Cor 6,10).

E.IV.2b Nói rõ hơn về đồng tính luyến ái

Không nên vội vàng kết luận một người là đồng tính luyến ái, dù thấy có sự thúc đẩy và vài ứng xử có liên quan. Đồng tính luyến ái đích thực là khi hai người cùng phái có sự thu hút dai dẳng, có đáp ứng xúc cảm và ứng xử tính dục với nhau, nghĩa là người ước muốn nhục dục tìm cách thực hiện ước muốn đó bằng những hành động nhục dục với một người cùng phái.

Nguồn gốc đồng tính luyến ái là do di truyền hay do lượng hooc-môn dị thường. Phân tâm học cho là do những xáo trộn sâu xa trong tương quan cha-mẹ-con-cái, nhất là khi một người quá ràng buộc thân thiết có sức hấp dẫn cám dỗ. Những yếu tố hoàn cảnh, tâm lý, văn hóa, xã hội, sinh học làm hiện tượng đồng tính luyến ái trở nên phức tạp.

Người đồng tính luyến ái có sự khiêu dâm trổi vượt đối với người đồng phái khác. Nhưng người đó cũng phải đau khổ chịu đựng sự thiếu hụt trong nam tính hay nữ tính của mình. Nhưng thật đáng tiếc là đồng tính luyến ái được xã hội ngày nay chấp nhận nhiều hơn, thậm chí có một ít nước cho những đôi đồng tính luyến ái qui chế hôn nhân nữa! Dù vậy, đó vẫn là nguồn lo âu đối với nhiều người. Giáo Hội và những người có lương tri kịch liệt phản đối.

Một người khác tính luyến ái sẽ phải đau khổ khi có thể chạm trán với người đồng tính luyến ái, nghĩa là bị cưỡng bức, lạm dụng vì những lý do thực tiễn nào đó, dù không thường xuyên.

E.IV.2c. Thái độ đối xử tích cực

Người trợ giúp phải cẩn thận lắng nghe không kết án và đón nhận vô điều kiện, đồng thời giúp đương sự phân biệt có phải là đồng tính luyến ái đích thực hay ứng xử ấy chỉ do hoàn cảnh ép buộc hay một yếu kém đạo đức. Phải nhân ái với họ, vì họ là nạn nhân của chính hướng chiều yếu đuối của họ: “Có ai trong anh em yếu đuối mà tôi không cảm thấy yếu đuối, có ai trong anh em sa ngã mà tôi không cảm thấy như thiêu như đốt” (Thánh Phaolô)

E.IV.3. LẬP TRƯỜNG CỦA GIÁO HỘI

Huấn Thị của Bộ Giáo Dục Công Giáo về những tiêu chuẩn để biện phân ơn gọi đối với những người có khuynh hướng đồng tính luyến ái và việc chấp nhận họ vào Chủng Viện và lên Chức Thánh. Huấn thị này do Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI phê chuẩn ngày 31-08-2005 và ra lệnh phát hành tại Roma ngày 04-11-2005, lễ kính nhớ thánh Charles Bôrrômêô, Bổn Mạng các Chủng Viện, được ấn ký do

Đức Hồng Y ZENON GROCHOLEWSKI, Bộ Trưởng

Đức Cha J. MICHAEL MILLER, C.S.B., Thư Ký

Cần phải có một sự biện phân kỹ càng những vấn đề liên quan đến lãnh vực tình cảm và giới tính, trong suốt thời gian đào tạo, và cả về sau nữa. Huấn thị đưa ra những quy tắc liên quan đến một vấn đề đặc biệt càng lúc càng cấp bách do tình huống hiện tại gây ra, đó là: Có được chấp nhận vào Chủng Viện và lên Chức Thánh những ứng sinh có khuynh hướng sâu nặng và ứng xử đồng tính luyến ái không?

Ứng sinh phải luôn ý thức rằng toàn bộ đời sống phải được điều khiển bởi việc hiến dâng toàn thân, và phải đạt tới một sự trưởng thành tình cảm và tính dục. Sự trưởng thành này cho phép đương sự có được những tương quan thích đáng với cả người nam và người nữ.

Giáo lý Công giáo phân biệt những hành động đồng tính luyến ái và những khuynh hướng đồng tính luyến ái. Và trong xu hướng đồng tính luyến ái thì cũng cần phân biệt xu hướng chớm nở có thể chữa trị được hay xu hướng đã ăn rễ sâu không thể nào gột tẩy. Truyền Thống Giáo Hội vẫn luôn xem những hành động đồng tính luyến ái là những hành động vô luân tự bản chất và ngược lại với luật tự nhiên. Vì thế, không có trường hợp nào trong những hành động này được chấp thuận.

Những khuynh hướng đồng tính luyến ái đã bám rễ sâu mà người ta thấy nơi một số người nam cũng như nữ được xem là vô trật tự và thường là một thử thách khó vượt qua đối với những người này. Tuy nhiên, những người này phải được tiếp đón cách kính trọng và tế nhị, tránh mọi phân biệt đối xử bất công: “Trái lại, phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô” (Eph 4,32).

Giáo hội, dù vẫn kính trọng sâu xa những người này, không thể chấp nhận vào chủng viện và vào các chức thánh những người thực hành đồng tính luyến ái, hoặc có những khuynh hướng đồng tính luyến ái đã bám rễ sâu và ủng hộ cái được gọi là văn hóa đồng tính nam, vì thiếu những tương quan chính đáng với những người nam và người nữ khác. Trái lại, những khuynh hướng đồng tính luyến ái dù chỉ là biểu hiện của một vấn đề tạm thời, chẳng hạn như vấn đề của tuổi thanh niên chưa được hoàn tất, cũng phải được vượt qua ít là ba năm trước lúc truyền chức phó tế.

Như thế, nếu mới chỉ là khuynh hướng đồng tính luyến ái và có thể chữa trị với thời gian thì không bị ngăn trở. Phải phân biệt hiện tượng và bản chất: Hiện tượng sẽ qua đi, bản chất mới khó thay đổi. Nếu một ứng sinh thực hành đồng tính luyến ái hoặc có những biểu hiện của khuynh hướng đồng tính luyến ái đã ăn rễ sâu xa, thì vị linh hướng cũng như cha giải tội của ứng sinh, có bổn phận lương tâm ngăn cản anh không tiến tới việc chịu chức. Thật là không ngay thẳng trầm trọng khi một ứng sinh nào che giấu việc đồng tính luyến ái của mình để đạt tới các chức thánh cho bằng được. Một thái độ không trung thực như thế là không phù hợp với tinh thần chân lý, tinh thần ngay thẳng và sẵn sàng phục vụ Chúa Kitô và Giáo Hội.

Vì tính chất nghiêm trọng của nó, ĐTC Biển Đức XVI dạy áp dụng rộng rãi Huấn thị này: Báo L’Osservatore Romano ngày 22/5/2008 có đăng lời giải thích ngắn gọn của Đức Hồng Y Tarcisio Bertone, và nói rằng Đức Giáo Hoàng đã chấp thuận cho công bố tin này ngày 8 tháng 4 năm 2008. Lời giải thích của Đức Hồng Y cho hay các hướng dẫn được trình bầy trong lá thư năm 2005 của Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo áp dụng cho “tất cả mọi trường đào tạo linh mục, kể cả các trường đặt dưới quyền điều khiển của các Giáo Hội Đông Phương, cho việc Phúc Âm hoá các Dân Tộc, và cho các Học Viện Đời Sống Tận Hiến và các Hội Dòng Đời Sống Tông Đồ.”

E.IV.4. THÁI ĐỘ PHẢI CÓ

Căn cứ vào những khảo sát khoa học và lập trường của Giáo Hội, chúng ta phải có cái nhìn thấu cảm và thái độ tôn trọng, tin tưởng đối với nhau, không phán đoán thiếu cơ sở và vội vàng kết luận những ai đó là đồng tính luyến ái. Dù có nghi ngờ những ai đó có biểu hiện đồng tính luyến ái cũng không được phân biệt đối xử, cô lập hay tẩy chay, không những lỗi bác ái mà lỗi cả đức công bằng. Nhất là khi điều nghi ngờ thực tế không có thì ai sẽ đền bù sự oan uổng bất công đó?!

Phải lấy tinh thần bác ái huynh đệ mà trực tiếp trao đổi chỉ bảo (như Chúa Giêsu đã dạy), lấy tinh thần siêu nhiên mà cầu nguyện và phó thác cho Chúa định liệu, nhẫn nại chờ đợi vì cuộc sống thực mỗi ngày sẽ mạc khải đúng chân tướng con người: “Vì chẳng có gì bí ẩn mà lại không trở nên hiển hiện, chẳng có gì che giấu mà người ta lại không biết và không bị đưa ra ánh sáng” (Lc 8,17). Không tìm cách xen vào cuộc đời người khác: “Tôi nghe nói trong anh em có một số người sống vô kỷ luật, chẳng làm việc gì, mà việc gì cũng xen vào” (2 Tx 3, 11).

Không ác ý theo dõi, rình mò dò xét để báo cáo bằng thư nặc danh; cũng không nhận làm ăng-ten tố cáo nhau, vì như thế sẽ tạo nên nghi ngờ thù oán nhau, làm mất bầu khí bình an, tin tưởng và thương yêu, là cái cần thiết để xây dựng cộng đoàn giáo dục: “Anh em đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp, để xây dựng và làm ích cho người nghe” (Eph 4,29). Phải nhớ lời Chúa Giêsu bảo Phêrô: “Nếu Thầy muốn nó ở lại cho đến khi Thầy đến, việc gì đến con, con hãy cứ theo Thầy”- “Các con đừng xét đoán để khỏi bị xét đoán; các con đong bằng đấu nào thì sẽ đong trả lại bằng đấu ấy cho các con.” Hãy cho người biết lỗi, cho họ cơ hội sửa lỗi, và cho họ thời gian nữa, vì không ai một sớm một chiều mà sửa ngay được. Tin tưởng vào sự biến đổi tốt đẹp trong tương lai (“nhân thùy vô quá, hữu quá tắc cải, thị vị vô quá”).

Trái lại, người có trách nhiệm sẽ đích thân kiểm soát bằng sự phục vụ đầy chăm sóc và gần gũi yêu thương, vì cuộc sống mỗi ngày sẽ mạc khải đúng con người thật: “Đi lâu mới biết đường dài, ở lâu mới biết con ngài phải chăng.” Nhờ đó sẽ phát hiện kịp thời và có cách thích hợp nhất để uốn nắn, đào tạo với lòng cảm thông. Thựo tế trong Hội Thánh cho thấy “mỗi vị thánh đều có một quá khứ và mỗi tội nhân hẳn còn có một tương lai.”

Trong trường hợp biết rõ ai đó có đồng tính luyến ái thật và để tránh thiệt hại lớn cho cộng đoàn lẫn đương sự, sau khi đã trực tiếp làm mọi cách có thể, và nhất là cầu nguyện, hãy theo lương tâm, can đảm đích thân kín đáo trình bày với Bề trên và sẵn sàng chịu trách nhiệm kiểm chứng về điều mình nói. Người có thẩm quyền cũng nên kín đáo làm việc với các đương sự, không nên đưa ra công khai, sinh ra mặc cảm càng khó và tổn thương tới thanh danh của các đương sự cũng như Chủng viện. Hơn nữa cũng phải chắt lọc điều mình nghe và các hậu ý của người đến nói.

Các đôi bạn thân thiết cũng hãy dè dặt, khôn ngoan và bác ái tránh gây cớ hiểu lầm cho người khác: không thường xuyên chỉ đi lại vui chơi tâm sự với nhau, song mở ra với mọi người; nhất là tránh những biểu lộ tình cảm quá thân mật về mặt thể lý… Nhưng cũng đừng vì sợ con mắt nhòm ngó, tỵ nạnh mà xa tránh nhau làm tổn thương tình bạn cao đẹp đã có. Mười hai tông đồ, mà Chúa Giêsu vẫn thân tín hơn với Phêrô, Giacôbê và Gioan, nhất là Gioan đó thôi, dù vẫn có vài hiểu lầm và bất bình!

Tay Tạo Hoá đặt bầu lửa đỏ,

Giữa thinh không soi tỏ gian trần,

Con người hối hận thở than,

Dám đâu tiếp tục những lầm lỗi xưa.

Vừa lạc nẻo lại vừa mù quáng,

Chẳng biết đường biết hướng về đâu,

Chúa ôi chính lộ dẫn vào,

Kẻo con sa xuống vực sâu có ngày!

Thánh Thi Kinh Sáng Thứ Năm Tuần I

“Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Người là Cha giàu lòng từ bi lân ái, và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an. Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách, để sau khi đã được Thiên Chúa nâng đỡ, chính chúng ta cũng biết an ủi những ai lâm cảnh gian nan khốn khó” (2 Cor 1, 3-4).

E.V. ÁP DỤNG TÂM LÝ HỌC VÀO PHÂN ĐỊNH VÀ ĐÀO TẠO ƠN GỌI

Ngày 30/10/2008, Bộ Giáo Dục Công Giáo công bố “Hướng dẫn sử dụng Tâm lý học trong Tuyển chọn và Đào tạo ứng sinh Linh mục.” Văn kiện được ĐTC Biển Đức 16 chuẩn y. Những tư tưởng chính của văn kiện là vai trò của các nhà tâm lý trong việc giúp nhận định ơn gọi; trách nhiệm của Giáo Hội khi nhận định, đánh giá xem các ứng sinh có phù hợp cho sứ vụ linh mục hay không; Đức Giám mục là người đại diện đầu tiên của Chúa Kitô trong việc đào tạo các linh mục; vai trò của người đào tạo là nhằm chuẩn bị cách tương xứng cho chức linh mục.

Phải nhắc đến bối cảnh văn hóa xã hội ảnh hưởng đến trạng thái tâm lý các ứng sinh, có những tổn thương không thể chữa lành hoặc những khó khăn tác động đến khả năng tiến bước trên con đường huấn luyện hướng đến chức linh mục của họ, không chỉ tại thời điểm gia nhập, mà cả thời điểm trước khi thụ phong nữa; nhưng nếu phát hiện kịp thời sẽ tránh được nhiều oái ăm.

Vì những ảnh hưởng đó và nhu cầu đào luyện con người của các ứng sinh, vấn đề sử dụng khoa học tâm lý trong chủng viện được đặt ra, với hy vọng những đóng góp của khoa tâm lý học góp phần đào tạo tâm lý cho các ứng sinh và chuẩn bị họ có một sự cân bằng nhân cách. Các trắc nghiệm tâm lý cho biết các chi tiết đáng lưu ý trong việc tuyển chọn và đào tạo ứng sinh, chúng cũng cho các ứng sinh hiểu rõ bản thân hơn, nhưng không nên chỉ dựa vào các trắc nghiệm tâm lý mà thôi.

Do hoàn cảnh đặc biệt, các chủng viện Bắc Mỹ sử dụng các trắc nghiệm tâm lý để đánh giá xem các ứng sinh có vấn đề gì không. Các vấn đề thường được quan tâm chú ý là xem các ứng sinh có vâng lời đủ hay không, có khả năng theo đuổi ơn gọi đến cùng hay không, có cởi mở, thân thiện, và có đáng tin cậy hay không, hoặc có các khuynh hướng lệnh lạc về giới tính hay không, để giám định sự trưởng thành và khả năng sống đời khiết tịnh. Nếu phát hiện ứng sinh có vấn đề và không thể thay đổi được thì không để ứng sinh ấy trong chủng viện nữa. Vì muốn làm tất cả những gì có thể làm để tránh các vấn nạn có thể có, họ không thể bỏ qua các trắc nghiệm tâm lý này.

Việc đào tạo nhân bản không thể tách rời với việc đào tạo thiêng liêng nên người hướng dẫn thiêng liêng có một vai trò đặc biệt. Những hình thức phân tích và hỗ trợ tâm lý không thể thay thế việc hướng dẫn thiêng liêng, vì chính đời sống thiêng liêng tạo đà tăng trưởng các đức tính của con người mà không bị sự tồn tại của tâm lý tự nhiên cản trở. Do đó phải chú trọng đến tầm quan trọng của ơn Chúa trong việc đào tạo ứng sinh. Ơn gọi linh mục là hồng ân và là mầu nhiệm vốn không thể đem so sánh với các phương pháp tâm lý.

Việc nhờ đến chuyên gia tâm lý chỉ được sử dụng trong một số trường hợp khó khăn đặc biệt. Do đó, nhà tâm lý học không thể là một phần của đội ngũ đào tạo. Sự trợ giúp tâm lý nên được hội nhập vào việc đào tạo toàn diện của ứng sinh, và không được gây trở ngại cho các giá trị thiêng liêng không thể thay thế. Các nhà tâm lý không được tiết lộ các khía cạnh đời sống riêng tư của khách hàng với đệ tam nhân, dù là thẩm quyền tôn giáo hay chính trị của họ, mà không có sự đồng thuận hoàn toàn của họ. Cũng thế, không ai, dù là Bề trên, có thể đi vào các chi tiết tiểu sử tâm lý của ứng sinh mà không có sự đồng thuận rõ ràng của họ.

Nhưng có hai thái cực sai lầm khi xem xét sự hỗ trợ về tâm lý đối với các ứng sinh linh mục: một là việc nhà tâm lý đóng vai trò vị linh hướng; hai là việc người đào tạo nghĩ rằng sự hỗ trợ từ các nhà tâm lý là không cần thiết đối với sự trưởng thành ơn gọi nơi những người khát khao chức linh mục. “Đối với nhà tâm lý nhắm mắt làm ngơ trước điều siêu việt, chối bỏ tầm quan trọng của đức khiết tịnh hoặc quay lưng lại đối với một số giá trị nào đó vốn thích hợp với Hội Thánh, thì rõ ràng họ chẳng thể có chỗ đứng trong việc giúp trưởng thành ơn gọi cho người hiến dâng đời mình cho sứ vụ. Nhà tâm lý nên có sự am hiểu lý thuyết và có cách tiếp cận nhằm đem chiều kích siêu việt của người ứng sinh hòa với lòng nhiệt thành và phẩm chất của họ, để tất cả những điều ấy đơm bông kết trái nơi người ứng sinh.” Giáo Hội đánh giá cao các phương pháp tâm lý và muốn chúng được sử dụng theo cách chúng có thể mang lại lợi ích.

Hướng sử dụng tâm lý học

trong việc tiếp nhận và đào luyện ứng sinh Linh mục:

Vì sự trưởng thành đầy đủ của các linh mục ngày mai

Vaticano – Thứ Năm 30 Tháng 10 năm 2008

do Bộ Giáo Dục Công Giáo trình bày

HY. Zenon Grocholewski, Tổng trưởng

TGM. Jean-Louis Brugùes, Thư ký

I. Hội Thánh và việc phân định ơn gọi

(1) Mọi ơn gọi đều là ân huệ đến từ Thiên Chúa, được ban ở trong HT và qua HT. HT có nhiệm vụ phân định ơn gọi và tính thích hợp của ứng sinh, vừa bảo đảm thiện ích của HT vừa bảo đảm được thiện ích của ứng sinh trong tổng thể, mà cuối cùng bởi việc Giám mục nhìn nhận đó là ơn gọi đích thực của CTT. Mọi ơn gọi được định hình để phụng sự TC và xây dựng HT hầu tăng trưởng Nước TC ở giữa trần gian. Nhà đào tạo phải thực hiện hài hòa hai thiện ích này để chúng hội tụ và hỗ tương năng động với nhau để phụng sự TC và phục vụ con người (x. PDV số 66-67).

(2) Tác vụ đồng hình đồng dạng với CK của linh mục đòi hỏi những năng lực và nhân đức đối thần (tin, cậy, mến) cũng như luân lý (can đảm, khôn ngoan, công bằng và tiết độ), được nâng đỡ bởi sự quân bình nhân bản và tâm lý, tình cảm hầu có thể dâng hiến bản thân trong tự do của nếp sống độc thân, tương quan với mọi người (x. PDV 43-44; GL 1029; 1041,1).

Trong tổng thể bốn chiều kích đào tạo linh mục của PDV, nếu chiều kích thiêng liêng là yếu tố quan trọng nhất, thì chiều kích nhân bản là nền tảng của việc đào luyện toàn diện (x. PDV 45c), khiến nhân cách linh mục trở thành nhịp cầu đưa người ta lại với CK, Đấng cứu độ (x. PDV 43). Các khả năng và phẩm chất nổi bật:

· Cảm thức tích cực và ổn định về nam tính của mình trong tương quan trưởng thành với người khác;

· Cảm thức vững chắc tính thuộc về trong hiệp thông với linh mục đoàn và cộng tác trách nhiệm với Giám mục;

· Sự tự do phấn khởi và nhất quán trong họat động hằng ngày;

· Can đảm lấy quyết định và trung thành với quyết định ấy;

· Hiểu biết những năng lực và giới hạn của mình để hội nhập chúng thành một nhãn quan tích cực về bản thân, với khả năng sửa chữa bản thân;

· Biết thưởng thức vẻ đẹp và nghệ thuật nhìn nhận chân lý;

· Tôn trọng, tín nhiệm và đón nhận người khác;

· Khả năng hội nhập phái tính của mình và sống bậc độc thân.

(x. OT 11; PO 3; Ratio 51; PDV 17; Sacerdotalis Coelibatus 63-64)

Những phẩm chất đó đạt được nhờ sự tương hợp của ứng sinh với hoạt động của ơn thánh nơi mình và nhờ một tiến trình đào luyện tiệm tiến, lâu dài, sinh động và cá vị hóa mà Giáo Hội cung cấp cho.

II. Chuẩn bị các nhà đào tạo

(3) Phải chuẩn bị thích đáng các nhà đào tạo để họ:

· hiểu rõ con người, các nhịp độ tăng trưởng, các tiềm năng và sự yếu đuối của ứng sinh, cũng như cách ứng sinh sống mối tương quan với Chúa;

· thực hiện việc phân định ơn gọi theo giáo huấn của Hội Thánh hầu an tâm quyết định thâu nhận hay thải hồi, cũng như đồng hành giúp ứng sinh thủ đắc các đức tính đối thần và luân lý trong sự nhất quán và tự do nội tâm dâng mình trọn vẹn phục vụ Hội Thánh.

(4) Có không ít những sai lầm trong việc biện phân ơn gọi khiến có những thiếu năng lực tâm lý, mang tính bệnh lý tỏ hiện ra sau khi chịu chức linh mục. Vì thế, nhà đào tạo cần được chuẩn bị chuyên môn về tâm lý, hiểu sâu về con người và những đòi hỏi của việc đào tạo, để:

· nhạy cảm với kỹ năng tâm lý để nhận ra những động lực thực của ứng sinh,

· phân định được những cản trở, cân nhắc chính xác và khôn ngoan chuyện đời của ứng sinh,

· lượng định về con người ứng sinh trong toàn thể và trong sự tăng trưởng tiệm tiến với những điểm mạnh và những điểm yếu của ứng sinh, cũng như việc ứng sinh ý thức về vấn đề của mình và khả năng ứng sinh kiểm soát cách có trách nhiệm và tự do hành xử của mình.

III. Đóng góp của khoa tâm lý trong phân định và đào tạo

(5) Quà tặng ơn gọi của Chúa vượt quá thẩm quyền phân định của khoa tâm lý. Nhưng khoa tâm lý hữu ích để lượng định tình trạng tâm lý, khả năng tăng triển nhân bản của ứng sinh; đồng thời giúp nhà đào tạo nhận ra các triệu chứng, hành trình chữa trị, nâng đỡ sự phát triển các phẩm chất và các mối tương quan để ứng sinh đáp trả ơn gọi tốt hơn.

Việc đào tạo phải lưu ý sự mất quân bình trong con người do đối kháng giữa lý tưởng dâng hiến và đời sống thực tiễn của ứng sinh, cũng như những khó khăn trong việc tăng triển tiệm tiến các đức tính nhân bản và các tương quan bị cản trở bởi những vết thương cá biệt trong quá khứ chưa được giải quyết. Sự trợ giúp của vị linh hướng và cha giải tội có thể giúp khắc phục với ơn Chúa.

Ngày nay, tâm thức của nhiều ứng sinh mới gia nhập bị ghi dấu bởi chủ nghĩa tiêu thụ, sự bất ổn trong các tương quan, chủ thuyết tương đối về luân lý, nhãn quan sai lầm về phái tính, thiếu chọn lựa và phủ định có hệ thống các giá trị… Những vết thương chưa được chữa lành gây nên những rối loạn trong chính mình mà ứng sinh không nhận ra lại gán cho những nguyên nhân bên ngòai, cản trở khả năng tiến bộ trong tiến trình đào tạo.

Trong một số trường hợp cá biệt, chuyên gia tâm lý có thể giúp ứng sinh vượt qua những vết thương ấy, nhờ phỏng vấn và trắc nghiệm [dĩ nhiên ứng sinh phải hiểu, tự do và đồng ý rõ rang trước] để nội tâm hóa lối sống của Chúa Giêsu ngày một vững vàng và sâu xa hơn. Nhà đào tạo tránh sử dụng kỹ thuật chuyên tâm lý và tâm lý bệnh học trên ứng sinh.

(6) Ban đào tạo chọn lựa các chuyên gia tâm lý, ngòai chuyên môn nghề nghiệp, phải có một nền nhân học kitô giáo về ngôi vị nhân linh, phái tính, ơn gọi độc thân linh mục, để can thiệp của họ không gây rối loạn hay đối kháng, nhưng hội nhập với việc đào tạo luân lý và thiêng liêng, với mầu nhiệm con người trong tương quan cá nhân với Chúa, đúng với quan điểm của Hội Thánh.

Hỗ trợ tâm lý phải hội nhập vào khung cảnh đào tạo toàn diện của ứng sinh, không cản trở việc đồng hành thiêng liêng luôn hướng ứng sinh về chân lý tác vụ thánh. Bầu khí đức tin, cầu nguyện, suy niệm, học hỏi thần học và đời sống cộng đoàn sẽ giúp ứng sinh hiểu biết ý nghĩa của việc sử dụng tâm lý vào hành trình ơn gọi của mình.

(7) Việc sử dụng chuyên viên tâm lý phải theo Rationes Institutiois Sacerdotalis lien hệ trong sự trung thành và nhất quán với Hướng dẫn này.

a. Sự phân định khởi đầu

(8) Ngay từ đầu, nhà đào tạo phải biết chính xác nhân cách, khuynh hướng, khả năng và tiềm năng của ứng sinh; lượng định bản chất và mức độ các vết thương, nếu có. Đừng quên hai khuynh hướng trái ngược của ứng sinh:

· giảm nhẹ/phủ nhận những yếu đuối riêng của mình, không nói lên những khó khăn nặng nề vì sợ không được hiểu và không được chấp nhận, vun đắp kỳ vọng ít có thực về tương lai của mình.

· thổi phồng những khó khăn, coi như ngăn trở không thể vượt qua cho hành trình ơn gọi: sự lệ thuộc tình cảm quá độ, gây hấn quá mức, thiếu khả năng trung thành với nhiệm vụ đảm nhận, không thiết lập được tương quan thanh thản, cởi mở, tín nhiệm và cộng tác huynh đệ với quyền bính, phái tính rối loạn và chưa định hình…

Nếu nghi ngờ có bệnh lý rối loạn tâm lý thì phải chữa trị trước khi nhận vào tu. Chuyên gia tâm lý cũng giúp nhà đào tạo vạch ra hành trình đào tạo thích hợp với nhu cầu cá nhân của ứng sinh. Việc định lượng khả năng sống đặc ân độc thân không chỉ lưu ý tới việc kiêng cữ hoạt động của cơ năng sinh sản, mà còn phải xét đến định hướng phái tính: Đức Khiết tịnh vì Nước Trời còn là cái gì hơn là không có những liên hệ tính dục.

b. Sự phân định kế tiếp

(9) Trong giai đoạn đào tạo, chuyên gia tâm lý cũng có thể giúp ứng sinh có được tốt hơn những đức tính nhân bản và luân lý, sự hiểu biết sâu xa hơn về nhân cách của chính mình, khắc phục những khủng hoảng có thể xảy ra, giảm bớt cường lực của những kháng cự tâm lý trước những yêu sách của đào tạo.

Đừng quên sự kiện một người có thể đạt được sự trưởng thành kitô và ơn gọi không luôn được chước miễn khỏi những khó khăn và căng thẳng, vẫn cần có kỷ luật nội tâm, tinh thần hy sinh, chấp nhận vất vả và thập giá, tín thác vào sự trợ giúp thiết yếu của ân sủng.

(10) Một ứng sinh, dù có cố gắng với hỗ trợ của chuyên gia tâm lý và bệnh lý, vẫn tỏ ra không có năng lực đối diện với thực tế và thiếu trưởng thành nghiêm trọng như quá lệ thuộc tình cảm, thiếu tự do và quân bình trong các tương quan, tính tình nghiêm khắc quá độ, thiếu trung tín, căn tính phái tính không rõ rang, khuynh hướng đồng tính mạnh, khó khăn hiển nhiên và như một nghĩa vụ nặng nề trong việc sống độc thân khiết tịnh… thì phải cho thôi.

IV. Cần có những điều tra đặc biệt và kính trọng sự riêng tư của ứng sinh

(11) Hội Thánh có quyền và bổn phận chọn và đánh giá phẩm chất, sức khoẻ thể lý và tâm lý của ứng sinh cho phù hợp với tác vụ mục tử (x. GL 1051). GL 1052 nói đến các điều kiện để Giám mục phong chức hay từ chối ứng sinh, dựa vào sự lượng giá tâm lý về nhân cách và tính thích hợp. Ứng sinh không thể áp đặt điều kiện cá nhân của mình, nhưng phải chấp nhận các điều kiện của Hội Thánh, với khiêm tốn và biết ơn.

(12) Định chế đào tạo không được vi phạm quyền về thanh danh, về bảo mật riêng tư của ứng sinh (GL 220), nghĩa là việc tham vấn tâm lý phải được ứng sinh hiểu biết và tự do đồng ý rõ ràng trước.

Nhà đào tạo phải bảo đảm bầu khí tín nhiệm để ứng sinh mở lòng cộng tác cách tin tưởng và thân tình vào việc phân định và đồng hành. Còn ứng sinh phải cởi mở chân thành và tín nhiệm để nhà đào tạo hiểu mình thì mới được trợ giúp hữu hiệu trong tiến trình thiêng liêng.

Bầu khí giáo dục, cởi mở và trong sáng giữa nhà đào tạo và ứng sinh mang tính quyết định. Đừng để ứng sinh hiểu lầm rằng cho tham vấn tâm lý là mở đầu cho việc thải hồi. Ứng sinh được quyền chọn chuyên gia tâm lý do nhà đào tạo đề nghị hay được nhà đào tạo chấp nhận.

Nhà đào tạo không áp chế ứng sinh tham vấn tâm lý và sẽ thận trọng dựa vào những gì mình biết để phân định ứng sinh, theo GL 1052,1.

V. Tương quan giữa nhà đào tạo và chuyên gia tâm lý

a. Các người có trách nhiệm tòa ngoài

(13) Với sự đồng ý tự do bằng văn bản của ứng sinh, chuyên gia tâm lý cung cấp kết quả tham vấn cho nhà đào tạo (tòa ngoài) sử dụng để nghiên cứu một toàn cảnh về ứng sinh hầu rút ra nhũng chỉ dẫn phù hợp cho việc đào tạo hay cho chịu chức.

Để bảo vệ sự riêng tư và thanh danh của ứng sinh, chuyên gia tâm lý chỉ cung cấp thông tin cho một mình nhà đào tạo, và nhà đào tạo bị cấm sử dụng cho mục đích khác ngoài việc phân định ơn gọi và đào tạo ứng sinh.

b. Tính chuyên biệt của việc linh hướng

(14) Việc linh hướng thuộc lãnh vực lương tâm, các phân tích và hỗ trợ tâm lý không thể thay thế; nhưng khi cần, vị linh hướng có thể gợi ý tham vấn tâm lý để làm sáng tỏ các nghi vấn không thể giải quyết được, hầu được chắc chắn hơn trong việc phân định và đồng hành thiêng liêng, nhưng không bao giờ được áp đặt ứng sinh (x. PDV số 40c).

Ứng sinh thông tri kết quả cho vị linh hướng, hoặc vị linh hướng lấy trực tiếp từ chuyên gia với sự đồng ý bằng văn bản của ứng sinh. Vị linh hướng rút ra những chỉ dẫn và lời khuyên thích đáng cho ứng sinh, kể cả việc nên tiếp tục hay không.

c. Sự trợ giúp của chuyên gia đối với ứng sinh và nhà đào tạo

(15) Chuyên gia tâm lý giúp ứng sinh hiểu mình, các tiềm năng và thương tích của mình, cũng như những khó khăn và hệ lụy của chúng đối với đời sống và sứ vụ linh mục tương lai, để đối diện với lý tưởng ơn gọi bằng nhân cách riêng của mình hầu có được sự gắn bó cá nhân, tự do và ý thức vào việc tự đào tạo chính mình.

Với sự đồng ý bằng văn bản của ứng sinh, chuyên gia tâm lý giúp nhà đào tạo hiểu loại nhân cách và những vấn đề ứng sinh đang đối diện hay phải đối diện; đồng thời cho biết những khả thể tăng trưởng nhân cách của ứng sinh, gợi ý những hình thức hỗ trợ tâm lý để nhà đào tạo giúp ứng sinh cách hữu hiệu.

VI. Những người bị thải hồi hay tự ý bỏ tu

(16) Không được tiếp nhận người đã tự ý bỏ tu hay bị thải hồi trước khi có được những thông tin cần thiết về lý do bị thải hồi hay bỏ tu từ Giám mục hay Bề trên liên hệ (x. GL 241,3).

Nhà đào tạo trước có bổn phận cung cấp cho nhà đào tạo mới các thông tin chính xác về ứng sinh bị thải hồi. Cần đặc biệt chú ý ứng sinh tự ý bỏ tu để tránh sự thải hồi áp đặt.

Ứng sinh chuyển tu phải cho nhà đào tạo mới biết kết quả tham vấn tâm lý đã thực hiện trước đó. Phải có sự đồng ý bằng văn bản của ứng sinh này, nhà đào tạo mới mới được lấy thông tin từ chuyên gia đã thực hiện cuộc tham vấn ấy, kể cả ứng sinh bị thải hồi đã có qua một chữa trị tâm lý, để biết chính xác về tình trạng tâm lý của anh.

Nếu một ứng sinh chuyển tu đã nhờ tới chuyên gia tâm lý mà không chấp nhận sự điều tra của nhà đào tạo mới thì sự phù hợp của ứng sinh phải được chứng nghiệm bằng những luận chứng tích cực theo GL 1052.

Kết luận

Bất cứ ai tham gia đào tạo hãy xác tín cộng tác sao cho việc phân định, đồng hành và đào tạo thiêng liêng cho các ứng sinh được thích đáng để chỉ đưa tới chức linh mục những kẻ được kêu gọi, đáp trả ý thức, tự do gắn bó và dấn than trọn vẹn cho Chúa Kitô, sống than mật với Ngài và chia sẻ sứ mệnh cứu rỗi của Ngài (x. PDV số 42c).

Muc Lục

F. NHỮNG YẾU TỐ NỒNG CỐT CỦA TRƯỞNG THÀNH TÌNH CẢM

F.I. Dấu hiệu của sự thiếu trưởng thành

Có thể xác định được cái tạo nên sự trưởng thành tình cảm không? Ta hãy cố gắng xem xét các thành phần cấu tạo nền tảng của nó để có thể định nghĩa trưởng thành tình cảm như sự hòa điệu giữa trí óc và con tim. Trí óc (Lý trí): là phía hữu lý của con người; khả năng suy nghĩ hợp lý; khả năng theo đuổi mục đích; khả năng lấy quyết định; khả năng điểu chỉnh với thực tại (đối với Freud, đây là “tiến trình đệ nhị”). Con tim: là phía tình cảm của con người; các cảm nhận, các nhu cầu, các ước vọng, các thúc đẩy, các giấc mơ (đối với Freud, đây là “tiến trình đệ nhất”).

Sự hòa điệu hay hội nhập giữa hai chiều kích căn bản của con người mang lại bình an nội tâm, và đến phiên nó, sự bình an nội tâm tạo nên sự bình an với tha nhân và khả dĩ hòa điệu với thực tại. Để hiểu thấu đáo trưởng thành là gì, chúng ta hãy nhìn hai hình thức không trưởng thành mà cả con tim và lý trí đều mắc phải.

F.I.1 Sự bốc đồng, hấp tấp

Bộc lộ tình cảm ra bên ngoài và hành động theo sự thúc đẩy, không tự chủ thích đáng, như một đứa trẻ con… là cái người ta thường hiểu là “không trưởng thành”: Coi sự thỏa mãn các nhu cầu là ưu tiên để thỏa mãn các ham muốn; Sự thiếu tự chủ, chẳng hạn trong việc kiềm chế cơn giận bùng nổ hay những khó khăn giới tính.

Có thể có nhiều cách bộc lộ khác nhau của hình thức không trưởng thành này, tùy thuộc vào các nhu cầu và cảm xúc thoát khỏi sự kiểm soát. Việc này có thể dẫn đến xung đột với tha nhân và xã hội, nếu các hành động do bản năng tác hại cho người khác (như không thể kiểm soát cơn giận hay trạng thái buồn rầu ủ rũ); hoặc xung đột trong bản thân mình, nếu thái độ ứng xử là không thể chấp nhận được đối với lương tâm mình hay ý thức tự trọng (không có khả năng vượt thắng một cảm nhận oán giận đối với người khác).

F.I.2 Sự khắt khe cứng cỏi

Sự hoàn toàn kiểm soát trên cảm xúc và ước muốn của mình sẽ đưa tới hậu quả là đánh mất tính tự phát và thích thú. Người tự kiểm soát được mình thường xem ra “trưởng thành và có trách nhiệm”, như đối nghịch lại với người bị thúc đẩy, bốc đồng. Nhưng một sự kiểm soát như thế thường được bắt rễ trong sự ức chế và được đặc trưng bởi sự khắt khe cứng cỏi.

Trong sự không trưởng thành có ứng xử nghèo nàn hoặc vì sử dụng không thích hợp hoặc vì sự sử dụng thái quá cơ chế tự vệ. Căn nguyên của tự vệ là sự lo âu. Để kiểm soát nỗi lo âu, người ta cố che đậy chính mình và kẻ khác cái mà người ta không thích. Khi mọi sự tự vệ bị đập tan, người ta gặp phải sự tê liệt hoàn toàn – đuợc gọi là nỗi lo âu hay sự hoảng loạn tấn công, rất giống với cơn đau tim.

F.I.3 Những chỉ dẫn của sự thiếu trưởng thành

Những chỉ dẫn sau đây có thể giúp khám phá sự có mặt của vài bệnh lý nhẹ hay vài nhược điểm căn bản trong nhân cách bên dưới lối ứng xử không trưởng thành – mặc dù cho đến nay vẫn bình thường.

1) Trong tương quan với bản thân

· Tinh thần phòng vệ thái quá;

· Luôn luôn cảm thấy mình bị coi thường;

· Có những phản ứng mạnh không thích hợp làm tình hình căng thẳng;

· Tình trạng trống rỗng và khô khan thường xuyên;

· Thiếu xác tín cá nhân;

· Cẩu thả và thiếu xác thực trong cuộc sống hằng ngày và trong các nhiệm vụ thông thường.

2) Trong tương quan với tha nhân.

· Thui thủi một mình, dường như sống trong một thế giới khép kín của riêng mình;

· Có khuynh hướng đánh giá thấp kẻ khác và nhìn họ cách tiêu cực, nhất là khi quá lý tưởng hóa bản thân;

· Người hay gây rối;

· Tính cáu kỉnh trẻ con khi không vừa ý hay co mình lại;

· Mánh khoé lôi kéo kẻ khác cho các nhu cầu tập trung của mình;

· Sự thiếu căn tính bản thân được nhìn thấy trong khuynh hướng lý tưởng hóa các khuôn mặt quyền bính và đồng hóa với họ.

3) Trong tương quan với thực tại

· Không có khả năng đối phó cách xây dựng với thực tại;

· Thường xuyên thiếu óc tập trung;

· Không có khả năng kiên trì trong nhiệm vụ đơn giản, trừ khi được thường xuyên hướng dẫn hay giám sát.

F.I.4 Kết quả đáng suy nghĩ của một cuộc nghiên cứu

· Thời gian mới vào có 60-80% ứng sinh có những mâu thuẫn. Họ vào với lý tưởng bản thân nhưng bị tác động bởi các mâu thuẫn của mình.

· Sau một thời gian khá dài, chỉ có một số nhỏ các ứng sinh trên đã lớn lên trong sự trưởng thành tình cảm. Trong số những người còn lại, các mâu thuẫn vẫn thắng thế và các xung đột vẫn không được giải quyết.

· Thách đố: chương trình đào tạo phải nhìn vào cái tôi sâu xa hơn của mỗi con người.

F.II. Tiến đến sự trưởng thành

F.II.1 Bốn đường lối căn bản để bảo vệ chính mình

1) Đường lối thứ nhất: Phủ nhận

Chúng ta gạt bỏ sự hiện hữu của chính mối đe dọa hoặc tính nghiêm trọng của nó, nhờ đó chúng ta không để nó ảnh hưởng lên cuộc đời chúng ta. Chẳng hạn “suy tưởng cách tích cực” (dựa trên sự phủ nhận) cho phép chúng ta nhìn khía cạnh thú vị của cuộc đời, nhờ đó chúng ta thấy được bầu trời sáng bạc sau đám mây (trong cái rủi vẫn có cái may, họa trung hữu phúc).

2) Đường lối thứ nhì: Trốn chạy

Mối đe dọa quá nghiêm trọng khiến chúng ta trốn chạy khỏi nó, và trốn đi càng xa càng tốt nếu chúng ta có thể (tam thập lục kế, vi tẩu thượng sách). Cảm nhận bên trong về sự không an toàn có thể được đặt sai chỗ trên thực tại bên ngoài, khiến chúng ta phải sợ và tránh nó. Đây là những ám ảnh về ma quái, bóng tối, gặp người nọ kẻ kia…

3) Đường lối thứ ba: Chiến đấu

Thay vì chạy trốn, chúng ta chuẩn bị mình để chiến đấu. Chúng ta dùng sự hiểu biết để kiểm soát nỗi lo âu và bất cứ cái gì nó gây nên, chẳng hạn đọc nhiều về thần học luân lý để biết hầu tránh tội. Chúng ta hỏi ý kiến những người khôn ngoan từng trải để tìm sự an toàn, hoặc chúng ta nỗ lực kiểm soát làm chủ tình hình.

4) Đường lối thứ tư: Mỉm cười

Như cây tre đong đưa theo gió, chúng ta làm cho mình ra mềm mại để tránh bị nghiền nát. Chúng ta có thể làm như trẻ con để tránh xung đột hay vẫn ở như trẻ con để tránh thách đố. Chúng ta mỉm cười trước những mối đe dọa và tránh những cuộc tấn công bởi tính ngoan ngoãn, dễ phục tùng.

F.II.2 Tiêu chuẩn đánh giá sự trưởng thành

1) Bốn phương diện của sự trưởng thành

· Tự ý thức

· Tự hiểu mình

· Tự chấp nhận mình

· Tự thay đổi và tự do quyết định

2) Các tiêu chuẩn đánh giá

Danh sách 12 tiêu chuẩn sau đây như những chỉ dẫn ứng xử có lẽ tương đối dễ thực hiện, được chia ra ba nhóm chính:

· Thái độ đối với bản thân

– Tinh thần cởi mở và hiểu biết chính mình (ngược lại tinh thần phòng vệ);

– Sự kiểm soát mềm dẻo trên các nhu cầu, cảm xúc, các thúc đẩy (ngược lại tính bốc đồng hấp tấp);

– Giá trị cam kết;

– Cách ứng xử có dự đoán trước, không khắt khe cứng cỏi và căng thẳng quá đáng.

· Thái độ đối với tha nhân

– Khả năng yêu thương, vừa tình cảm vừa hữu hiệu;

– Các mối tương quan tốt với đồng nghiệp;

– Các mối tương quan tốt với người khác phái;

– Thái độ tốt đối với quyền bính;

– Khả năng lãnh đạo.

· Thái độ đối với thực tại

– Xét đoán phân minh;

– Khả năng làm việc tốt;

– Ý thức hài hước

F.III. THẾ NÀO LÀ TRƯỞNG THÀNH

F.III.1 Các đặc tính của sức khoẻ tinh thần

Một nhóm các nhà phân tâm học liệt kê các yếu tố của sức khoẻ tinh thần như sau:

– Sự phấn khởi, hoan hỉ

– Tinh thần thanh thản lạc qua

– Khả năng vui thích làm việc

– Khả năng vui thích giải trí

– Khả năng yêu thương

– Khả năng đạt tới mục đích

– Không bộc lộ cảm xúc thái quá

– Tự biết mình cách sâu sắc

– Trách nhiệm xã hội

– Phản ứng thích hợp với mọi cảnh huống.

F.III.2 Các chuẩn mực của một con người trưởng thành

– Mở rộng ý thức về bản thân: Tham gia vào vài lãnh vực ý nghĩa của nỗ lực nhân loại định hướng cho cuộc sống. Sự trưởng thành tiến tới cân xứng với cuộc sống trở nên tử tế từ cái trực tiếp ồn ào của thân xác và của cái tôi lấy mình làm trung tâm điểm.

– Liên kết bản thân với tha nhân có hai khía cạnh: Khả năng sống thân mật sâu xa với tha nhân và Khả năng sống thanh thoát làm cho mình trở thành người không có khuynh hướng chiếm hữu nhưng tôn trọng kẻ khác cách sâu xa.

– An toàn tình cảm (chấp nhận chính mình): khả năng mang nổi sự thất vọng (thất bại), chấp nhận lầm lỗi của mình mà không phản ứng quá dữ dội với tha nhân và các biến cố bên ngoài. Một con người như thế đã học được để sống với các trạng thái tình cảm của mình, nhờ đó không bị chúng phản bội lại bằng cách đưa mình vào những hành động bốc đồng quấy rầy cuộc sống hạnh phúc của tha nhân. Người như thế bộc lộ các xác tín và cảm nhận của mình với lòng trân trọng các xác tín và cảm nhận của người khác.

– Nhận thức thực tế, các kỹ năng, phận vụ: khả năng đánh giá thực tại đúng như nó là, chứ không như mình mong muốn nó trở thành; có những kỹ năng thích hợp để giải quyết các vấn đề khách quan; có khả năng quên mình vì một nhiệm vụ quan trọng. Tóm lại, một người trưởng thành sẽ va chạm gần gũi với một “thế giới thực”, nghĩa là nhìn xem sự vật, con người và các hoàn cảnh theo cái mà chúng là.

– Thể hiện mình cách khách quan: Biết rõ mình và hài hước. Biết rõ mình, một sự hiểu biết đầy đủ về những điểm mạnh và những điểm yếu của mình. Luôn luôn có tinh thần hài hước đi cùng. Có khả năng coi thường những cái mình yêu thích (dĩ nhiên bao gồm cả bản thân và tất cả những gì liên quan đến bản thân), và vẫn yêu thích chúng. Cái trái ngược là sự giả bộ màu mè, tức là khuynh hướng xuất hiện bề ngoài mình là cái gì đó mà thực ra không thể.

– Triết lý thống nhất đời sống: một sự hiểu biết rõ ràng về mục đích của cuộc đời trong những hạn từ của một lý thuyết dễ hiểu. Nói cách khác, một hệ thống ý nghĩa và trách nhiệm, một định hướng giá trị, trong đó các hoạt động chủ yếu của cuộc sống được thực hiện.

F.III.3 Một con người trưởng thành thể hiện tốt chính mình

– Nhận thức cao về thực tại và có những liên hệ thoải mái với nó. Người này phán đoán về các tình huống và con người cách chính xác. Họ không bị đe dọa và hoảng sợ, như người không trưởng thành tỏ ra quá cần thiết đến thê thảm sự chắc chắn, sự an toàn, sự chính xác và mệnh lệnh.

– Sự chấp nhận bản thân và thiên nhiên: Họ cảm thấy thoải mái với thiên nhiên và bản tính con người. Họ chấp nhận toàn bộ các nhu cầu và tiến trình tự nhiên, không chán ghét, nhưng trân trọng các đức tính cao hơn làm nên sự trưởng thành nhân bản.

– Tính tự phát: Khả năng thưởng thức nghệ thuật, những thời kỳ tốt lành, cuộc sống thú vị. Không quá câu nệ tập tục, nhưng có thể nắm lấy những kinh nghiệm tột đỉnh về cuộc đời.

– Vấn đề tập trung: Làm việc hiệu quả và kiên trì trong những nhiệm vụ khách quan; có thể hy sinh chính mình trong các vấn đề đích thực mà không bận tâm đến bản thân.

– Sự thanh thoát: Cần sự riêng tư và tự lập. Tình bạn và sự gắn bó đối với gia đình không bám dai dẳng, không xâm phạm hay chiếm hữu.

– Độc lập với văn hóa và môi trường: Liên hệ gần gũi là khả năng để lấy hay để bỏ các thần tượng của thương trường. Dù nịnh hót hay chỉ trích cũng chẳng làm xáo trộn quá trình phát triển căn bản của mình.

– Tính chất mới mẻ trong việc đánh giá: dễ cảm với kinh nghiệm mới.

– Chân trời không biên giới: quan tâm với bản chất tối hậu của thực tại; những cảm nhận thần bí hay bao la như đại dương là yếu tố tôn giáo trong sự trưởng thành.

– Cảm thức xã hội: có một cảm nhận căn bản về thiện cảm và tình thương, bất kể sự giận dữ hay thiếu nhẫn nại thỉnh thoảng xảy ra. Lòng cảm thông đối với đồng loại là một dấu hiệu của sự trưởng thành.

– Tương quan xã hội sâu xa và có chọn lựa: có thể có những sự gắn bó cá nhân sâu xa khác thường. Vòng tròn các gắn bó gần gũi có thể nhỏ hẹp, nhưng cũng có thể nhẹ nhàng mở ra với những mối liên hệ bên ngoài quỹ đạo này.

– Đặc tính tự do: cảm nhận và tỏ lòng kính trọng đối với bất cứ người nào chỉ vì đó là một cá vị con người; tỏ ra độ lượng trong lãnh vực đạo đức và tôn giáo.

– Sự chắc chắn đạo đức: biết sự khác biệt giữa cái đúng và cái sai trong cuộc sống thường ngày; không lẫn lộn phương tiện và mục đích, và cương quyết theo đuổi cho bằng được những mục đích mà mình thấy là đúng.

– Ý thức thân thiện của tính hài hước: Không chơi chữ, giễu cợt hay mưu kế thù nghịch, nhưng tự phát hài hước.

– Tính sáng tạo: Cách sống có một sức mạnh chắc chắn và một cá tính gây ấn tượng trên bất cứ cái gì mình làm (viết lách, sáng tác hay công việc).

Muc Lục

G. ỨNG SINH GIÚP NHAU TỰ ĐÀO TẠO CHÍNH MÌNH

G.I. TÍNH QUYẾT ĐỊNH CỦA TỰ ĐÀO TẠO

Việc đào tạo sẽ mất đi hiệu quả của nó, nếu nó không bao hàm sự tham gia cá nhân của ứng sinh, nghĩa là sự tự đào tạo của anh. Chính vì thế, Đức Gioan Phaolo II đã nhắc nhở rằng chính ứng sinh là nhân tố cần thiết và không thể thay thế được trong việc đào tạo của chính mình: “Tự đào tạo là tối quan trọng trong tất cả mọi công cuộc đào tạo, kể cả đào tạo linh mục. Không ai có thể thay thế chúng ta trong sự tự do có trách nhiệm mà chúng ta có được như là những nhân vị độc đáo” [17]

Vâng, tự đào tạo là yếu tố quyết định đưa tới thành công trong việc đào tạo thiêng liêng. Mặc dù Chúa Thánh Thần là tác nhân tuyệt hảo trong việc đào tạo này, ứng sinh phải hoàn toàn tự do đón nhận tác động định hình Ngài.

Cũng thế, hoạt động của các nhà đào tạo khác nhau sẽ chỉ “trở nên thực sự và đầy đủ hiệu quả, nếu ứng sinh cống hiến sự cộng tác chân thành và xác tín của chính anh vào công cuộc đào tạo này.”

Quan niệm Á Châu “không thầy đố mầy làm nên” ngày nay đã được thay đổi: nếu không có sự thực hành của trò thì những giáo điều và lý thuyết của thầy chỉ là những lời hoa mỹ thôi. Học phải đi đôi với Hành.

Điều rất quan trọng là việc đào tạo phải cung cấp cho ứng sinh cách suy nghĩ mới, cách sống mới, cách hành động mới, cách yêu thương mới và cách làm chứng mới cho Tin Mừng. Nhưng điều còn quan trọng hơn nữa là việc tự đào tạo này phải đem sự hiểu biết hữu ích đó ra thực hiện. Sự cộng tác chặt chẽ giữa hai phía, đào tạo và tự đào tạo, là điều kiện tiên quyết cho mọi thành công, và dĩ nhiên với ơn Chúa nữa.

Vì thế, Pastores Dabo Vobis đòi hỏi: “Các ứng sinh… phải hết sức ý thức chuẩn bị chính mình để đón nhận ơn Chúa và đem ra thực hành, biết rằng Giáo Hội và thế giới đang rất cần đến họ” [18]

G.II. CỘNG ĐOÀN GIÁO DỤC

“Việc đào tạo linh mục được hiệu quả nhất ở trong cộng đoàn, được hiểu như một mạng lưới hữu cơ của mối tương quan liên nhân vị.” [19] Vì thế, chủng viện phải được quan niệm như một cộng đoàn giáo dục, [20] nơi mà chủng sinh được hướng dẫn “không chỉ tới chức linh mục, song còn khám phá và sống đời sống của Chúa Giêsu.”

Cộng đoàn giáo dục này gắn liền với việc thực thi tập thể trách nhiệm của các nhà đào tạo trước tiên. Nó cũng mời gọi các chủng sinh đảm nhận trách nhiệm hàng đầu của việc đào tạo chính họ, và cộng tác vào việc đào tạo các bạn của họ, nhờ đời sống chung của chủng viện. Yếu tố căn bản của việc đào tạo linh mục là kiến tạo bầu khí kiên định, trước sau như một, thích hợp cho việc phát triển tâm lý và thiêng liêng. Sự thật và tính đơn sơ trong mối tương quan dẫn đến việc chỉ bảo lẫn nhau, chấp nhận lẫn nhau, ý thức chung về lợi ích chung và niềm vui chung trong việc tìm kiếm và phục vụ Chúa.

Những nhóm nhỏ cống hiến nhiều cơ hội chia sẻ đức tin, kiểm điểm đời sống và kinh nghiệm cầu nguyện sẽ góp phần làm phát triển cộng đoàn giáo dục ấy. Cộng đoàn giáo dục này cũng mở ra với các cơ chế cộng đoàn của Giáo Hội địa phương, nơi mà các ứng sinh sẽ lãnh nhận được kinh nghiệm mục vụ phục vụ đoàn chiên Chúa. Những kinh nghiệm về Giáo Hội này lớn hơn kinh nghiệm mà cộng đoàn chủng viện cống hiến cho họ. Các kinh nghiệm ấy sẽ đào tạo ý thức mục vụ và tinh thần tông đồ của chủng sinh, đồng thời giúp họ khám phá ra cách cụ thể tính cấp bách của việc loan báo Tin Mừng, ý nghĩa và những đòi hỏi của cuộc đời họ, được trọn vẹn hiến dâng cho việc phục vụ Dân Chúa. Nhưng những kinh nghiệm ấy chỉ sinh hoa kết quả nhờ một suy tư thần học và tu đức được các nhà đào tạo tốt gợi lên và hướng dẫn. [21]

G.III. NHÓM NHỎ CÁC BẠN ĐỒNG MÔN

Ngày nay người ta nhấn mạnh nhiều đến tính năng động của nhóm đào tạo. Dưới Ban Giám Đốc, một Ban Đại Diện, được anh em bạn bầu lên, tham gia vào việc điều hành chủng viện. Cộng đoàn chủng viện được phân chia thành nhiều nhóm nhỏ, nhằm thăng tiến việc làm việc nhóm và đời sống cộng đoàn.

Các nhóm nhỏ chủng sinh được hình thành theo các trình độ khác nhau hoặc theo năm đào tạo. Một người trong ban đào tạo được chỉ định làm linh hoạt viên của nhóm, để duy trì thế quân bình giữa đời sống cấp nhóm và đời sống cấp chủng viện. Phải nhắm đến cả hai, các cá nhân và nhóm, như một toàn thể, ngõ hầu bảo đảm được sự trưởng thành của cả hai, cá nhân và tập thể.

Đời sống trong nhóm gồm có những lúc cầu nguyện, gặp gỡ hàng tuần về một đề tài thuộc đời sống thiêng liêng (chia sẻ đức tin), những giờ giải trí, các hoạt động mục vụ, trách nhiệm phụng vụ và các dịch vụ hàng ngày. “Sự tương tác trong những nhóm như thế giúp phát triển sự tin tưởng lẫn nhau, truyền thông và chia sẻ, góp phần xây dựng một cộng đoàn đúng nghĩa.” [22]

Nhóm nhỏ này có thể trở thành một nhóm bạn thân có thể dễ dàng thực hành việc “chỉ bảo huynh đệ.” [23] Thường người ta không dám sửa lỗi người khác, phần vì con người ai cũng yếu đuối và bất toàn, phần vì tế nhị hay sợ phản ứng tiêu cực từ phía người kia, hay ít nhất để tránh hiểu lầm nhau, mâu thuẫn và xung đột có thể có. Vậy, cách tốt hơn và dễ hơn là mọi người đồng ý thỏa thuận với nhau rằng “nếu một người trong nhóm thấy người khác có lỗi, thì người này sẽ nói với người đó về lỗi ấy.”

Trong bối cảnh cuộc gặp gỡ hàng tuần chia sẻ Phúc Âm và kiểm điểm đời sống, mỗi người có thể góp ý phản hồi cho người khác và giúp nhau tiến bộ hơn trong tiến trình đào tạo chủng viện và tự đào tạo, hy vọng tiến tới “tình huynh đệ bí tích” của chức linh mục (x. Tv 133,1). Tiến trình này đòi hỏi phải có ý ngay lành, sự sẵn sàng để thay đổi, lòng can đảm, tình bác ái, và nhất là ơn Chúa.

Trong cấp độ đời sống nhóm này, mỗi người phải học biết chăm chú lắng nghe và cho người khác ý kiến phản hồi cách thích hợp. Mỗi người cũng phải học biết chấp nhận chính mình và chấp nhận người khác: càng biết nhìn nhận lỗi lầm, thiếu sót, giới hạn, yếu đuối và bất lực của mình, ta càng trở nên khiêm tốn hơn; càng biết chấp nhận những lỗi lầm, thiếu sót, giới hạn, yếu đuối và bất lực của người khác, ta càng trở nên độ lượng và cảm thông hơn với họ.

Đời sống nhóm giúp mỗi thành viên khám phá và phát triển những tài năng, tài năng tự nhiên và tài năng đạt được từ kinh nghiệm cuộc sống. Mọi người đều được Thiên Chúa kêu gọi và trao cho một số ân huệ để mở rộng Nước Thiên Chúa. Mỗi người có trách nhiệm tìm biết và phát triển những ân huệ ấy. Chẳng ai sở hữu được mọi ân huệ của Thiên Chúa, nhưng những ân huệ cần thiết cho sứ mạng luôn hiện diện trong cộng đoàn, và cộng đoàn là nơi cần thiết để nhận ra các ân huệ của mỗi thành viên (x. 1 Cr 12-14).

Tuy nhiên, nhiều khi người ta phải chịu đựng những khó khăn và xung đột do ý niệm sai lầm hoặc đặt không đúng chỗ đức khiêm nhường, sợ hãi, ghen tị hay thèm muốn ân huệ của người khác (x. Gal 5,26). Nếu biết chú ý tới những khác biệt của tha nhân, đánh giá sự độc đáo của người khác với sự hiểu biết tích cực, coi những xung đột chỉ là một phần cần thiết trong tiến trình sáng tạo và phát triển, chứ không phải là vấn đề, thì mọi sự sẽ được giải quyết, cộng đoàn sẽ tiến triển tốt đẹp, và sứ mạng loan báo Tin Mừng của Hội Thánh sẽ được hiệu quả hơn (Gal 6,2).

G.IV. KỸ THUẬT CHỈ BẢO HUYNH ĐỆ

G.IV.1 Định nghĩa

Nói hành nói xấu là Tốt hay Xấu? Và nói hành nói xấu là gì? – Nói hành nói xấu là nói điều tiêu cực của một người với những người khác sau lưng người ấy (có thể là Bề trên hay anh em…). Như vậy, nhìn chung, nói hành nói xấu là xấu.

Vậy tại sao ta lại nói? Đâu là động lực sâu xa của nói hành nói xấu? Và là xấu hay tốt? Nếu nói để hãm hại, hạ uy tín, trù dập người ta thì động lực sâu xa của nói hành nói xấu là xấu. Còn nếu vì muốn cho người ấy trở nên tốt, thì động lực sâu xa của nó là tốt. Quả vậy, nếu người ấy tốt rồi thì ai nói làm gì!

Vậy làm sao để phát huy động lực tốt đó? Chúa Giêsu dạy thực hành việc chỉ bảo huynh đệ: “Nếu anh em ngươi trót phạm tội, thì hãy đi sửa lỗi nó, riêng ngươi với nó thôi. Nếu nó nghe ngươi, ngươi đã lợi được người anh em. Nếu nó không nghe ngươi, ngươi hãy kèm theo một/hai người nữa, để tất cả công việc được đoán định do miệng hai/ba nhân chứng. Nếu nó không màng nghe họ, hãy thưa với cộng đoàn…” (x. Mt.18, 15-17)

Để thực hiện lời dạy chỉ bảo huynh đệ của Chúa Giêsu, chúng ta sử dụng kỸ thuẬt chỈ bẢo huynh đỆ Feed-Back: Feed-Back là một kỹ thuật cảm thông và giao tế, có nghĩa chuyên môn là “gửi trả lại” [một người xin kẻ khác nhận xét về mình, người kia cho nhận xét, và người xin trả lời lại về nhận xét đó]. Có thể áp dụng vào Đào tạo và Tự đào tạo, cả về chiều dọc lẫn chiều ngang (x. Phê và tự phê): Người và ta, trên và dưới gặp được nhau, hiểu được nhau trong mọi quan điểm thì mọi việc đều được giải quyết dễ dàng và tốt đẹp.

Khi chỉ bảo huynh đệ, mỗi người chúng ta cố gắng thực hiện sứ mệnh hòa giải của Chúa Giêsu: “Đức Kitô đã hy sinh thân mình để phá đổ bức tường ngăn cách là sự thù ghét, đã huỷ bỏ Luật cũ… Người đã tác tạo đôi bên thành một người mới duy nhất nơi chính bản thân Người. Nhờ thập giá, Người đã làm cho đôi bên được hoà giải với Thiên Chúa trong một thân thể duy nhất… Người đã đến loan Tin Mừng bình an… nhờ Người, cả đôi bên, chúng ta được liên kết trong một Thần Khí duy nhất mà đến cùng Chúa Cha” (Eph 2,14-18)

Cuộc đời mỗi người có bốn ô không đều (x. Hai cái bị ăn mày):

· Phần mù là ô chỉ người khác biết về ta những điều mà ta không biết hay ý thức được.

· Phần che đậy là ô chỉ ta ý thức và biết về mình, còn người khác không biết được.

· Phần hiển nhiên là ô người khác biết về ta, và ta cũng biết và ý thức được.

· Phần vô thức, bí mật và huyền nhiệm là ô người khác không biết về ta, mà ta cũng chẳng ý thức được.

G.IV.2 Cho và Nhận Feed-Back

Khi được ta xin, người khác sẽ nói cho ta biết phần mù của ta, và ta sẽ trả lời lại, giải thích cho họ về điều họ nói, đồng thời nói cho họ biết phần còn che đậy của ta. Như thế, người và ta sẽ dần dần thu hẹp lại phần mù lẫn phần che đậy, và khai mở biên giới của phần hiển nhiên, để rồi cả đôi bên hiểu biết nhau hơn, cảm thông, tín nhiệm, thân nhau, thương nhau hơn và cộng tác tích cực với nhau hơn.

Nhờ cho và nhận Feed-Back, người thêm hiểu ta và ta thêm hiểu mình, cả đôi bên sẽ giúp nhau khám phá và gọi ra ánh sáng được phần nào cõi vô thức, bí mật và huyền nhiệm của cuộc đời, làm ta và bạn ta ngày càng thêm phong phú, dù chỉ thấy và biết một cách mơ hồ, khuy khuyết mà thôi (x. 1Cr 13:12).

Nhưng muốn cho và nhận Feed-Back như thế không phải dễ làm đâu. Nó đòi hỏi một số điều kiện kỹ thuật, về phía người cho cũng như về phía người nhận, mà cần nhất là tinh thần chân thật tin nhau: “Nhìn vào mặt nhau đi và hãy nói với nhau thực tình như chưa bao giờ, còn ngần ngại nhau chi mà không nói với nhau lời tha thiết trong tâm hồn? Bao nhiêu năm mệt nhòa, mình tìm mà tìm không ra, thế nhưng ai ngờ thành bại tùy ta” (Lời trần tình).

G.IV.2a Tám điều kiện của người cho Feed-Back:

1. Đợi cho người nghe phải sẵn sàng đã.

2. Mô tả một hành vi như quay một cuốn phim, không phê phán.

3. Việc xảy ra không lâu, để người đó còn nhớ rõ hầu kiểm chứng.

4. Nói những điều người kia vô tình không ý thức được. Và chỉ nói điều ta thấy, ta nghĩ, chứ không phải điều kẻ khác thấy, nghĩ và nói (Trò chơi “Tam sao thất bổn).

5. Nói những điều có thể sửa đổi được (là hiện tượng chứ không phải là bản chất).

6. Chỉ nói những điều có thể sửa đổi được, nhưng không bắt buộc người kia phải sửa đổi (chỉ có Chúa biết rõ và có thể thay đổi một con người).

7. Nói để giúp ích cho người kia, chứ không phải nói cho hả giận hoặc để trả thù.

8. Nói với sự kính trọng và yêu thương, như chia sẻ một mối ưu tư, một cảm tưởng, một phản ứng tự nhiên.

G.IV.2b Bốn điều kiện của người nhận Feed-Back:

1. Phải xin người khác cho mình Feed-Back.

2. Lắng nghe và kiểm chứng là mình đã hiểu rõ.

3. Đừng mất tinh thần, nếu gặp phải Feed-Back tiêu cực (bị chê, bị chỉ trích).

4. Trả lời cho người cho mình Feed-Back với lòng biết ơn, vì người ta đã vì lòng bác ái mà cho mình nhận xét, nhất là khi feed-back làm cho mình khó chịu.

Một vấn nạn: Người cho nhận xét phải đợi người nhận sẵn sàng đã, nhưng nếu người nhận không xin, mà việc cần góp ý thì phải làm sao? – Theo gương Chúa Giêsu chủ động đi bước trước: “Ông Simon, tôi có điều này muốn nói với ông – Xin Thầy cứ nói”

G.IV.3 Lợi ích của việc cho và nhận Feed-Back:

Bề dưới có thể chủ động xin giờ hẹn để Bề Trên sẵn sàng lắng nghe trình bày và góp ý. Bề Trên cũng có thể hẹn trước để bề dưới chuẩn bị tinh thần, nhất là đối với người dễ phản ứng mạnh. Tất cả cũng chỉ vì bác ái, muốn điều tốt nhất cho nhau. Nếu thực hiện đúng kỹ thuật, việc cho và nhận Feed-Back sẽ đem lại những lợi ích sau đây:

· Cho nhau cơ hội để giải thích rất nhiều hiểu lầm (x. Chuyện Khổng Tử và Nhan Hồi).

· Là cơ hội giúp ta và tha nhân ý thức được những khía cạnh nhân bản và giao tế của mình rõ hơn để thăng tiến.

· Gia tăng sự tin cậy, tình bằng hữu, loại trừ sợ hãi, tạo bầu khí bình an và an toàn vốn là đặc tính thiết yếu của một cộng đoàn giáo dục.

· Nếu thực tâm nghiên cứu và đem ra thực hành phương pháp này, sinh hoạt Nhóm sẽ phong phú và bổ ích: ai cũng thấy mình hiểu anh em hơn và được anh em hiểu mình hơn. Hiểu biết lẫn nhau là chìa khóa của tất cả! Hiểu nhau hơn, thông cảm nhau hơn, thương nhau hơn và cộng tác với nhau chân thành hơn, còn gì đáng mong ước cho bằng! Thật là phấn khởi và hy vọng, dù có tế nhị khó khăn và đòi hỏi nhiều bác ái và can đảm.

· Quả thế, công cuộc này xây dựng tình bạn chân thành, để giúp nhau trong cuộc sống đa nguyên đa diện hôm nay, và vượt thắng những khó khăn trong đời sống hằng ngày (x. Chuyện Quản Trọng và Bảo Thúc Nha).

· Đối với bạn, biết nhau không phải để thắng hay thua, nhưng để hiểu nhau, thương nhau, nâng đỡ nhau cùng tiến bước trên con đường làm người, làm tín hữu và làm người tông đồ của Chúa.

· Chúng ta là người, không phải là Chúa, để tự nhiên có thể biết được nhau. Do đó, chúng ta cần cho nhau một số thông tin cần thiết, để vượt quá cái giới hạn “biết người biết mặt mà không biết lòng” hầu có thể cảm thông nhau đúng với từng hoàn cảnh cụ thể và cá biệt của nhau, vì chính cuộc sống thực mỗi ngày mạc khải đúng bản chất con người của chúng ta, chứ không phải các hiện tượng bên ngoài.

G.IV. 4 Chú ý trong sinh hoạt nhóm:

· Hễ A xin và B cho Feed-Back, thì A phải trả lời B, và hai người sẽ đối thoại với nhau, dưới sự chứng kiến của Nhóm, cho đến khi thật hiểu nhau, rồi người khác mới tiếp tục cho A Feed-Back mới.

· Khi A và B đối thoại với nhau thì Nhóm lắng nghe và giúp kiểm chứng cách khách quan đúng sự thật và công bằng.

· Khi cho Feed-Back thì đừng nói cái người khác thấy hay nghĩ, mà chỉ nói cái chính ta thấy hay nghĩ mà thôi.

· Hiện có những nhóm liên kết với nhau bởi động lực thiêng liêng, nhằm giúp nhau bảo vệ và thăng tiến đời sống ơn gọi, chẳng hạn qua chuỗi sống Mân Côi, mỗi người đọc một chục kinh hằng ngày cầu nguyện cho nhau và cam kết nói với nhau bất cứ điều gì với mục đích trên. Thật là đáng khâm phục và bắt chước.

· Chúng ta có thể mong đợi hơn thế nữa, vì việc dấn thân theo Chúa thực sự đưa chúng ta vào một gia đình thiêng liêng, một cộng đoàn giáo dục thấm đậm tình người và tình Chúa, vừa nhân loại vừa thiêng liêng, trong mối tương quan của phụ tử và huynh đệ. Chúng ta tìm mọi cách thích hợp để bảo vệ, phát triển và thăng tiến nó.

· Thái độ khiêm nhu và nhân ái, cảm thông và nâng đỡ của Chúa Giêsu đã khiến muôn dân đặt niềm hy vọng vào Ngài. Vậy đâu là thái độ ứng xử của chúng ta với anh em mình?

· Dĩ nhiên chúng ta muốn bắt chước Chúa Giêsu, Đấng đã luôn cảm thông nâng đỡ và tha thứ lầm lỗi, tin tưởng vào tương lai được biến đổi tốt đẹp của người lầm lỗi: Mỗi vị thánh đều có một quá khứ, và mỗi tội nhân đều có một tương lai.

· Chúng ta được mời gọi noi gương Chúa Giêsu, “không bẻ gãy cây sậy đã rạp xuống, không dập tắt tim đèn còn leo lét khói”; không nhắc lại lầm lỗi quá khứ của anh em, vì như thế là dập tắt niềm vui được tha thứ và biến đổi của anh em. Trái lại luôn khích lệ, cổ vũ giúp anh em lật sang một trang mới của cuộc đời, với hy vọng và tin yêu.

G.IV.5 Áp dụng vào việc ứng sinh viết nhận xét về nhau

· Được thúc đẩy bởi ý muốn có một sự cộng tác tích cực trong việc đào tạo ứng sinh tốt, một số nhà đào tạo muốn ứng sinh viết nhận xét về nhau.

· Ý hướng thật tốt, nhưng có thể có phản ứng và hậu quả không như mong muốn. Việc này vừa giảm nhẹ trách nhiệm của những người có trách nhiệm, ơn đoàn sủng và nghiệp vụ đào tạo và đánh giá, vừa trao trọng trách quá lớn cho ứng sinh vốn không có trách nhiệm, ơn đoàn sủng và nghiệp vụ đào tạo, chưa đủ trưởng thành để phán đoán trách nhiệm lương tâm khi nhận xét theo cảm tính thiên vị hay đầu óc phe nhóm, tô bồi cho người mình ưa và trù dập kẻ mình ghét.

· Nên coi việc này chỉ có giá trị tham khảo về một tình huống mà thôi. Đúng vậy, về những điều tiêu cực, chỉ nên nói đến một tình trạng, một sự kiện, không nêu đích danh người nào, để người có trách nhiệm nhắc nhở chung, bản thân ai có thì tự mình lo sửa chữa cho tốt.

· Chính người có trách nhiệm sẽ đích thân kiểm tra bằng một cuộc đồng hành sâu sát, vì thực tế cuộc sống mỗi ngày sẽ mạc khải đúng chân tướng con người: người ta chỉ có thể giấu giếm một thời gian thôi, chứ chẳng ai che đậy suốt cả đời được đâu!

· Trước hết, nên nhớ ai cũng có cái tốt và cái xấu, hãy nêu những điều tích cực để giúp phát triển cái tốt và đẩy lui cái xấu, như lời khuyên của Baden Powell đối với 5% tốt và 95% xấu nơi một con người.

· Còn nếu thấy anh em có lỗi lầm cụ thể nào, trước hết hãy cầu nguyện cho mình và cho anh em, rồi đến nói trực tiếp với người anh em như Chúa dạy, nếu anh em quyết tâm sửa thì thôi, bỏ qua, không nói tới với ai nữa. Nếu người anh em chưa sửa được, hãy nhẫn nại cầu nguyện và nhắc nhở, vì cái gì cũng cần có thời gian.

· Nếu gặp một lỗi nghiêm trọng mà người anh em thiếu tinh thần phục thiện và ngoan cố thì để tránh thiệt hại lớn cho cộng đoàn lẫn đương sự, sau khi đã trực tiếp làm mọi cách có thể, và nhất là cầu nguyện, thì hãy theo lương tâm, can đảm đích thân kín đáo trình bày với người có thẩm quyền và sẵn sàng chịu trách nhiệm kiểm chứng về điều mình nói, cả khi có mặt chính đương sự.

· Dĩ nhiên người có trách nhiệm sẽ xử sự khôn ngoan và kín đáo, không làm cho các đương sự phải mặc cảm, tổn thương thanh danh, lại nguy hiểm hơn là ác cảm thù hằn nhau: “Xấu quá hóa giận, giận quá hóa thù,” và họ sẽ đóng lòng lại, không dám nói gì với mình nữa. Hơn nữa cũng phải chắt lọc điều mình nghe và các hậu ý của người đến nói.

· Các anh em có trách nhiệm đoàn, nhóm cũng nên vận dụng lời thánh Augustinô: Cho anh em, tôi là tổ trưởng; nhưng với anh em, tôi cũng chỉ là một ứng sinh; đừng làm hay nói chi gây thiệt hại và đau khổ, đưa lại những phản hồi bất lợi, từ những người ngoài cuộc: “Thấy sự việc xảy ra như vậy, các đồng bạn của y buồn lắm, mới đi trình bày với tôn chủ đầu đuôi câu chuyện” (Mt 18,31).

· Dù Giuđa toan tính phản nộp Ngài, Chúa Giêsu vẫn luôn kín đáo nhắc khéo Giuđa nhiều lần (một người trong các con sẽ nộp thầy, các ngươi không sạch hết cả đâu, việc gì con tính làm hãy làm mau đi, con dùng cái hôn để nộp Con Người ư?…). Hãy nhẫn nại chờ đợi, và mở cho người lầm lỗi một cơ hội để đứng lên (Mt 9,9-13).

· Trong mọi tình huống, nên “lắng nghe để hiểu, và nhìn lại để thương.” Nhớ dụ ngôn con chiên lạc của Chúa Giêsu (Lc 15,4-7; Mt 18,12-4): “Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất? Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai. Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: ‘Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó.’ Vậy, tôi nói cho các ông hay: trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn.”

G.IV.5 LÒNG CẢM THÔNG ĐỐI VỚI LẦM LỖI CỦA NGƯỜI KHÁC

Chúng ta đừng quên tiến trình chỉ bảo huynh đệ để sửa chữa lầm lỗi của người khác mà Chúa Giêsu dạy trong Phúc âm (Mt.18,15-17). Một người có thể có hai thái độ hành xử: hoặc là phòng bệnh, hoặc là chữa bệnh.

Người cảm thông phòng bệnh đi bước trước, ngăn ngừa những ảnh hưởng tác hại từ bên ngoài, hay dập tắt ngay từ trứng nước cái mầm bệnh từ bên trong, để lỗi lầm không thể xảy ra. Như người làm nông năng thăm vườn cây, khi phát hiện cây bị sâu bệnh liền phun thuốc diệt sâu bệnh hại cây, người cảm thông đón trước khuyến cáo ngay lỗi lầm có thể, ngăn ngừa các ảnh hưởng và nguyên nhân từ bên ngoài, hay những yếu đuối từ bên trong thân phận con người.

Người cảm thông tin tưởng vào sự biến đổi tốt đẹp trong tương lai, cho người phạm lỗi biết lỗi, lắng nghe lời giải thích biện hộ, kết luận xác định đúng lỗi lầm, cho đương sự cơ hội và thời gian sửa chữa, và nhẫn nại giúp đương sự tập đức tính ngược lại, hy vọng vào kết quả sẽ có trong tương lai, như dụ ngôn này của Chúa Giêsu:

“Người kia có một cây vả trồng trong vườn nho mình. Bác ta ra cây tìm trái mà không thấy, nên bảo người làm vườn: ‘Anh coi, đã ba năm nay tôi ra cây vả này tìm trái, mà không thấy. Vậy anh chặt nó đi, để làm gì cho hại đất?’ Nhưng người làm vườn đáp: ‘Thưa ông, xin cứ để nó lại năm nay nữa. Tôi sẽ vun xới chung quanh, và bón phân cho nó. May ra sang năm nó có trái, nếu không thì ông sẽ chặt nó đi” (Lk 13: 6-9)

Người thiếu cảm thông mới khám phá thấy lỗi lầm đã có biện pháp ngay, vì óc cầu toàn đòi hỏi và đốt giai đoạn. Hoặc khá hơn, sẽ chờ đợi lỗi lầm trở nên rõ ràng để có biện pháp, nhất là khi người có lỗi che đậy, giấu giếm vì một lý do nào đó. Cũng tùy thái độ ngoan cố và thiếu tinh thần phục thiện của người lầm lỗi, người thiếu cảm thông thường âm thầm theo dõi (hoặc tệ hại hơn là đặt người theo dõi báo cáo), có khi còn “gài bẩy” cho mắc phải để đương sự không thể cãi lại, chữa mình hay chối cãi được nữa.

Chớ gì tiến trình chỉ bảo huynh đệ của Chúa Giêsu được thực thi. Cha ông chúng ta cũng từng quan niệm: “Nhân thùy vô quá, hữu quá tắc cãi, thị vị vô quá” (đã là người thì không ai là không có lỗi, có lỗi thì sửa lỗi, và như vậy sẽ không còn lỗi nữa). Tuy nhiên, để thực hiện lòng nhân ái ấy, chúng ta cần khéo léo sử dụng kỹ thuật chỉ bảo huynh đệ “feed-back”, áp dụng vào đào tạo và tự đào tạo, cả về chiều dọc lẫn chiều ngang: Người và ta, trên và dưới gặp được nhau, hiểu được nhau trong mọi quan điểm thì mọi việc đều được giải quyết dễ dàng và tốt đẹp.

Hãy cho người biết lỗi, cho họ cơ hội sửa lỗi, và cho họ thời gian nữa, vì không ai một sớm một chiều mà sửa ngay được. Tin tưởng vào sự biến đổi tốt đẹp trong tương lai, với ơn Chúa và sự cố gắng của mỗi người.

Xin Ngài nhớ: dẫu mong manh phận

Đoàn con đây cũng vẫn là con,

Nhậm lời chúng tử nỉ non

Danh Ngài nhân hậu tiếng đồn muôn năm.

Xin tha thứ lỗi lầm trót phạm

Giúp chúng con can đảm vững bền,

Vâng theo thánh ý ngày đêm

Bây giờ mãi mãi trọn niềm hiếu trung.

Thánh Thi Kinh Sáng CN I Mùa Chay

Hồn con thương để xa rời,

Những niềm ân oán mưu đời ghét ganh;

Bao nhiêu vị kỷ thấp hèn,

Tay Ngài giải cứu vững bền con đi.

Ngàn năm con vẫn kiên trì,

Yêu người yêu Chúa ngại gì nước non,

Dầu cho sông cạn núi mòn,

Tình con sau trước vẫn còn thiết tha.

Thánh Thi Kinh Sách Thứ Năm Tuần I TN

Cuộc sống hiên ngang đầy can đảm,

Mưu thần chước qủy biết phòng xa,

Khổ đau không để chồn chân bước,

Nẻo chính hằng theo bỏ lối tà.

Không ngừng bảo vệ luôn gìn giữ,

Thể xác tâm linh mãi vẹn toàn,

Đốt lửa cháy bừng tin cậy mến,

Tiểu trừ tà ý khỏi tâm can…

Thánh Thi Kinh Sáng Thứ Hai Tuần I TN

Cho con được tràn đầy thanh thản,

Đổi mới con xán lạn chói lòa,

Chẳng chi xảo trá điêu ngoa,

Sạch từ vạn ý sạch ra muôn lời.

Ngày sáu khắc êm trôi lặng lẽ,

Chúa ngăn ngừa chẳng để phút giây,

Tay chân miệng lưỡi hình hài,

Buông theo tội lỗi mà đầy bợn nhơ.

Chúa theo dõi đường tơ kẻ tóc,

Nhìn xem ta thấu suốt ngọn nguồn,

Công to việc nhỏ ngàn muôn,

Từ bình minh tới hoàng hôn rõ ràng.

Thánh Thi Kinh Sáng Thứ Năm Tuần I TN

Ước mong đời sống có tình,

Sầu thương vương nhẹ như hình mây bay, Rồi ra phải trái có ngày,

Ai đời đi trả nợ nần chẳng vay,

Phù sinh một phút trắng tay,

Hơn nhau một chút dở hay ở đời,

Xét đoán là việc Chúa Trời,

Ai mà kết án những người anh em,

Mặt mình cũng có lọ lem,

Tiên vàn lo rửa pha dèm làm chi?

Hận thù hãy mau lấp đi,

Yêu thương xây dựng khắc ghi trí lòng,

Sống sao đáng được khoan hồng,

Trong ngày thẩm phán chí công sau cùng.

—————————————————–

[1] x. Micae-Phaolô Trần Minh Huy, Đào tạo và tự đào tạo thiêng liêng của các linh mục tương lai trong bối cảnh Việt Nam ngày nay, ĐCV. Huế, 2006.

[2] Trích Tin Việt Nam ngày 7/8/2008.

[3] Quan điểm của HĐGMVN về một số vấn đề trong hoàn cảnh hiện nay, I, 2&3, làm tại Xuân Lộc ngày 25/9/2008.

[4] Bộ Tu Sĩ, Huấn thị Những chỉ dẫn về việc huấn luyện trong các Hội Dòng, 2/2/1990 số 88-89.

[5] Micae-Phaolô Trần Minh Huy, Đào tạo và tự đào tạo thiêng liêng của các Linh mục tương lai trong bối cảnh Việt Nam ngày nay, 2006, tr. 51-52.

[6] Xin xem Ephesô 2,1-10.

[7] Con cóc đẻ trứng dưới nước, nở ra nòng nọc. Khi nòng nọc biến thái, đứt đuôi thành cóc thì lên sống trên khô. Cóc không xuống sống dưới nước, nếu lỡ bị rơi hay bị ném xuống nước, cóc sẽ vội vả tìm cách lên khô. Sự dứt khoát đoạn tuyệt với các tình huống tình cũ cũng phải như thế.

[8] Xem CWNews 18.03.2010: Một giới chức Vatican nhắc nhở các độc giả tờ Osservatore Romano: Nếu một linh mục thú nhận lạm dụng các trẻ em trong một lần đến bí tích thống hối, thì cha giải tội không được tố cáo vụ lạm dụng ấy cho các thẩm quyền hợp pháp. ĐGM Gianfranco Girotti, một giới chức của Toà Ân Giải, nhấn mạnh rằng ấn toà trong là tuyệt đối. Cha giải tội không được làm bất cứ điều gì dựa trên những lời thú tội của hối nhân hoặc tiết lộ những tội đã được xưng ra cho bất kỳ người nào. Ngài nói: “Việc duy nhất toà giải tội có thể làm là xá tội”. Lời chỉ trích các giám mục Công giáo về việc xử lý và giải quyết các linh mục lạm dụng tập trung vào những trường hợp trong đó những phát hiện lạm dụng là ở ngoài toà giải tội – hoặc qua những khiếu nại từ các nạn nhân hoặc qua những lời thú nhận do các linh mục trong những phỏng vấn hành chính.

[9] Thư của Đức GH Bênêđíctô XVI gửi Người Công Giáo Ái Nhĩ Lan ngày 20/3/2010, số 4 – VietCatholic News (21 Mar 2010 23:58

[10] Vaticanô II, Đức Ái hoàn hảo, 28/10/1965, số 12.

[11] JP II, Pastores Dabo Vobis, 25/3/1992, số 29.

[12] Vaticanô II, Optatm Totius, 28/10/1965, số 9-11.

[13] Vaticanô II, Presbyterorum Ordinis, 7/12/1965, số 15-16.

[14] Bộ Giáo dục Công giáo, Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis, 6/1/1970, số 48.

[15] Vaticanô II, Vui Mừng và Hy Vọng, 7/12/1965, số 1.

[16] Phụ Lục: Thủ dâm trẻ nít và tuổi dậy thì.

[17] John Paul II, Pastores Dabo Vobis, số 69.

[18] John Paul II, Pastores Dabo Vobis, số 82.

[19] NCCB, The Program of Priestly Formation, p.31.

[20] John Paul II, Pastores Dabo Vobis, số 60 và 66.

[21] Đào Tạo Linh Mục: Nguồn Canh Tân Giáo Hội, ĐCV Huế (1995), trang 198-199.

[22] NCCB, the Program of Priestly Formation … ibid., p.33

[23] Matthew 18, 15-17; Luke 17,3; John 8,17; 1 Timothy 5,19; 2 Corinthians 13,1

(Nguồn: XBVN)

Muc Lục

_______________________________

About The Author

Priest of Vinh Dioscese

Number of Entries : 1659

© TRANG THÔNG TIN CHÍNH THỨC CỦA ĐẠI CHỦNG VIỆN VINH THANH

Scroll to top