You Are Here: Home » TÍN LÝ » Ngoài Giáo Hội Không Có Ơn Cứu Rỗi

Ngoài Giáo Hội Không Có Ơn Cứu Rỗi

cuudoChâm ngôn này được biết đến rất nhiều trong và ngoài Giáo hội, nguyên gốc Latin “extra ecclesiam nulla salus“. Câu nói này có thể là đề tài bị hiểu lầm nhiều nhất trong lịch sử giảng dạy của Giáo hội. Với nhiều người Công Giáo chân chính, họ nghe nhưng không hiểu thấu đáo câu nói từ đâu đến, trong hoàn cảnh nào, ý nghĩa ra sao v.v… Với những người chống đối Giáo hội, họ lợi dụng câu nói đã được ghi lại rất nhiều trong các giáo huấn, bài giảng, bài viết v.v… của các đấng có thẩm quyền trong lịch sử để lên án tính độc đoán của Giáo hội và đưa đến kết luận là Giáo hội đã phạm sai lầm.

Ngay cả với giáo dân ngày nay dù đã có giáo dục và được tiếp cận với những lời dạy của Giáo hội, câu nói “ngoài Giáo hội không có ơn cứu rỗi” vẫn còn tạo nên nhiều ngạc nhiên và thắc mắc.

Vậy sự thật đằng sau câu nói này là gì? Ðối tượng câu nói là ai? Trong hoàn cảnh nào? Và Giáo hội ngày nay có còn giảng dạy như thế nữa không?

Vì tầm quan trọng của tín lý này, tôi sẽ cố gắng trình bày trong hai bài viết. Bài thứ nhất nói đến tính lịch sử và những tiến triển ý nghĩa của câu nói này trong Giáo hội từ thời sơ khai cho đến trước công đồng Vatican II (giữa thế kỷ 20). Bài thứ hai nói đến những giáo huấn chính thức hiện tại của Giáo hội cắt nghĩa tín lý này.

Thời Kỳ Các Tông Ðồ

Ðề tài Ơn Cứu Rỗi chắc chắn là trọng tâm của mọi giảng thuyết trong Tân Ước. Ðọc Tân Ước, nhất là thư thánh Phaolô và tin mừng Gioan, người đọc có ấn tượng mạnh mẽ là mọi câu chuyện và những căn dặn trong các thư tông đồ đều nhằm kêu gọi mọi người tin vào Ðức Giêsu Kitô, Ðấng duy nhất có thể đem lại ơn cứu rỗi. Ðộc giả bốn Tin Mừng bị thách thức là liệu có trở thành môn đệ Chúa Giêsu, tin vào Ngài để được cứu rỗi hay không [1].

Trước hết, ta cùng tìm hiểu Ơn Cứu Rỗi qua những lời Chúa Giêsu dạy.

Trước khi về trời Chúa Giêsu truyền lệnh: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án” (Mk 16:15-16). Khi đi rao giảng Tin Mừng, các môn đệ biết rằng họ đang bước vào một thế giới của nhiều thần, nhiều giáo phái, trong đó có chính bà con, anh chị em họ là những người theo Do Thái giáo. Nhưng những lời họ rao giảng mang tính biệt lập, nghĩa là họ dạy rằng Ơn Cứu Rỗi dường như chỉ dành riêng cho một nhóm những người tin vào Ðức Giêsu Kitô mà thôi: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa…..Ai tin vào người Con thì được sự sống đời đời; còn kẻ nào không chịu tin vào người Con thì không được sự sống” (Jn 3:16-18, 36; xem thêm Jn 12:44-50). Nơi khác Chúa Giêsu nói: “Ðể ai nấy đều tôn kính người Con như tôn kính Chúa Cha. Kẻ nào không tôn kính người Con, thì cũng không tôn kính Chúa Cha, Ðấng đã sai người Con” (Jn 5:23).

Thánh Gioan làm sáng tỏ chân lý Chúa Giêsu là Ðấng Cứu Thế duy nhất: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Jn 14:6). Và “Ðức Giêsu bảo họ: “Giả như Thiên Chúa là Cha các ông, hẳn các ông phải yêu mến tôi, vì tôi phát xuất từ Thiên Chúa và bởi Thiên Chúa mà đến. Thật thế, tôi không tự mình mà đến, nhưng chính Người đã sai tôi….Ai thuộc về Thiên Chúa, thì nghe lời Thiên Chúa nói; còn các ông, các ông không chịu nghe, vì các ông không thuộc về Thiên Chúa” (Jn 8:42, 47).

Trong bữa ăn sau cùng, Chúa Giêsu nói với nhóm Mười Hai: “Mà sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Ðấng Cha đã sai đến, là Giê-su Ki-toâ” (Jn 17:3). Và Gioan kết thúc tin mừng: “Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Ðức Giê-su là Ðấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người” (Jn 20:31).

Với những trích đoạn tin mừng Gioan, chúng ta thấy rõ rằng thánh nhân muốn khẳng định Ơn Cứu Rỗi là nhận biết và tin vào Ðức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa.

Còn các tông đồ thì sao? Trong ngày Ngũ Tuần, khi những người nghe Phêrô đến hỏi ông là họ phải làm gì, ông trả lời là họ cần phải sám hối và chịu phép rửa (x. Acts 2:37-40) [2].  Một dịp khác, khi Phêrô và Gioan bị tra hỏi trước mặt Sanhedrin về việc ông dùng quyền năng nào để rao giảng và làm phép lạ, ông đáp: “Ngoài Người [Giêsu Kitô] ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu đoä” (Acts 4:12).

Với Phaolô, tin vào Tin Mừng đem lại Ơn Cứu Rỗi: “Tin Mừng là sức mạnh Thiên Chúa dùng để cứu độ bất cứ ai có lòng tin” (Rom 1:16). Trong thư gởi Timôthê, Phaolô khẳng định Thiên Chúa muốn cứu chuộc hết mọi người (x. 1 Tim 2:4) và Ðức Giêsu Kitô là Ðấng Cứu Chuộc duy nhất cho mọi người, mọi nơi, mọi thời (x. 1 Tim 2:5) [3].  Thánh Phaolô lý luận rằng dân ngoại cũng có kiến thức về luật của Thiên Chúa khi quan sát vạn vật, tự nhiên trong vũ trụ (x. Rom 1:19; 2:14-15), nhưng luật không là phương tiện đem lại Ơn Cứu Rỗi (x. Rom 3: 19-20). Ơn Cứu Rỗi chỉ được mặc khải qua Tin Mừng và chỉ được đón nhận qua đức tin trong Ðức Kitô mà thôi (x. Rom 3:21-24). Vì thế, thánh Phaolô nói: “Nếu miệng bạn tuyên xưng Ðức Giê-su là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ” (x. Rom 10:9).  Nhưng để được cứu chuộc, con người không chỉ tin vào Ðức Giêsu kitô mà thôi, mà còn phải lãnh nhận phép rửa (dấu hiệu trở nên thành viên Giáo hội), vì qua phép rửa, Kitô hữu cùng chết và sống lại với Ðức Kitô (x. Rom 6:3-4). Và qua phép rửa, mọi Kitô hữu thuộc về “một thân thể, một Thần Khí… một niềm hy vọng… một Chúa, một niềm tin, một phép rửa.. một Thiên Chúa, Cha của mọi người” (Eph 4:4-6). Nói tóm lại, Phaolô đã rất rõ ràng khi giảng dạy: Ơn Cứu Rỗi là tin vào Ðức Giêsu Kitô và được đánh dấu bằng bí tích thanh tẩy.

Vậy nếu đây là điều kiện cho con người được lãnh nhận Ơn Cứu Rỗi, những người không được nghe Tin Mừng, không biết đến Ðức Giêsu Kitô thì sao? Thay vì trả lời số phận những người đó thế nào, Phaolô dùng cơ hội này để vạch ra một chiến lực cần thiết cho ý định cứu chuộc mọi người của Thiên Chúa (x. 1 Tim 2:4), đó là:  “Tất cả những ai kêu cầu danh Ðức Chúa sẽ được cứu thoát. Thế nhưng làm sao họ kêu cầu Ðấng họ không tin? Làm sao họ tin Ðấng họ không được nghe? Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng? Làm sao mà rao giảng, nếu không được sai đi?” (Rom 10:13-15). Phaolô muốn nói rằng: để mọi người nhận biết Tin Mừng và Ðức Giêsu Kitô thì cần phải có những sứ giả được sai đi để rao giảng.

Tóm lại, thời kỳ các tông đồ đi rao giảng, sứ điệp là (a) Thiên Chúa yêu thương và muốn mọi người được cứu rỗi (1 Tim 2:4), (b) và để được cứu rỗi thì tin vào Tin Mừng, tin vào Ðức Giêsu Kitô, và (c) nhận phép rửa để trở nên thành viên của Giáo hội.

Thời Kỳ Các Giáo Phụ

Ðọc Tân Ước, chúng ta nghe nói điều kiện để con người lãnh nhận Ơn Cứu Rỗi, nhưng không nghe nói đến sự sống đời đời cho những ai không được nghe đến Tin Mừng, nhất là sau khi Chúa Giêsu đã xuống thế, chết và sống lại. Vì thế, câu hỏi cần được trả lời là số phận của những người không có cơ hội nghe Tin Mừng, không nhận biết Ðức Giêsu Kitô và không nhận phép rửa sẽ ra sao?

Với những người sống trước thời kỳ Chúa Giêsu, các giáo phụ (nhất là những Biện Hộ Viên – Apologetics) có hai giải thích. Thứ nhất, với những tiên tri hay những người mong đợi Ðức Giêsu Kitô, họ được Ơn Cứu Rỗi nhờ tin vào ngày sẽ đến của Ðấng Mêsia, và sống theo luật Thiên Chúa qua lời dạy của Môsê. Thứ hai, với những dân ngoại sống lành thánh (như các triết gia Hy lạp, Ai cập v.v…), các giáo phụ (Justin Martyr và Clement thành Alexandria) trích tin mừng Gioan nói đến tương quan giữa Ngôi Lời và Ơn Cứu Rỗi, ngụ ý, Ngôi Lời(Logos) “đã có từ lúc khởi đầu… vẫn hướng về Thiên Chúa, và là Thiên Chúa.. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành” (Jn 1:1-3) Chính trong Ngôi Lời và qua Ngôi Lời mà Thiên Chúa thi hành ý định cứu chuộc mọi người, mọi nơi, mọi thời [4].  Vì thế, những triết gia lành thánh (như Socrates, Heraclitus…) sống ngay lành theo hướng dẫn của Ngôi Lời, tức theo sự khôn ngoan mà Thiên Chúa ban cho họ, thì họ cũng nhận được Ơn Cứu Rỗi. Irenaeus, Clement of Alexandria và Origen còn cho là Logos(nguồn Khôn Ngoan của Thiên Chúa)  cũng được ban cho mọi người, cả Hy lạp và man rợ, để họ sống theo thánh ý Thiên Chúa.

Với những người sống sau thời kỳ Chúa Giêsu, các giáo phụ dựa theo lời dạy thánh Phaolô phán quyết rằng họ cần phải tin vào Ðức Giêsu Kitô và chịu phép rửa (bí tích rửa tội). Khi rao giảng ở Athens (Hy lạp), Phaolô nói rằng trong quá khứ, Thiên Chúa đã bỏ qua những quên sót đối với dân ngoại, nhưng Phaolô không xác quyết là những người này được cứu rỗi hay không. Với tư tưởng đó, trong thư gởi tín hữu Roma, Phaolô nói rằng dân ngoại nhận ra Thiên Chúa qua thế giới tự nhiên (x. Rom 1:19), nhưng khi họ phạm tội (sống hư hèn, vô luân hay thờ tà thần) (x. Rom 1:18-32), thì cả Do Thái và dân ngoại đều cần phải tin vào Chúa Giêsu, Ðấng đã chết để xoá tội trần gian (x. Rom 3:21-26).

Và Kitô giáo mau chóng truyền bá rằng: chỉ có Kitô giáo mới đem lại Ơn Cứu Rỗi, và không một tôn giáo nào khác.

Ngoài Giáo Hội Không Có Ơn Cứu Rỗi

Câu nói “Ngoài Giáo Hội không có ơn cứu rỗi” (extra ecclesiam nulla salus) rất quen thuộc nhưng cũng xa lạ với nhiều người. Phần lớn sách vở đều gán cho thánh Cyprian là tác giả câu châm ngôn này, nhưng chính thánh Ignatius thành Antiokia mới được coi là tác giả của tư tưởng câu nói này [5].

Ignatius (chừng 35-108?) để lại một gia sản vô cùng quý báu khi Ngài nhấn mạnh tính cần thiết cấp bách của sự hợp nhất trong Giáo Hội lúc bấy giờ, qua đó Kitô hữu phải hiệp thông với giám mục của mình như một điều kiện để họ hiệp thông với Thiên Chúa trong Ðức Giêsu Kitô. Trả lời cho những người gây chia rẽ (ly khai), Ngài viết: “Anh chị em đừng để bị đánh lừa: nếu ai theo những người ly khai, người đó không được thừa hưởng triều đại Thiên Chúa” [6].  Ngài nói rõ rằng chính việc tự nguyện ly khai khỏi Giáo Hội là lý do để những người này không được lãnh nhận Ơn Cứu Rỗi.

Thánh Irenaeus (chừng 130?-202) cũng tiếp tục tư tưởng này khi nói đến nhóm Linh Tri (Gnostic), nhóm người cho rằng mình hơn những người khác về kiến thức hiểu biết mầu nhiệm tự nhiên và nước Trời, và vì thế họ cho rằng họ biết hơn cả Giáo hội. Chính những hiểu biết này khiến họ tách mình khỏi Giáo hội. Thánh Irenaeus cảnh cáo: “Giáo hội ở đâu, thì Thần Khí Thiên Chúa ở đó, và đâu có Thần Khí Thiên Chúa thì đó là Giáo hội” [7].  Một lần nữa, tách mình khỏi Giáo Hội là lý do bị loại khỏi Ơn Cứu Rỗi.

Lý luận Origen làm cho cách hiểu này thêm phức tạp. Origen (184-254) ví Giáo hội như một mái nhà, mà những ai không ở trong đó thì không có được cứu rỗi: “Vậy, đừng để ai thuyết phục, đừng để ai đánh lừa anh chị em: ngoài mái nhà, tức là, ngoài Giáo Hội không ai có ơn cứu rỗi” (extra hanc domum, id est extra ecclesiam, nemo salvatur) [8].

Nhưng châm ngôn “ngoài Giáo Hội không có ơn cứu rỗi” được dành cho thánh Cyprian (chừng 200?-258), giám mục Carthage (tử vì đạo năm 258) vì câu này xuất hiện thường xuyên trong các bài viết của Ngài khi nói đến những người ly khai hay chống lại giám mục của họ (không thấy Ngài nói đến những người theo tà thần hay ngoại giáo, mà chỉ nhắm đến những người ly khai và lạc giáo mà thôi). Khi nói với nhóm bị đe doạ phạt tuyệt thông với Giáo hội, Ngài viết: “Ðừng để cho chúng nghĩ rằng con đường ơn cứu độ là dành cho chúng, nếu chúng từ chối vâng phục giám mục hay linh mục… Tự đắc và láo xược sẽ bị giết chết bởi lưỡi gươm Thánh Thần, khi chúng bị loại khỏi Giáo hội. Vì chúng không thể sống bên ngoài, vì chỉ có một nhà của Thiên Chúa, và ngoài Giáo hội không ai có được ơn cứu rỗi” [9].  Với những người theo lạc giáo, Cyprian nói rằng ngay cả họ chịu chết vì đạo cũng không cứu được mình vì “ngoài Giáo hội không có ơn cứu rỗi” [10]. Với những người ly khai Giáo hội, Cyprian cũng lặp lại: “Ngay cả khi chúng chịu đựng tử vì đạo vì tuyên xưng Danh [Giêsu Kitô], tội của những người này không thể bị xoá đi nhờ máu họ; tội ly khai nghiêm trọng không thể tha thứ này không được gội sạch ngay cả máu tử đạo [của họ]” [11]. Một nơi khác, khi nói đến những ly khai và lạc giáo là tự tách mình ra khỏi sự hiệp thông với Chúa Giêsu Kitô, Cyprian viết: “Anh chị em không thể có Thiên Chúa là Cha nếu anh chị em không có Giáo hội là mẹ mình” [12].

Ðến lúc này (đầu thế kỷ thứ tư), tất cả những giáo phụ Ignatius, Irenaeus, Origen và Cyprian đều có điểm giống nhau là những cảnh cáo họ đưa ra nhắm vào những người đã là Kitô hữu nhưng theo nhóm ly khai hay lạc giáo, mà không thấy các Ngài nhắm tới những người Do Thái hay dân ngoại.

Sau khi Kitô giáo được hợp thức hoá bởi đại đế Constantine năm 313, hoàng đế Theodosius I (cai trị 379-395) còn tuyên bố Kitô giáo là quốc giáo, và nghiêm cấm thờ phượng các nghi thức tà thần hay tôn giáo khác. Với dụng ý lúc này Kitô giáo đã được rao giảng khắp mọi nơi (dĩ nhiên là trong đế quốc Roma, và theo cách hiểu thời bấy giờ vì họ chưa biết đến châu Mỹ, châu Úc…). Câu nói “ngoài Giáo Hội không có ơn cứu rỗi” được áp dụng cho những ai từ chối gia nhập Kitô giáo, hay đã là Kitô hữu mà tách mình khỏi Giáo hội.

Thánh Ambrose (chừng 340-397), giám mục Milan, đã viết: “nếu một ai không tin vào Ðức Kitô người ấy lừa gạt chính mình về những lợi ích chung … Vì lòng xót thương của Chúa đã được Giáo hội loan truyền đến khắp mọi nước; đức tin đã được loan truyền đến mọi người” [13]  Thánh Gregory thành Nyssa và thánh Gioan Kim Khẩu cũng đồng tình như vậy, nghĩa là những ai không gia nhập Giáo hội Công giáo mà chọn đứng ngoài Giáo Hội là lỗi của họ. Với người Do thái thì càng nặng nề hơn vì họ từ chối Chúa Giêsu, và nếu họ cứ tiếp tục từ chối Chúa Giêsu, họ sẽ bị lên án [14].

Tóm lại, thần học các giáo phụ cho đến thế kỷ thứ tư có ba điểm chính: Một là các Ngài tin rằng Ơn Cứu Rỗi đến cả với người Do Thái và dân ngoại sống trước thời kỳ Chúa Giêsu. Hai là đến cuối thế kỷ thứ ba tất cả những giáo phụ Ignatius, Irenaeus, Origen và Cyprian đều có điểm giống nhau là những cảnh cáo họ đưa ra nhắm vào những người đã là Kitô hữu nhưng theo nhóm ly khai hay lạc giáo, mà không thấy các Ngài nhắm tới những người Do Thái hay dân ngoại. Ba là từ thế kỷ thứ tư trở đi, câu nói “ngoài Giáo Hội không có ơn cứu rỗi” bắt đầu được áp dụng cho những người ngoại giáo và người Do thái không chấp nhận gia nhập Kitô giáo.

Lm. Matthêu Nguyễn Khắc Hy, S.S.

 —————

[1]. Trong bốn tin mừng, tin mừng Gioan là sách viết sau cùng, và nhấn mạnh đến tính đặc thù rằng cần phải tin Ðức Giêsu là Ðấng Kitô, con Thiên Chúa thì mới được hưởng ơn cứu rỗi. Tin Mừng Matthêu và Luca dù có cùng một tư tướng, nhưng cách trình bày về Ơn Cứu Rỗi có phần phổ quát và có tính cách mời gọi hơn. Ở đây chúng ta không nói đến căn bản thần học về môn truyền giáo học (mà tin mừng Macô, Matthêu và Luca cung cấp cho ta nhiều yếu tố mang tính phổ quát của Kitô giáo) nhưng tôi chỉ muốn nói là nếu chọn lựa Kinh Thánh để bảo vệ cho ý tưởng mình, thì tin mừng Gioan thật sự nổi bật khi nói đến tính biệt lập của Kitô giáo.

[2]. Tương tự như thế, Phaolô và Silas khi ở tù ở Philippi, một người cai tù hỏi là ông phải làm gì đế được cứu rỗi. Họ trả lời: “Tin vào Chúa Giêsu và ông sẽ được cứu rỗi“. Người cai ngục và cả gia đình chịu phẻp rửa và vui mừng trong đức tin mới (x. Acts 16:30-34).

[3].  Thư thứ nhất gởi Timôtê viết: “Ðó là điều tốt và đẹp lòng Thiên Chúa, Ðấng cứu độ chúng ta, Ðấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý. Thật vậy, chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Ðấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Ðức Ki-tô Giê-su, Ðấng đã tự hiến làm giá chuộc mọi người” (1 Tim 2:3-6).

[4]. Cách giải thích Logos trong kế hoạch cứu chuộc của Thiên Chúa của các giáo phụ đã để lại một ảnh hưởng rất lớn cho sự phát triển thần học tín lý khi nói đến tương quan giữa Thiên Chúa với con người và Giáo Hội. Khi được hỏi tại sao Chúa Giêsu lại đến trong thế gian quá muộn (vì đã quá nhiều tiên tri, thánh nhân… sống trước khi Chúa Giêsu sinh ra, như thế họ không biết Chúa Giêsu, và liệu họ có được ơn cứu rỗi không?), các giáo phụ đã dùng triết học Hy lạp để cắt nghĩa Logos (là Chúa Giêsu) đã có từ đời đời chứ không phải chỉ mới hiện hữu trong thời gian. Và chính Logos này là nguyên nhân của mọi vật được tạo thành, trong đó có sư khôn ngoan mà các thánh nhân đã lãnh nhận.

[5]. Jacques Dupuis, S.J., Toward a Christian Theology of Religious Pluralism (Orbis book, NY, 2001) p. 86.

[6]. Ignatiô thành Antiokia, thư gởi Philadelphia 3,3.

[7]. Ireneaus trong Chống Lạc Giáo, sách III, Mục Giáo Phụ 7:966-967 (Adv. Haer. III. 24. PG (Patrologiae Graeca) 7:966-967).

[8]. Câu nói này trong bài giảng suy niệm sách Joshua 3,5; PG (Patrologiae Graeca) 12:841-842.

[9]. Trong Thư 4.4; CSEL(Corpus Scriptorum Ecclesiasticorum Latinorum) số 3, 2:476-477.

[10]. Trong Epist. Ad Iubaianum 73:21; CSEL 3, 2:795).

[11]. Trong bài viết Hợp Nhất Của Giáo Hội Công Giáo (De unitate ecclesiae) số 14; ACW (Ancient Christian Writers) 25:56.

[12]. Trong bài viết Hợp Nhất Của Giáo Hội Công Giáo (De unitate ecclesiae) số 6; ACW (Ancient Christian Writers) 25:48-49.

[13]. Trong bài giảng thánh vịnh 118 Sermo 8:57; PL(Patrolagia Latina) 15:1318.

[14]. Xem thánh Gregory thành Nyssa trong Oratio catechetica 30; PG 45:76-77. Và thánh Gioan Chrysostom trong Epist. ad Rom. hom. 26:3-4; PG 60:641-642.

Nguồn: (http://mehangcuugiup.net)

About The Author

Number of Entries : 89

© TRANG THÔNG TIN CHÍNH THỨC CỦA ĐẠI CHỦNG VIỆN VINH THANH

Scroll to top