You Are Here: Home » LUÂN LÝ » Người Kitô Hữu Và Đức Vâng Phục

Người Kitô Hữu Và Đức Vâng Phục

Người Kitô Hữu Và Đức Vâng Phục

Lm. Phaolô Bùi Đình Cao
(ĐCV Vinh Thanh)

 557565_166896870116994_1480439771_nThời đại nào cũng vậy, hai chữ Vâng Phục luôn được coi là thiêng liêng cao quý, nó cũng là một thực tại luôn được trải rộng trên mọi phương diện của cuộc sống nhân loại. Có thể nói, từ gia đình cho đến các cộng đoàn tôn giáo và xã hội nói chung đều cần đến vâng phục mới có thể bảo đảm trật tự chung và mang lại hạnh phúc cho con người. Nhìn chung, phần lớn người ta cho rằng, đó là một thực tại quan trọng và hết sức cần thiết, nhưng trong thực tế, không phải hết mọi người đều đồng một quan điểm. Đối với một số người, có lẽ, rào cản lớn nhất của vâng phục đó là tự do. Tự do là để quyết định và chọn lựa điều này hay loại bỏ điều kia. Triết học dạy rằng, tự do là cái làm nên nhân vị, hay tự do gắn liền với bản tính con người. Vậy, đã có tự do thì không thể bị ràng buộc bởi ai khác hay bởi lề luật ! Vì thế, câu hỏi then chốt được đặt ra cho đề tài này là nếu đã có tự do thì tại sao còn bàn đến vâng phục? Một cách tự nhiên, khi nói đến vâng phục là nói đến sự tuân lệnh người trên, tuân phục một thứ lề luật hay buộc phải làm theo ý muốn người khác. Rõ ràng, khi làm theo mệnh lệnh một ai đó là chúng ta đang bị lệ thuộc, do vậy, đã có sự hạn chế về tự do. Phải chăng, ở đây có sự mâu thuẫn nội tại giữa tự do và vâng phục?

Khi bàn đến vâng phục, ta cũng dễ dàng nhận ra một thực tế khác nữa rất đáng lưu tâm, đó là có rất nhiều người quả quyết đây là vấn đề không nên, thậm chí không cần đề cập đến nữa, nhất là trong thời đại văn minh của xã hội loài người hôm nay. Có chăng, thời nay, vâng phục chỉ còn là giá trị trong tương quan của những đứa trẻ đối với cha mẹ hay với người lớn? Hay đó chỉ là ngôn từ được dùng trong lãnh vực tôn giáo, cụ thể hơn, nó chỉ được nói đến và áp dụng trong các cộng đoàn tu trì để thể hiện tinh thần khiêm tốn của bề dưới đối với bề trên? Trước những trào lưu chối bỏ hay lên án vâng phục, người Kitô hữu cần phải có thái độ nào? Bác bỏ hay đón nhận? Giáo hội có những chỉ dẫn nào thích hợp để hướng dẫn mọi người nói chung và con cái mình nói riêng hiểu rõ và nhận ra được giá trị của nó?

Có lẽ, không ai trong chúng ta dám chối bỏ tự do của mình cũng như của người khác. Tuy nhiên, mọi người đều nhất trí rằng, tự do không có nghĩa là muốn làm gì thì làm, hay một thứ tự do “xả láng”, không có biên giới. Vì vậy, để cuộc sống được ổn định, phát triển và mọi người được hạnh phúc, dù là người có hay không có tôn giáo, người lớn hay trẻ nhỏ, đều phải tuân theo một trật tự đã được thiết định trong xã hội hoặc trong lương tâm. Nói cách khác, để đảm bảo cuộc sống có trên có dưới, có trật tự trong cộng đoàn lớn nhỏ, mọi người đều phải tuân theo các nguyên tắc đã được quyền bính thiết lập. Theo đó, dám khẳng định rằng, từ xưa tới nay, Giáo hội Công giáo luôn đề cao giá trị của đức vâng phục và xem nó như là một nhân đức luân lý cao cả trong đời sống làm người và làm người Kitô hữu. Xét trên bình diện tôn giáo, vâng phục còn là thái độ căn bản của con người trước Thiên Chúa, Chúa Tể vạn vật. Là thụ tạo, con người phải biết tuân theo những chỉ dẫn của Đấng tạo tác nên mình. Sự tuân phục Thiên Chúa và luật lệ của Ngài không làm mất tự do hay hạ giá nhân phẩm, nhưng mang lại sự sống đích thực cho con người.

Do tính chất cao cả đó nên vâng phục không chỉ được nói tới trong các dòng tu, đối với trẻ con hay chỉ dành riêng cho người Kitô hữu, song nó luôn được đề cao và trở nên một lời mời gọi thực thi trong mọi lãnh vực của cuộc sống xã hội. Giáo hội nhìn nhận rằng, vâng phục luôn có giá trị nhân bản cao quý, nó hiện hữu là để duy trì trật tự trong xã hội và trong Giáo hội. Vì thế, dù sống trong lãnh vực nào hay trong ơn gọi nào, mọi người cần phải tôn trọng, yêu quý và thực thi việc tuân phục quyền bính. Hơn nữa, với người Kitô hữu, vâng phục, ngoài giá trị tự nhiên, còn có giá trị siêu nhiên, giá trị có tính cứu độ. Từ Cựu ước cho tới Tân ước và mãi tới hôm nay, Chúa và Giáo hội mong muốn mọi người thực thi vâng phục để đảm bảo trật tự mà Thiên Chúa đã an bài và đạt tới ơn cứu độ mà Ngài đã hứa ban. Vì vâng phục liên quan đến ơn cứu độ của mình và của người khác nên bất kể bề trên hay bề dưới, dù là giáo sĩ hay giáo dân, dù là người ra lệnh hay kẻ thừa hành đều phải vâng phục một quyền bính tối cao, nó chi phối và làm sống động mọi sự vâng phục khác, đó là sự vâng phục của con người đối với Thiên Chúa.

  1. Vâng phục là gì?

Vâng phục có nghĩa là nghe theo lề luật đã được đề ra bởi lương tâm hay bởi người khác, cũng có nghĩa là tuân theo tiếng nói hay lệnh truyền của người trên. Theo cách hiểu thông thường, vâng phục hay vâng lời có nghĩa là nghe theo lời của người nào đó, nghe không phải để cho lời lọt vào tai này và chui ra tai kia, nhưng là chấp nhận đáp lại “dạ vâng”.

Vâng phục là hoàn toàn đón nhận, nghe theo ý hay lệnh của người trên một cách tự nguyện. Xét trên bình diện tôn giáo nói chung, vâng phục là tiếng thưa vâng, dạ để đáp lại quyền của Đấng Thánh là Thiên Chúa; là thái độ chăm chú lắng nghe Lời Thiên Chúa, cho dù Thánh Ý của Ngài được diễn tả dưới bất cứ hình thức nào. Cách riêng đối với các tu sĩ, “vâng phục là một trong ba lời khuyên Phúc âm mà họ tự nguyện cam kết tuân giữ như của lễ bản thân dâng lên Thiên Chúa, nhờ đó, họ được kết hợp trọn vẹn với ý muốn cứu độ của Ngài cách kiên trì và chắc chắn (ĐT 14).

Linh mục Rey-Mermet giải thích : “Vâng phục, tiếng Latinh là Obaudire, nghĩa là lắng nghe; từ ấy gợi lên một thái độ tế nhị, thông minh và chăm chú. Lắng nghe có nghĩa là ra khỏi mình để đón nhận người khác, sự sống và vũ trụ. Như thế, vâng lời có nghĩa là đón tiếp anh em mình, là đón tiếp Thiên Chúa, là sự hoà hợp với lề luật và với bề trên, những điều qui chiếu cho lương tâm ta ra khỏi mò mẫm và bối rối”[1].

Vâng lời hay vâng phục chỉ một hành vi hoặc thái độ của một người tự nguyện tùng phục luật lệ. Sự tuân phục của con người luôn mang tính tích cực : vâng lời là chọn vâng lời. Chỉ có con người tự do mới vâng lời : người ấy chọn đặt ý muốn của mình phục tùng một luật lệ mà người đó tự đề ra hoặc đón nhận từ một người khác. Như vậy, theo nghĩa đen, vâng lời hay vâng phục là sẵn sàng lắng nghe người khác tỏ bày ý muốn và thực hiện. Xét theo nhân đức, vâng phục hay vâng lời là chỉ sự mau mắn của ý chí thi hành lệnh bề trên ban ra[2]. Giáo lý Hội thánh Công giáo dạy rằng : “Bổn phận vâng phục đòi buộc mọi người phải tôn trọng quyền bính cho xứng hợp, và đối với những người đang thực thi nhiệm vụ phải tôn trọng và tuỳ công trạng của họ mà tỏ lòng biết ơn và quý mến”[3].

Trong quá khứ, vâng phục luôn chiếm chỗ cao. Triết học Hy Lạp khẳng định rằng : “con người chỉ có thể đạt tới đỉnh trọn lành khi biết bỏ ý riêng mình mà tuân phục trọn vẹn ý Thiên Chúa và quyền bính Thiên Chúa đã thiết lập, vì chỉ có nhờ đó sự phân tán của con người mới được thống nhất”[4]. Triết học Kinh viện cũng đánh giá cao giá trị của đức vâng phục, coi đó như là bổn phận phải có của người dưới đối với bề trên trong xã hội, trong các cộng đoàn lớn nhỏ, nhất là nhìn nhận đó như là thái độ đáp trả của con người trước Thiên Chúa.

Vâng phục là rất cần thiết và luôn có giá trị trên mọi lãnh vực, trong mọi thời đại và nơi mọi xã hội. Tuy nhiên, trong thời đại chúng ta, hai từ “vâng lời” hay“vâng phục” đang bị nghi ngờ, bị coi như nghịch với tự do và người ta đòi xét lại giá trị của nó. Một số quan điểm cho rằng, vâng phục làm cho con người không còn sáng suốt và tự do để làm điều mà mình muốn. Do vậy, “vâng lời bị coi là một điều xấu, chứ không phải là nhân đức… Người ta muốn giảm sự vâng phục ấy tới mức tối thiểu, lấy cớ cho rằng mục tiêu của con người là làm sao có khả năng tự quyết càng nhiều càng tốt”[5]. Để đi tìm câu trả lời cho những vấn nạn này, thiết nghĩ, chúng ta phải nại đến nguồn mạc khải của Thiên Chúa trong Kinh thánh, nơi đó sẽ trình bày cho ta một cái nhìn rõ hơn về ý nghĩa và giá trị của đức vâng phục.

  1. Vâng phục trong Thánh Kinh

Với Cựu ước và Tân ước, vâng phục Thiên Chúa hay Thượng đế là thái độ căn bản của con người. Vâng phục, đó là tiếng thưa “vâng dạ” đáp lại quyền của Đấng Thánh là Thiên Chúa, đó là sự thần phục Thiên lệnh, tuyên xưng Ngài là Đấng Tạo Hóa và tuyên nhận mình là thụ tạo của Người.

Cựu Ước

Đạo Cựu Ước chủ yếu là “đạo tùng phục những mạc khải của Chúa, qua lề luật và qua các ngôn sứ”. Qua mọi thời và trong mọi lúc, Thiên Chúa đòi dân Israel phải biết lắng nghe Ngài, đó là điều kiện tiên quyết để được sống trong hạnh phúc và bình an. Giao ước Thiên Chúa ký kết với Israel cũng đòi dân chúng phải lắng nghe, nghĩa là tuân phục các điều khoản được qui định trong Giao ước (St 17, 9 ; Xh 19, 5). Ngược lại, bất tuân lệnh Chúa chính là yếu tính của tội. Câu chuyện tổ tiên loài người sa ngã là một ví dụ rất cụ thể về sự bất tùng phục Thiên ý (x. St 3). Không nghe lệnh Chúa, kết quả là hai ông bà phải sống trong đau khổ, bị tước mất quyền làm con Thiên Chúa.

Sự vâng phục của con người đối với Thiên Chúa không theo kiểu chủ – tớ, nhưng là sự vâng phục được thể hiện qua sự trung thành và trung tín trong tình yêu. Yêu mến Chúa thật sự được chứng tỏ qua việc yêu mến và thực thi lề luật. Thờ phượng Chúa đích thực là vâng giữ lời Người : tuân giữ luật là thờ phượng Thiên Chúa. Sách Samuel đánh giá rằng, hy lễ tình yêu thì cao trọng hơn của lễ. “Hãy coi, vâng lời thì quý hơn của lễ, lắng nghe Lời Chúa thì quý hơn mỡ chiên mỡ bò” (1Sm 15, 22). Vâng lệnh Chúa là vâng lệnh toàn bộ lề luật của Người, luật đó đã được khắc ghi trong lương tâm, nơi bản tính con người và trong toàn bộ sách luật (Torah).

Ngoài vâng phục Thiên Chúa và các trung gian của Người, Cựu Ước còn lưu ý tới sự vâng phục của con cái đối với cha mẹ. Bổn phận này đã được khắc ghi trong bản Thập giới : “Hãy thảo kính cha mẹ”. Sách Huấn Ca dạy : “Hãy thảo kính cha con bằng lời nói và việc làm” (Hc 3, 8). Thừa lệnh của Chúa, cha mẹ là người có quyền và đòi buộc nơi con cái sự vâng phục; vâng phục cha mẹ cũng là vâng phục Chúa (Hc 3, 2). Cũng thế, sự vâng phục này được thể hiện qua tình yêu. Yêu mến cha mẹ là tuân theo lời răn dạy, là lắng nghe lời khuyên lơn bảo ban của các ngài (x. Hc 3, 1-16).

Tân Ước

Thái độ của Đức Giêsu : Đức Giêsu được Gioan giới thiệu như là kiểu mẫu của vâng phục. Chu toàn Thánh Ý của Cha với lòng vâng phục chính là nét đặc trưng nhất trong sứ mạng khổ nạn của Đức Giêsu. Ngài đến là để thi hành ý muốn của Cha : “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy và hoàn tất công trình của Ngài” (Ga 4, 34). Thánh Phaolô cũng giới thiệu cho chúng ta khuôn mẫu vâng phục của Đức Giêsu. Từ khi bước vào đời cho đến khi chịu chết trên thập giá, Người chỉ sống trong vâng phục : “Vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên cây thập giá” (Pl 2, 8 ; Dt 10, 5-7; Rm 5, 19). Thư Do thái cũng đồng một quan điểm : “Dẫu là Con Thiên Chúa, Ngài đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục, và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Ngài đã trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai vâng phục Ngài” (Dt 6, 8-9).

Quan điểm của Phaolô : Theo gương thầy mình, tông đồ Phaolô cũng tiếp tục dạy rằng, Thánh Ý của Thiên Chúa được thể hiện trong mọi quyền bính, đạo cũng như đời. Vì vậy, vâng phục con người và lề luật con người cũng là vâng phục ý muốn của Thiên Chúa. Trong giáo huấn của mình, thánh nhân thường dùng hai chữ “tùng phục” hay là “nghe theo” để nói lên sự vâng phục các quyền bính trong xã hội.

Khi đề cập đến quyền chức hiện hành, ngài kêu gọi mọi người phải biết tùng phục, vì theo ngài, “quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập”(Rm 13, 1-5). Cách chung, Phaolô đề cập đến ba lãnh vực mà mọi người cần phải tùng phục : (1) Với gia đình, ngài dạy : “Người làm vợ hãy tùng phục chồng, kẻ làm con hãy vâng lời cha mẹ. Cũng một cách thức ấy, kẻ nô lệ hãy vâng lời người chủ” (Cl 3, 18-21). Cách đặc biệt, thánh nhân quy sự vâng phục này về Đức Kitô, ngài nói : “vì lòng kính sợ Đức Kitô, anh em phải biết tùng phục lẫn nhau” (Ep 5, 21) và so sánh sự vâng phục này như là sự vâng phục của Hội thánh đối với Đức Kitô (Ep 5, 24). (2) Trong các cộng đoàn, ngài thiết đặt các cơ cấu tổ chức, cắt đặt những người lãnh đạo, qua đó mời gọi mỗi người hãy tôn trọng và tùng phục họ cũng như những người đã nhiệt tâm dấn thân phục vụ dân thánh: “Anh em hãy tuân phục những người như thế, và những người cùng vất vả cộng tác với họ” (1Cr 16,16). Cộng đoàn nào cũng cần có quyền bính để lãnh đạo và sắp xếp. Vì thế, người dưới phải tuân thủ mọi nguyên tắc đã được đề ra. (3) Với chính quyền dân sự, thánh nhân cũng mời gọi mọi người hãy vì sự thăng tiến, bình an và hạnh phúc của cộng đồng, ta phải tùng phục những nguyên tắc hay lề luật đã được thiết lập. Hơn nữa, thánh nhân còn nhấn mạnh rằng, những lề luật đó cũng là bởi Thánh Ý Thiên Chúa : “Mỗi người phải tùng phục chính quyền, vì quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa” (Rm 13, 1-7). Cũng vậy, ngài căn dặn ông Titô: “Anh hãy nhắc nhở cho ai nấy phải phục tùng và tuân lệnh các nhà chức trách…” (Tt 3,1). Đối với Phaolô, tùng phục các quyền chức là làm “điều tốt”, nên cần phải tùng phục vì có lương tâm, mà lương tâm này có cả trong những người không tin (Rm 2, 12-15). Sự tùng phục ở đây không phải là sự tôn kính đặc biệt dành cho bản thân người lãnh đạo hay vì lợi ích của người đó, song đó chính là đặt quyền lợi cá nhân của mình dưới các nhu cầu của công ích.

Tóm lại, nói như Jean-Louis Bruguès, chúng ta có hai động cơ tạo nên sự vâng phục : động cơ thứ nhất là nỗi lo sợ. Con người tỏ ra kinh ngạc trước uy nghi của Thiên Chúa. Tùng phục Ngài như một tôi tớ tuân lệnh chủ mình (x. Tv 123, 1-2). Động cơ thứ hai là tình yêu. Vì yêu, Thiên Chúa ban hành luật cho dân. Người nào đã đi vào trong tình yêu với Thiên Chúa, mới tùng phục đầy đủ. “Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy” (Ga 15, 14). Chính Đức Giêsu đã trở nên một mẫu gương hoàn hảo cho chúng ta về đức vâng phục: Ngài đến giữa loài người, để chu toàn mọi Thánh Ý của Cha. Vì yêu loài người, Ngài đã mặc lấy thân phận của họ (x. Pl 2, 6). Vì yêu Cha, Ngài dâng đời mình để tha tội cho muôn dân[6].

  1. Ý nghĩa của đức vâng phục

Vâng phục, theo nghĩa thần học, là quyết tâm đi tìm và thi hành ý Chúa trong mọi sự, vì con người được dựng nên là để thờ phượng Thiên Chúa, phụng sự Ngài, nhất là làm theo Thánh Ý Ngài. Do vậy, vâng phục không bao giờ hủy diệt hay giảm bớt tự do cũng không làm thương tổn đến phẩm giá của nhân vị. Có thể nói : “vâng phục là nhân đức nền tảng cho mọi nhân đức luân lý và vâng phục là một điều luôn luôn tốt đẹp xét về mặt luân lý”[7]. Vấn đề còn lại là con người phải vận dụng khả năng của lý trí và phán đoán của lương tâm để có thể khám phá Thánh Ý của Thiên Chúa được tỏ bày qua những đòi hỏi của luật lệ và của tự nhiên, qua lời Ngài trong mạc khải; đồng thời, Thiên Chúa cũng tỏ bày ý muốn của Người qua các quyền bính nhân loại.

Mạc khải cho chúng ta biết rằng, mọi quyền bính đều có nguồn gốc từ Thiên Chúa. Do vậy, vâng phục lề luật tốt đẹp của dân sự cũng là phục vụ cho công ích, và đó là Thánh Ý Thiên Chúa. Khi còn tại thế, Chúa Giêsu đã nêu gương cho chúng ta về việc tuân phục quyền bính dân sự. Nếu có lần nào đó Ngài bất tùng phục, thì vì đó là thứ lề luật bất nhân, trái lương tâm, phản công ích. Dù biết lòng dạ giả hình của phái Pharisiêu, toan tính gài bẫy của phe Hêrôdê, Ngài vẫn công nhận việc nộp thuế là đúng đắn (x. Mc 12, 13-17). Theo gương Thầy mình, các Tông đồ của Đức Giêsu cũng luôn thực thi tốt bổn phận của một người công dân. Trong sách Công vụ Tông đồ, có lần thánh Phêrô nói : “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người phàm”(Cv 5, 29). Khi nói điều đó, thánh Phêrô không có ý bất tùng phục quyền bính dân sự, song ngài chỉ muốn đặt các nấc thang giá trị trước một sự việc. Khi thấy lề luật con người đi ngược lại với lề luật Thiên Chúa, không phù hợp với Thánh Ý Ngài hay không đúng với lương tâm, lúc ấy, ta không buộc phải vâng phục. Tác giả Molinski nói : “Vì là một người trong nhân loại, con người sẽ lệ thuộc vào nhân loại và phải vâng phục nhân loại bao lâu thấy các mệnh lệnh của họ phục vụ cho sự thịnh vượng của cộng đoàn và cá nhân, bởi chưng đó chính là mức độ các mệnh lệnh của nhân loại phản ảnh ý muốn của Thiên Chúa”[8].

Vâng phục,dù trong lãnh vực quyền bính xã hội hay tôn giáo, mục đích là để phục vụ công ích, mưu cầu Nước Trời, đó cũng là tùng phục ý muốn của Thiên Chúa. Vì thế, mọi vâng phục của chúng ta sẽ mang lại hai ý nghĩa quan trọng :

Để phát triển nhân cách: Vâng phục là lắng nghe và đón nhận, là ra khỏi mình để đến với người khác và thực thi lệnh truyền. Có thể nói, đây là một nhân đức trổi vượt trong các nhân đức. Để có được và sống tốt nhân đức này, thiết nghĩ, mọi người cần phải dày công học hỏi. Khiêm tốn đón nhận là hy sinh, đó là cách thế để đào tạo và phát triển nhân cách của mình. Thư gửi tín hữu Do thái cho biết điều này khi nói : “Khi còn sống kiếp phàm nhân… Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục ; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn ơn cứu độ vĩnh cửu cho những ai tùng phục Người” (Dt 5, 7-10). Cũng trong tinh thần đó, thánh Grêgôriô Cả nói : “Đức vâng phục là nhân đức duy nhất làm phát sinh và bảo tồn mọi nhân đức khác trong linh hồn”. Thánh Inhaxiô trong thư về vâng phục, số 2, có viết : “Chừng nào đức vâng phục triển nở, các nhân đức khác cũng phát triển theo, và sẽ sinh hoa trái như tôi mong ước cho anh em và như Chúa hằng đòi hỏi nơi anh em. Chúa đã dùng chính việc vâng phục để cứu thế gian vì tội bất tuân”.

Cuộc sống minh chứng rằng, mỗi người, tự mình không đủ khả năng để phát triển nhân cách tròn đầy. Không ai lớn nỗi thành người nếu không có sự hỗ trợ của người khác hay nếu không ra sức học hỏi. Mỗi người cần đến kẻ khác giúp đỡ và hướng dẫn mới có thể đạt tới sự trưởng thành về đạo đức, nhân bản, trí tuệ và các khả năng khác, khả dĩ đáp ứng được nhu cầu của cộng đoàn. Không ai có thể tự làm cho mình đầy đủ, dù là trẻ nhỏ hay người lớn, bề trên hay bề dưới, tất cả đều cần đến sự hướng dẫn của Giáo hội và xã hội. Trẻ em cần được hướng dẫn bởi cha mẹ, anh chị em bà con, nhà trường và Giáo hội. Người lớn cũng cần được học hỏi nơi kẻ khác về kiến thức, đạo đức và nhiều lãnh vực khác nữa. Tất cả những sự hỗ trợ này là phương thế để giúp ta duy trì và phát triển nhân cách của mình.

Để phục vụ cộng đoàn : Quyền bính là để phục vụ, vì thế, vâng phục quyền bính cũng có giá trị là phục vụ. Sự vâng phục này hết sức cần để đảm bảo cho các phần tử được yên ổn, cũng như để thi hành các nhiệm vụ của cộng đoàn cho hữu hiệu. Mục tiêu chung của vâng phục là hoàn thành chương trình sáng tạo và cứu chuộc của Thiên Chúa và thiết lập vương quốc Ngài. Do đó, vâng phục là bởi ý Chúa cũng như quyền bính bởi Chúa mà ra[9].

Quyền bính được lập ra là để duy trì lợi ích chung, riêng và sự an bình hạnh phúc của xã hội. Người dưới phải nhận ra quyền bính được lập là để giúp họ thăng tiến bản thân và làm tốt nhiệm vụ chung. Giáo lý Hội thánh Công giáo dạy : Bổn phận vâng phục đòi buộc mọi người phải tôn trọng quyền bính cho xứng hợp… Vâng phục là tôn trọng và biết ơn người đang thực thi nhiệm vụ[10]. Tuy nhiên, sự vâng phục của bề dưới không chỉ là để làm cho xong lệnh đã được truyền ra, nhưng là cố gắng đóng góp thực sự vì ích chung, góp phần thực hiện kế hoạch cứu độ của Chúa. Công đồng Vatican II cũng đề cập đến giá trị này khi nói : “Người dưới quyền phải đem hết khả năng trí tuệ và ý chí, những tài năng tự nhiên và siêu nhiên ra thực hiện các mệnh lệnh và chu toàn các công tác được giao cho mình”[11].

Để phục vụ cộng đoàn và làm cho cộng đoàn được phát triển, đòi hỏi mỗi người phải biết sống giới răn mới mà Chúa Giêsu truyền lại cho các môn đệ của Người : “Hãy yêu thương nhau như thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13, 34). Yêu thương là phục vụ, là làm cho tha nhân được sống đúng với nhân phẩm của mình và được hạnh phúc, là hy sinh phục vụ trong tình yêu trao hiến vì người mình yêu. Điều này được tác giả Tin mừng Gioan nêu rõ : “Không có tình yêu nào quý hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống mình vì bạn hữu” (Ga 15, 13). Mọi cộng đoàn đều cần đến quyền bính và sự vâng phục. Vâng phục cũng là tuân giữ một kỷ luật để sống chung với nhau, để cùng nhau tìm kiếm Thánh Ý Chúa và thực hiện Thánh Ý đó. Như vậy, vâng phục không có gì phạm đến phẩm giá, đến sự trưởng thành và đến quyền tự do của con người. Trái lại, đây còn là một nhân đức giúp ta dám xả thân vì Chúa và vì người khác, nó còn tạo điều kiện để mọi người có cơ may ngồi lại với nhau và để giúp nhau phát triển cộng đoàn và công việc chung.

  1. Vâng phục là thái độ của đức tin

Con người được Thiên Chúa dựng nên và ban cho có lý trí, tự do. Nhờ lý trí, con người nhận ra được Thiên Chúa, đón nhận các giáo huấn và thực thi lệnh truyền của Ngài. Từ chỗ nhận biết đó, con người đặt trọn bản thân quy thuận Ngài. Kinh thánh gọi việc đáp trả này là “sự vâng phục của đức tin”. Vâng phục của đức tin là tự quy thuận lời đã nghe, bởi chân lý của lời đó được Thiên Chúa là chính Chân Lý bảo đảm[12].

Abraham và Đức Maria là hai mẫu gương tuyệt hảo cho mọi người Kitô hữu qua mọi thế hệ về thái độ vâng phục bởi đức tin. Thư Do thái nói : “Abraham đã vâng nghe tiếng Chúa gọi mà ra đi đến một nơi ông sẽ được lãnh nhận làm gia nghiệp, và ông đã ra đi mà không biết mình đi đâu” (Dt 11, 8). Nhờ đức tin, ông đã hoàn toàn vâng theo ý Chúa và đã được gọi là“người công chính” (Rm 4, 3), trở thành “Tổ phụ của tất cả những người tin” (Rm 4, 11). Còn Đức Maria, nữ tỳ của Thiên Chúa, đã thể hiện cách trọn hảo sự vâng phục trong đức tin. Trước lời loan báo của sứ thần Thiên Chúa, Đức Maria bày tỏ lòng quy phục hoàn toàn : “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1, 38). Không những chỉ trong lúc này, song trong suốt cuộc đời nơi dương thế, trong mọi hoàn cảnh, Đức Maria đã thể hiện lòng vâng phục ý Chúa cách trọn hảo. Giáo lý Hội thánh cho chúng ta biết : “Trong suốt cuộc đời của Đức Maria và cho đến cuộc thử thách tột cùng, khi Chúa Giêsu, Con ngài chết trên thập giá, đức tin của ngài đã không hề lay chuyển. Đức Maria không ngừng tin rằng Lời Chúa sẽ “được thực hiện”. Vì vậy, Hội Thánh tôn kính Đức Maria là người đã thể hiện đức tin một cách tinh tuyền nhất”[13].

Vì tin rằng Thiên Chúa là “Đấng Nhân Hậu và Trung Tín” (Tv 99, 5), là “Đấng Tình Yêu” (1Ga 4, 16). Ngài thiết lập nên trật tự trong vũ trụ là để cho con người được hạnh phúc. Đức Giêsu, Con của Ngài, cũng là Đấng Tình Yêu, trở nên : “Là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống”(Ga 14, 6), đã đến trần gian để tiếp tục thi ân giáng phúc cho nhân loại. Xác tín được căn tính và sứ vụ của Thiên Chúa sẽ giúp ta sống đức vâng phục cách tron vẹn. Xác tín rằng, vâng phục sẽ mang lại lợi ích lớn lao cho cá nhân cũng như tập thể, trên phương diện xã hội cũng như tôn giáo, và cũng được bắt nguồn bởi đức tin vào Thiên Chúa và vào Con của Ngài. Như vậy, đối tượng của đức vâng phục là Thiên Chúa và Thánh Ý Ngài, được thể hiện nơi trần gian. Vì thế, dù là bề trên hay bề dưới, trong đạo hay ngoài đời, mọi người phải tích cực thực thi đức vâng phục trong tinh thần tin tưởng, phó thác, trong tình yêu Thiên Chúa và yêu đồng loại.

  1. Vâng phục là thái độ của đức ái

Vâng phục không đơn giản là bỏ ý riêng mình, là máy móc thi hành lệnh trên ban xuống. Còn hơn thế nữa, vâng phục là cùng với bề trên để phát triển bản thân, cổ võ công việc chung, xây dựng cộng đoàn tôn giáo và xã hội, đặc biệt là nhận ra Thánh Ý Thiên Chúa đã và đang được thể hiện trong trong cuộc sống của mình: vì yêu mến nên tôi tự nguyện dấn thân thực thi đức vâng phục. Luân lý gọi đó là tinh thần của Đức ái.

Thánh Gioan cho ta biết về căn tính của Thiên Chúa : “Thiên Chúa là Tình Yêu(1 Ga 4,8). Bản chất của Thiên Chúa là Tình Yêu nên đạo của Ngài cũng là đạo tình yêu. Khi xuống thế làm người, Đức Giêsu, con Thiên Chúa đã sống và truyền dạy chúng ta hãy sống đạo bằng tình yêu, đó là dấu của người môn đệ của Đức Giêsu : “Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con yêu thương nhau (Ga 13,35). Tất cả mọi lề luật, dù trong đạo ngoài đời, mọi hình thức kỷ luật hay tiếng lương tâm đều phát xuất từ Thiên Chúa. Nói cách khác, tất cả được qui về một mối là Tình Yêu. Nói theo Nguyễn Chính Kết : “Cốt tủy của đức vâng phục là thực thi Thánh Ý Thiên Chúa. Mà Thánh Ý của Thiên Chúa, cuối cùng, cũng chỉ là làm sao để Tình Yêu được thể hiện nơi con người, trong bản thân mỗi người, trong gia đình, trong xã hội, trong Giáo hội. Vì thế, cái làm cho hành vi vâng phục trở thành nhân đức cũng là Đức Ái, là tình yêu thương thực sự. Hành vi vâng phục nào phản lại yêu thương thì không phải là nhân đức”[14].

Trong mọi hoàn cảnh, trong mọi nơi và mọi lúc, tình yêu là yếu tố then chốt để xây dựng cuộc sống xã hội và tôn giáo. Một việc làm vắng bóng tình yêu sẽ không có giá trị trước Thiên Chúa, nó chẳng khác gì “Thanh la phèng phèng, chủm chọe xoang xoảng” (1Cr 13,1). Thư gửi tín hữu Coirintô còn xác tín cách mạnh mẽ hơn nữa về giá trị của đức ái qua các hành vi : “Cho dù tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt mà không có tình yêu, thì chẳng ích lợi gì cho tôi (1Cr 13,3). Cũng một cách thế như vậy, cho dù mỗi ngày chúng ta giữ lề luật từng ly, từng tý giống như các kinh sư Do Thái xưa, cho dù chúng ta luôn luôn tuân hành lệnh bề trên một cách đầy đủ đến mấy đi nữa, nếu không có tình yêu, thì những hành động ấy chẳng có giá trị bao nhiêu trước mặt Thiên Chúa. Điều này thật hợp với lời của tác giả sách Hôsê xưa : “Ta [Thiên Chúa] muốn tình yêu chứ không cần hy lễ, thích được các người nhận biết hơn là được của lễ toàn thiêu” (Hs 6,6). Đến lượt mình, Đức Giêsu lại trưng dẫn lời này trong Tin mừng theo thánh Matthêu để dạy chúng ta : “Ta muốn tình yêu chứ đâu muốn lễ tế” (Mt 12,7).

Mỗi người đều có tự do, vâng phục mù quáng hay máy móc thì không hợp với tự do của con người. Vâng phục chỉ là nhân đức khi lương tâm mình nhận ra điều đó là tốt là đúng, có ích cho mọi người và hợp với Thánh Ý Thiên Chúa. Một cách lý tuởng, “sự vâng phục của chúng ta không phải là sự vâng phục hình thức và mặc nhiên, vâng phục để vâng phục. Nhưng đó phải là sự vâng phục phát xuất từ chỗ nhận thức rõ ràng điều được truyền dạy ở đây thực sự phục vụ con người”[15]. Như vậy, vâng phục chỉ thực sự là nhân đức và có giá trị cao cả khi có sự đồng hành của tình yêu.

  1. Noi gương Đức Kitô, Đấng hoàn toàn vâng phục[16]

Mọi sự vâng phục quyền bính trên mọi lãnh vực khác nhau cuối cùng đều được quy về một mối, đó là sự vâng phục Thiên Chúa. Cuộc sống của Đức Kitô trên trần gian đã trở thành mẫu gương tuyệt hảo cho chúng ta về nhân đức này. Đến lượt mình, mỗi người phải xem đức vâng phục như là một bổn phận mà ta phải thực hành mỗi ngày, bằng cách bắt chước sự vâng phục của Đức Kitô. Kinh thánh, đặc biệt là Tân ước, cho chúng ta thấy sự vâng phục hầu như luôn được coi là sự vâng phục Thiên Chúa. Biết rằng, Tân ước cũng đề cập đến những hình thức và những phương diện khác của sự vâng phục, như : con cái vâng phục cha mẹ ; trò vâng phục thầy ; bề dưới vâng phục bề trên ; người dân vâng phục chính quyền hay mọi định chế nhân loại (1Pr 2, 13). Tuy nhiên, chữ “vâng phục” theo tiếng Hy Lạp là “hypakoè”, thường được dùng để chỉ sự vâng phục Thiên Chúa. Thánh Phaolô dùng chữ đó để chỉ sự vâng phục đức tin (Rm 1, 5 ; 16, 26), sự vâng phục giáo huấn (Rm 6, 17), vâng phục Tin mừng (Rm 10, 16 ; 2Tx 1, 8), vâng phục chân lý (Gl 5, 7), vâng phục Đức Kitô (2Cr 10, 5). Sách Công vụ Tông đồ và thư thứ nhất của thánh Phêrô cũng chỉ theo cùng một cách thế như vậy (x. Cv 4, 19 ; 6, 7 ; 1Pr 1, 2. 22). Nói chung, tất cả đều chỉ về sự vâng phục Thiên Chúa.

Vâng phục Thiên Chúa theo gương Đức Kitô là vâng phục như thế nào? Phải chăng là cho rằng, tất cả ý muốn của Thiên Chúa đã được bày tỏ trong Đức Kitô, đã được xác lập trong các lề luật và quy tắc của Giáo hội? Không thể phủ nhận rằng ý muốn của Thiên Chúa đã được thể hiện nơi luật lệ trong đạo ngoài đời, nơi trật tự tự nhiên. Tuy nhiên, phải nói rằng, ngoài chiều kích phẩm trật, các định chế xã hội, Giáo hội, còn có chiều kích Thần Khí. Nói theo Công đồng Vatican II, ta chỉ có thể quan niệm được sự vâng phục Thiên Chúa, nếu thừa nhận là Chúa Thánh Thần đang tiếp tục “dẫn đưa Giáo hội, tới chân lý toàn diện, không ngừng canh tân và dẫn đưa Giáo hội đến kết hợp hoàn toàn với Phu Quân của mình”[17].

Sự vâng phục của Đức Kitô hệ tại ở chỗ hoàn toàn phó thác trong tay Cha và làm theo ý Cha. Thái độ này được thánh Gioan nhấn mạnh khi nói rằng, Ngài đến trong thế gian này là để chu toàn Thánh Ý Chúa Cha : “Tôi hằng làm những điều đẹp ý Người” (Ga 8, 28-29). Sự vâng phục còn được thể hiện qua việc kết hợp của Ngài với Chúa Cha : “Ta với Cha là một” (Ga 10, 38). Tột đỉnh của sự vâng phục này là sự hy sinh trên Thập giá, điều này đã được thánh Phaolô ca ngợi : “Người vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên cây Thập giá, chính vì thế Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu” (Pl 2, 8 ; Rm 5, 19).

Đức Kitô, Người Tôi Trung, luôn sống và thi hành mọi việc theo ý Chúa Cha. Người Kitô hữu cũng thế, chúng ta giống như một người đầy tớ trung thành, không bao giờ theo sáng kiến hay mệnh lệnh riêng của người ngoài, nhưng trong mọi sự và trong mọi hoàn cảnh hãy nói : “Để hỏi ý chủ tôi xem đã”. Người tôi tớ trung thành của Chúa, trước khi làm việc, phải tự nhủ : “tôi phải cầu nguyện giây lát để xem ý Chúa muốn tôi làm gì”. Như thế, ý của Chúa ngày càng thâm nhập vào đời sống của ta, từng thớ thịt ta, làm cho ta trở thành một “của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa” (Rm 12, 1).

Con đường vâng phục này, tự nó, không dành riêng biệt cho bất cứ ai, nhưng mở ra cho mọi người Kitô hữu. Chủ yếu của nó là biết “trình các việc lên Thiên Chúa” mọi ý muốn và việc làm của ta như ông Môsê đã làm khi xưa. Khi nhạc phụ của Môsê thấy ông bận bịu trăm công nghìn việc, sợ ông kham không nổi, nên đề nghị với Môsê đặt thêm những người phụ tá trong dân. Khi có việc quan trọng, họ mới trình lên ông Môsê. Còn ông Môsê, khi có việc quan trọng thì trình lên Thiên Chúa (Xh 18, 13 tt).

Sống và thực thi đức vâng phục đối với Thiên Chúa trong Cựu ước cũng như Tân ước, luôn được thể hiện qua lời nói : Này con đây. Nếu muốn làm hài lòng Thiên Chúa, chúng ta cũng hãy tập nói như Đức Giêsu và những người trong Kinh thánh đã nói : Lạy Chúa, này con đây. Lời nói vắn gọn này vang vọng trong cả cuốn Kinh thánh, lời này thuộc vào số những lời có giá trị nhất trước mặt Thiên Chúa. Nó nói lên mầu nhiệm vâng phục Thiên Chúa của các tôi trung. Khi đến thế gian, đến lượt mình, Đức Giêsu đã coi lời trên là của mình, điều này đã được thư Do thái ghi lại : “Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (Dt 10, 7). Abraham, Môsê, Samuel, Isaia, Đức Maria… tất cả đã đáp lại Thiên Chúa cũng bằng chính lời đó (St 22, 1 ; Xh 3, 4 ; Sm 3, 1 tt ; Is 6, 8 ; Lc 1, 38). Giờ đây, đến lượt chúng ta, mỗi người cũng có thể dựa vào lời trên đây để sống từng ngày trong cả cuộc đời Kitô hữu. Mong sao mỗi người chúng ta, dù trong địa vị nào, mỗi buổi mai thức dậy, lúc đi làm việc, lúc gặp gỡ ai, hay đi làm về… ta đều có thể mượn lời của Đức Giêsu để dâng lên Thiên Chúa như một của lễ sống động :“Này con đây, con đến để thi hành ý muốn của Chúa”.

Kết luận

Vâng phục là một nhân đức luôn có giá trị ở mọi thời đại và hiện hữu trong mọi xã hội. Nhân đức này không dành cho riêng ai, nhưng là bổn phận của tất cả mọi người. Có thể nói rằng, xã hội nào, cộng đoàn nào, gia đình nào cũng cần đến hạnh phúc và sự ổn định. Do vậy, dù là người có hay không có tôn giáo, người lớn hay trẻ nhỏ, bề trên hay bề dưới, chúng ta đều được mời gọi đóng góp phần mình vào việc mưu cầu hạnh phúc và bình an cho nhân loại hôm này và mai sau. Để làm được công việc hệ trọng này, mọi người cần phải tuân theo những nguyên tắc đã được ấn định bởi quyền bính đạo, đời hay bởi lương tâm.

Vâng phục được bàn đến trong nhiều lãnh vực khác nhau : trong gia đình, ngoài xã hội, trong cộng đoàn, tại học đường, trong Giáo hội… Tuy nhiên, mục đích căn bản của đức vâng phục là nhận biết và thực thi Thánh Ý Thiên Chúa, đồng thời để duy trì và phát triển trật tự tốt đẹp đời sống cá nhân, cộng đoàn, xã hội và Giáo Hội. Nhưng để làm cho vâng phục trở thành nhân đức và có ý nghĩa đích thực, ta phải lấy đức ái làm nền tảng. Tất cả đều phải được thực hiện trong tinh thần yêu thương của Đức Ái Kitô giáo. Do đó, mỗi khi biết lấy đức ái làm nền tảng cho đức vâng phục, lúc đó ta sẽ dễ dàng nhận ra Thánh Ý Thiên Chúa nơi các quyền bính, nó sẽ làm cho đời sống cá nhân trở nên thánh thiện, đồng thời đó là cách thế để xây dựng và thánh hóa cộng đoàn, Giáo hội.

Vâng phục là từ bỏ ý riêng để tìm ý Thiên Chúa đang được thể hiện trong môi trường hay trong ơn gọi mà tôi đang sống. Đức Maria và Đức Giêsu là mẫu gương tuyệt hảo cho chúng ta về việc vâng phục Thánh Ý Thiên Chúa. Từ biến cố Truyền Tin (x. Lc 1, 39) cho đến biến cố Đức Giêsu, Con của ngài, chết trên thập giá, dù không nói nên lời, nhưng trong thâm tâm, Đức Maria luôn nói lời xin vâng với Thiên Chúa (x Ga 19, 25-37). Cũng vậy, khi đến trần gian, trong hân hoan cũng như trong đau khổ, Đức Giêsu luôn lấy khẩu hiệu : “Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (Dt 10, 7) làm lẽ sống và làm của lễ dâng lên Thiên Chúa.

Nhờ đức vâng phục, các Kitô hữu sát tế ý riêng mình làm của lễ dâng lên Thiên Chúa. Hy lễ đó là hy lễ đẹp lòng Thiên Chúa nhất, vì sát tế ý riêng cũng là sát tế chính mình. Đó cũng là phương thế hữu hiệu bậc nhất để tự thánh hóa bản thân. Nói theo cách của Tin mừng Gioan, sát tế có nghĩa là phải trở nên mục nát như hạt giống được gieo vào lòng đất : “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình ; còn nếu chết đi, nó sẽ sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24). Đức vâng phục làm cho “cái tôi của ta chết đi, nhường chỗ cho Đức Kitô ở trong ta lớn lên. Chính Đức Kitô đã nêu gương sát tế ấy cho chúng ta: “Ngài đã vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá (Pl 2,8)[18].

[1] Théodule REY-MERMET, CSsR. Một Lối nhìn Mới về Luân Lý, trang 176, Linh mục Đa Minh Nguyễn Đức Thông biên soạn theo nguyên tác Croire IV.

[2] Xem Jean – Louis BRUGUÈS, Từ Điển Luân Lý Công Giáo, cuốn hạ, chữ  «Vâng Phục » trang 702.

[3]Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, số 1900.

[4] MOLINSKI, mục Obedience, trong Sacramentum mundi IV, 1969, tr. 237.

[5]Ibidem, trang 237.

[6] Jean – Louis BRUGUÈS, Từ Điển Luân Lý Công Giáo, cuốn hạ, tr. 703.

[7]Karl H.PESCHKE, S.V.D, Christian Ethics, Alcerter and Dublin 1986, sđd, tập II, trang 110.

[8]W. MOLINSKI, Obedience, trong Sacramentum mundi IV, 1969, tr. 239.

[9] Về giá trị của đức vâng phục, xin xem Karl H.PESCHKE, S.V.D, Christian Ethics, Alcerter and Dublin 1986, sđd, tập II, trang 110-115.

[10] Xem Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 1900.

[11] Công Đồng Vatican II, Sắc Lệnh về Đào Tạo Chủng Sinh, số 14.

[12] Xem Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 134-144

[13] Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 149.

[14] Xem www.nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/08/ducvangphuc.html. Truy cập ngày 22/06/2016.

[15] Erish Reisch, vol I, p. 295. Trích trong Karl H.PESCHKE, S.V.D, Christian Ethics, Alcerter and Dublin 1986, sđd, tập II, trang 116.

[16] Điểm này được trình bày dựa trên bài viết “Suy niệm về đời sống mới trong Đức Kitô”của linh mục Micae Trần Đình Quảng  www.simonhoadalat.com/Hochoi/VeDuckito/trongDucKito/Bài 13.htm. Truy cập ngày 17/06/2016.

[17] Công đồng Vatican II, Hiến Chế về Tin Lý của Giáo hội, số 4.

[18]Xem www.nguyenchinhket4.blogspot.com/2009/08/ducvangphuc.html. Truy cập ngày 22/06/2016.

About The Author

Number of Entries : 562

© TRANG THÔNG TIN CHÍNH THỨC CỦA ĐẠI CHỦNG VIỆN VINH THANH

Scroll to top