You Are Here: Home » CHỦNG VIỆN » Quy chế Đại chủng viện Vinh Thanh

Quy chế Đại chủng viện Vinh Thanh

QUY CHẾ

ĐẠI CHỦNG VIỆN VINH THANH

 

NỘI DUNG

PHẦN I – ĐỊNH HƯỚNG

I. MỤC ĐÍCH ĐÀO TẠO

– Thánh thiện

– Tinh tường

– Tự nguyện và tự lập

– Trưởng thành nhân bản và cảm tính

– Thành thạo về đường tâm linh

– Thân tình

– Tận tụy

II. NỘI DUNG ĐÀO TẠO

1. Đào tạo sống mầu nhiệm

2. Đào tạo sống hiệp thông

3. Đào tạo sống sứ vụ

III. THỜI GIAN ĐÀO TẠO

IV. PHƯƠNG THỨC ĐÀO TẠO

– Theo sát chương trình Chủng viện

– Tự luyện

– Thực tập

– Trao đổi với anh em đồng bạn

V. TÁC NHÂN ĐÀO TẠO

– Chúa Thánh Thần

– Chủng sinh

– Chủng viện

– Cha mẹ và gia đình

– Cha xứ và giáo xứ

VI. TỔ CHỨC ĐÀO TẠO

A. Ban Giám đốc

B. Ban đào tạo

C. Ban giảng huấn

CHỦNG SINH ĐOÀN

PHẦN II – NỘI QUY

I. THỜI BIỂU

II. SỰ THINH LẶNG

III. NƠI CHỐN

IV. LIÊN LẠC VỚI BÊN NGOÀI

V. SỨC KHỎE

VI. CÁC PHƯƠNG TIỆN HỌC TẬP

VII. CÁC BAN NGÀNH

LỜI KẾT

***

Lời mở đầu

Đào tạo linh mục là việc hết sức quan trọng (OT, lời mở đầu). Dưới sự hướng dẫn của Ban Giám Đốc và Ban Đào Tạo do Bề Trên Giáo Phận chỉ định, chính các chủng sinh cần tích cực tự đào tạo. Các thành phần khác của Dân Chúa cũng được mời gọi đóng góp vào việc đào tọa theo khả năng của mình.

Dựa trên Tập Định hướng và Chỉ dẫn Đào tạo Linh mục (Ratio) của Hội đồng Giám mục Việt Nam và theo Giáo luật khoản 243, Chủng viện Vinh Thanh biên soạn bản Định Hướng và Nội Quy này bằng một ngôn ngữ dễ hiểu và dễ nhớ cho mọi người và gởi đến tất cả những người có liên hệ đến việc đào tạo linh mục tương lai cho hai giáo phận Vinh và Thanh Hóa, trước hết là anh em chủng sinh và Ban Đào Tạo của Chủng Viện Vinh Thanh, tiếp đến là gia đình các chủng sinh, các bạn trẻ đang có chí hướng làm linh mục, các linh mục phụ trách giáo xứ và hết mọi thành phần Dân Chúa của hai giáo phận, để mọi người đều có thể tích cực góp phần.

Bản Định Hướng và Nội Quy này đã được hai Đức Giám mục Vinh và Thanh Hóa phê chuẩn để áp dụng.

Nội dung chính gồm có hai phần Định Hướng và Nội Quy.

PHẦN I
ĐỊNH HƯỚNG

Phần Định Hướng gồm các mục:

1. Mục đích đào tạo – 2. Nội dung đào tạo – 3. Phương thức đào tạo – 4. Tác nhân đào tạo – 5. Tổ chức đào tạo.

I. MỤC ĐÍCH ĐÀO TẠO

Đại chủng viện Vinh Thanh đào tạo linh mục vừa nhằm đáp ứng nhu cầu của Hội Thánh địa phương (x. PDV 31) vừa hướng tới sứ mạng toàn cầu của Hội Thánh Việt Nam trong ngàn năm thứ ba (x. PDV 32).

Mục đích đào tạo có thể gói ghém nơi 7 tiêu chí: thánh thiện, tinh tường, tự lập, trưởng thành nhân bản và cảm tính, thành thạo trên đường tâm linh, thân tình và tận tụy (7 T).

– Thánh thiện

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II viết: “Ơn gọi linh mục cốt yếu là một lời mời gọi nên thánh với mô hình bắt nguồn từ bí tích Truyền chức thánh. Thánh thiện là sống thân mật với Thiên Chúa; là bắt chước Đức Kitô nghèo khó, khiết tịnh và khiêm nhường; là yêu mến các linh hồn không chút dè sẻn và biết tự hiến vì các linh hồn và vì lợi ích đích thật của họ; là yêu mến Hội Thánh, một Hội Thánh thánh thiện và hằng muốn chúng ta nên thánh, bởi vì đó chính là sứ mạng Chúa Kitô đã giao phó cho Hội Thánh. Mỗi người trong anh em cũng phải nên thánh để có thể giúp các anh em khác thực hiện ơn gọi nên thánh của họ” (PDV 33c; xem thêm PDV 19-20; 24-26; 45-50).

Để đứng vững trước áp lực của xã hội tiêu thụ và trung thành với ơn gọi, và để nên thánh, chủng sinh cần có đời sống thinh lặng nội tâm sâu xa. Hằng ngày chủng sinh cần biết yêu mến thinh lặng và tập sống thinh lặng để lắng nghe tiếng Chúa. Sự thinh lặng ấy sẽ tạo nên bầu khí tinh thần cần thiết cho đời sống cầu nguyện và thức tỉnh cũng như cho việc cảm nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa và được sự hiện diện ấy thu hút (x. PDV 47).

– Tinh tường

“Ngày nay, công cuộc phúc âm hóa mới mà Chúa mời gọi Hội Thánh thực hiện khi bước vào thiên niên kỷ thứ ba này lại chính là một thách đố làm cho việc đào tạo tri thức trở nên khẩn thiết hơn… Hoàn cảnh hiện tại được đánh dấu sâu đậm bởi một thái độ tôn giáo dửng dưng, bởi một sự ngờ vực…, bởi những vấn nạn mới do các phát minh khoa học và kỹ thuật khơi dậy. Tất cả những điều ấy đòi hỏi mãnh liệt phải có một trình độ đào tạo trí thức ưu tú nhằm giúp cho các linh mục có thể loan báo Tin Mừng bất biến của Chúa Kitô và làm cho Tin Mừng ấy trở nên đáng tin cậy trước những đòi hỏi chính đáng của lý trí con người” (PDV 51b). Nói cách khác, nó đòi hỏi người chủng sinh phải có tinh thần hiếu học và cầu tiến. “Cần phải chỉ cho các linh mục tương lai thấy sự cần thiết, những lợi ích và tinh thần của việc đào tạo trường kỳ… để đánh thức cho họ biết quan tâm và khao khát học hỏi” (PDV 71c; xem thêm 72h).

– Tự nguyện và tự lập

“Kỷ luật trong đời sống Chủng Viện Không những phải được coi như một trợ lực vững chãi của đời sống cộng đoàn và bác ái, mà hơn nữa, còn như một thành phần thiết yếu trong tất cả công cuộc huấn luyện để đạt được tinh thần tự chủ, phát triển được sự trưởng thành vững chắc về nhân cách, rèn luyện được những tư cách khác giúp ích rất nhiều cho hoạt động của Hội Thánh được quy củ và kết quả” (OT 11b).

Chủng sinh cần luôn tự nhắc nhở rằng mình có mặt tại Chủng viện là do nguyện vọng hoàn toàn tự do của mình muốn dấn thân đáp lại tiếng Chúa gọi để phục vụ Thiên Chúa và tha nhân trong chức vụ linh mục, đúng theo ý hướng của Hội Thánh. Do đó, chủng sinh luôn tự nguyện hy sinh cố gắng trong việc tu đức cũng như học tập nhằm rèn luyện cho mình đủ khả năng phục vụ.

Chủng sinh cần chăm sóc cho mình một đời sống riêng tư với Chúa, với những giờ cầu nguyện riêng và giờ học riêng nhằm:

(1) giúp mình phát huy tính tự lập, tự quyết, tự tổ chức đời sống, tự lãnh trách nhiệm về mình, nói chung là tự điều hành bản thân mình.

(2) giúp mình ý thức dấn thân và kiên trì dấn thân.

(3) đi vào chiều sâu của đời sống nội tâm trong sự liên kết với nguồn lực là Chúa Thánh Thần, để vững tiến trên hành trình lâu dài và cam go của ơn gọi cũng như của việc tự đào tạo.

– Trưởng thành nhân bản và cảm tính

Phẩm giá và sứ vụ linh mục đòi hỏi người chủng sinh phải trưởng thành về nhân bản. “Để cho thừa tác vụ linh mục được dễ tin hơn và dễ đón nhận hơn xét theo phương diện nhân bản, linh mục cần trau dồi nhân cách để trở nên một nhịp cầu chứ không phải một chướng ngại cho tha nhân trong việc gặp gỡ Đức Kitô… Các linh mục tương lai cần vun trồng một tập hợp những đức tính nhân bản, cần thiết cho sự kiến tạo những nhân cách quân bình, mạnh mẽ và tự do… Bởi đó, họ có nhu cầu phải được giáo dục về lòng yêu mến chân lý, về sự chân thành, về sự tôn trọng nhân vị đối với mọi người, về ý thức công bằng, về chữ tín trong lời nói, về lòng trắc ẩn thực thụ, về tính nhất quán, cách riêng về sự quân bình trong phán đoán và trong cách cư xử” (PDV 43). Chủng sinh cần biết vượt thắng những ảnh hưởng tiêu cực của xã hội để luôn sống trung thực và thanh thoát, dám vững tiến theo sự khôn ngoan của Tin Mừng, biết tránh hẳn não trạng chạy theo sự khéo léo thế gian.

Thêm nữa, hoàn cảnh ngày nay đòi hỏi người linh mục tương lai phải đạt được sự trưởng thành về cảm tính, ý thức về vị trí trung tâm của tình yêu trong cuộc sống con người. Người ứng sinh cần được giáo dục thật sự về tính dục để nhờ đó mà thêm quý chuộng và yêu mến đức khiết tịnh và có khả năng đảm nhận đặc sủng độc thân, sống đức khiết tịnh cách trung tín và hân hoan (x. PDV 44; xem thêm OT 10).

– Thành thạo về đường tâm linh

“Việc giáo dục toàn diện chủng sinh phải nhằm huấn luyện cho họ thực sự trở thành những vị chăn dắt các linh hồn, theo gương Chúa Giêsu Kitô là Thầy, là Linh mục và là Chủ chăn… Vì thế, mọi phương thức huấn luyện tu đức, học vấn, kỷ luật phải cùng qui hướng về mục đích mục vụ ấy” (OT 4).

Môi trường người linh mục tương lai sắp phục vụ ngày càng diễn biến phức tạp. Dân Chúa phải đối mặt với những lôi cuốn cực mạnh của xã hội tiêu thụ, với những mạng truyền thông không còn bận tâm tới luân lý, với những trào lưu bài xích Kitô giáo. Tình cảnh ấy khiến tín hữu thuộc mọi lứa tuổi ai cũng cần được hướng dẫn chính xác để đứng vững trước những luồng gió đạo lý đa chiều. Vì thế người linh mục phải thực sự có khả năng linh mục, tức là khả năng chăn dắt các linh hồn, khả năng linh hướng trong mọi hoàn cảnh (x. OT 19a; 8a).

Để đáp ứng đòi hỏi ấy, chủng viện cần giúp chủng sinh đào sâu các kinh nghiệm xây dựng đời sống tâm linh, để có khả năng hướng dẫn tâm linh cho mọi tầng lớp Dân Chúa. Trước hết người chủng sinh cần biết làm chủ giác quan, có tinh thần nghèo khó, từ bỏ và tự nguyện sống khổ chế. Chủng sinh cần biết đào sâu thinh lặng nội tâm để có khả năng nhận rõ và thi hành ý Chúa trong cuộc sống.

Người linh mục triều nghĩa là linh mục ở giữa đời, phải xác tín và thấm nhuần con đường nên thánh giữa đời để có thể hướng dẫn các tín hữu đang phải lăn lộn giữa đời. Linh mục triều là là thành phần quan trọn của Hội Thánh Công Giáo, phải luôn đậm tính công giáo, không bị co cụm vào một góc nhìn nào riêng nhưng sẵn sàng tiếp nhận những đóng góp phong phú và đa dạng của các đoàn sủng Chúa Thánh Thần đang ban cho Hội Thánh. Cụ thể, ngay từ trên ghế nhà trường, chủng sinh cần làm quen với kinh nghiệm xây dựng đời sống tâm linh của các Dòng và Tu hội phổ thông trong Hội Thánh, cách riêng là những Dòng và Tu hội đang phục vụ trong Giáo phận. Chính khi khám phá những nét bổ trợ ở đó và tiếp nhận với tinh thần cầu tiến, người chủng sinh sẽ được thúc giục tiến nhanh trên đường hoàn thiện (x. PDV 31đe).

– Thân tình

“Tương quan với tha nhân mang một tầm quan trọng đặc thù. Đây là điều hết sức nền tảng đối với một người được gọi đảm trách một cộng đoàn và trở thành ‘người của hiệp thông’. người linh mục không được tự cao hay bẳn gắt, nhưng phải nhã nhặn, niềm nở và chân thành trong lời nói lẫn tâm tình, phải khôn ngoan và thận trọng, phải quảng đại và sẵn sàng phục vụ, có khả năng thiết lập tình liên đới với tha nhân và khơi dậy nơi tha nhân những mối quan hệ trong sáng và huynh đệ, mau cảm thông, tha thứ và an ủi (x. 1Tm 3,1-5; Tt 1,7-9)” (PDV 43c).

Muốn vậy, người linh mục tương lai cần biết ra khỏi chính mình, vượt khỏi thái độ chủ quan và cá nhân chủ nghĩa để quan tâm đến người khác, cảm thông chia sẻ và hợp tác với họ, khiêm tốn học hỏi nơi họ, đồng thời cũng quan tâm đến lợi ích chung của nhiều người.

– Tận tụy

Tông huấn Những Mục Tử Như Lòng Chúa Mong Ước viết: “Cuộc sống tâm linh của mỗi linh mục nhận sức sống và cảm hứng từ chính loại hình quyền bính này [quyền bính Đức Kitô], qua việc phục vụ Hội Thánh, bởi lẽ linh mục đã nên đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu Kitô là Đầu và là Tôi Tớ của Hội Thánh thì phải như thế. Như Thánh Âu Tinh có lần đã nhắn nhủ một giám trong dịp lễ tấn phong: “Người làm đầu dân chúng trước hết cần ý thức rằng mình phải là tôi tớ phục vụ nhiều người. Đừng khinh chê, tôi xin lặp lại, người làm đầu dân chúng đừng khinh chê việc trở nên tôi tớ phục vụ nhiều người, bởi vì Đấng là Chúa các Chúa đã không hề khinh chê việc trở nên tôi tớ phục vụ chúng ta” (PDV 21d).

Tông huấn cũng nhấn mạnh sự thánh thiện của linh mục thể hiện qua sự tận tụy với sứ mạng tại Hội Thánh địa phương cũng như khi lên đường truyền giáo nơi khác (x. PDV 31-32).

Học theo gương Chúa Giêsu Mục Tử và trong đức ái của Người, ngay từ trên ghế nhà trường, mỗi ngày người linh mục tương lai phải tập cần cù làm việc và tận tụy phục vụ anh em theo bổn phận mình (x. PDV 21-23).

II. NỘI DUNG ĐÀO TẠO

Nói về việc đào tạo linh mục, số 59 của Tông Huấn Những Mục Tử Như Lòng Chúa Mong Ước nhấn mạnh cả ba chiều kích mầu nhiệm, hiệp thông và sứ vụ: “Bởi lẽ hoạt động mục vụ tự bản chất nhắm đến việc tạo sức sống cho Hội Thánh, vốn thiết yếu là “mầu nhiệm”, “hiệp thông” và “sứ vụ”, việc đào tạo người mục tử sẽ phải ý thức và đẩy mạnh các chiều kích ấy trong việc thi hành thừa tác vụ.”

Hiểu như thế, chủng viện giúp chủng sinh chuẩn bị để thể hiện nơi mình và nơi cộng đoàn Dân Chúa cả ba chiều kích: mầu nhiệm, hiệp thông và sứ vụ.

1. ĐÀO TẠO SỐNG MẦU NHIỆM

“Có một điều quan trọng nền tảng là phải ý thức rằng Hội Thánh là “mầu nhiệm”, tức là công trình của Thiên Chúa, hoa quả của Thần Khí Đức Kitô, sự hiện diện của Ba Ngôi Thiên Chúa trong cộng đoàn Kitô hữu. Thay vì làm giảm thiểu ý thức trách nhiệm đích thực của người mục tử, ý thức này sẽ giúp vị mục tử xác tín rằng Hội Thánh tăng trưởng là nhờ tác động hào phóng của Chúa Thánh Thần và xác tín rằng, nhờ ơn Chúa, mình đang được phục vụ Tin Mừng như một “tôi tớ bất xứng” (x. Lc 17,10). (PDV 59b; xem thêm PDV 51bc; 73).

Như thế, “việc huấn luyện tu đức phải liên kết chặt chẽ với việc trau dồi học vấn và huấn luyện mục vụ,… sao cho các chủng sinh biết luôn sống kết hợp mật thiết với Chúa Cha, nhờ Chúa Giêsu Kitô Con Người và trong Chúa Thánh Thần. Do bí tích Truyền Chức Thánh, họ phải là hiện thân của Chúa Kitô Linh Mục, lại nữa, bởi cùng chia sẻ một cuộc sống của Người, nên họ phải quen sống kết hợp với Người như bạn hữu. Họ phải sống Mầu Nhiệm Phục Sinh của Người thế nào để biết khai sáng Mầu nhiệm ấy cho đoàn chiên sẽ được giao phó.” (OT 8).

1. NHỮNG MÔN HỌC VỀ MẦU NHIỆM

Trọng tâm của khoa thần học là nhằm đưa người học đến chỗ ngày càng khám phá Chúa Giêsu Kitô và gắn bó với Người, rồi từ đó khám phá Ba Ngôi Thiên Chúa và hiệp nhất với Ba Ngôi. Theo hướng ấy, việc học thần học sẽ bắt đầu với sự tiếp cận với Thánh Kinh, Truyền Thống và Giáo Huấn của Giáo Hội, sẽ tập trung trên trục chính của tín lý là Kitô học trong tương quan với các môn học khác.

2. NHỮNG KINH NGHIỆM VỀ MẦU NHIỆM

Hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi

Linh mục được chọn để giúp Dân Chúa được sống dồi dào. Sứ mạng ấy đòi chính linh mục phải hiệp thông sâu xa với Ba Ngôi Thiên Chúa. Vì thế, hằng ngày dưới tác động của Chúa Thánh Thần, chủng sinh cần tập ý thức sống hiệp thông với sự sống và tình yêu cứu độ của Thiên Chúa Ba Ngôi, noi gương Đức Giêsu Kitô, sống tình con thảo đối với Chúa Cha và tình huynh đệ đối với mọi người. Chủng sinh cần biết “trung thành suy gẫm Lời Chúa, trong việc thông hiệp tích cực các Mầu Nhiệm chí thánh của Hội Thánh, nhất là Bí Tích Thánh Thể và kinh nguyện thần vụ…” (x. OT 8).

Cầu nguyện

Cầu nguyện Kitô giáo là một gặp gỡ sinh động và cá biệt với Thiên Chúa Cha, nhờ Người Con duy nhất của Người, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, là một cuộc đối thoại dự phần vào cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu với Cha Người.

Để đào tạo đời sống cầu nguyện, chủng sinh cần tập suy niệm Lời Chúa mỗi ngày. Lời Chúa làm cho con người gặp gỡ chính Thiên Chúa, và gặp gỡ Chúa Kitô là Ngôi Lời của Thiên Chúa, là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống. Cần tập ý thức đọc và suy niệm Lời Chúa với tâm tình cầu nguyện và lòng khiêm tốn lắng nghe. Ánh sáng và sức mạnh của Lời Chúa giúp con người khám phá, hiểu biết, quý chuộng và đi theo ơn gọi của mình, nhờ đó cuộc sống tìm được ý nghĩa căn bản và tròn đầy.

3. NHỮNG NHÂN ĐỨC CỦA MẦU NHIỆM

“Chủng sinh cần học sống theo Tin Mừng, đứng vững trong đức Tin, đức Cậy và đức Mến, để nhờ trau dồi các nhân đức ấy, họ có được tinh thần cầu nguyện, phát huy ơn thiên triệu của mình, kiên cường các nhân đức khác và lớn lên trong nhiệt tâm chinh phục mọi người về cho Chúa Kitô.” (x. OT 8).

Ba nhân đức hướng thần là riêng của Kitô giáo, khẳng định Kitô giáo là quà tặng của Thiên Chúa, vượt hẳn mọi nỗ lực kiếm tìm của nhân loại. Các nhân đức hướng thần bắt nguồn từ Thiên Chúa và hướng về Thiên Chúa. Khi mọi nỗ lực nhân loại đã đạt đến tột đỉnh, Thánh Thần Thiên Chúa vẫn còn đưa linh hồn con cái Chúa vươn cao đến vô tận (x. Lv 11,44; Mt 5,48). Vì thế, theo chỉ dẫn trên đây của sắc lệnh Đào Tạo Linh Mục, chủng sinh cần chú ý trước hết đến các nhân đức hướng thần, để khỏi rơi vào nguy cơ dừng lại ở sự hoàn thiện luân lý.

Nhờ các nhân đức hướng thần Tin, Cậy và Mến, chủng sinh nhận biết Thiên Chúa là kho tàng đích thực của mình (x. Mt 13,44) và sẵn sàng trả mọi giá để chiếm hữu. Chính ba nhân đức hướng thần sẽ là sức mạnh giúp chủng sinh hoàn tất các lời khuyên Tin mừng và các nhân đức luân lý tự nhiên.

2. ĐÀO TẠO SỐNG HIỆP THÔNG

“Nhờ ý thức rằng Hội Thánh là hiệp thông, ứng sinh linh mục sẽ được chuẩn bị để đảm đương công cuộc mục vụ của mình với một tinh thần cộng đồng, tận tình hợp tác với các thành phần khác trong Hội Thánh: giữa các linh mục với giám mục, giữa linh mục triều với linh mục dòng, giữa linh mục với giáo dân. Một sự hợp tác như thế trước hết phải có sự hiểu biết và quý chuộng những ân huệ và đặc sủng khác nhau mà Chúa Thánh Thần đã ban tặng và ký thác cho các chi thể của Nhiệm thể Chúa Kitô. Sự hợp tác ấy cũng đòi hỏi phải ý thức cách bén nhạy và chính xác về căn tính của chính mình cũng như về căn tính của những người khác trong Hội Thánh. Sự hợp tác ấy còn đòi buộc phải có sự tin cậy lẫn nhau, sự kiên nhẫn, thái độ hiền dịu và khả năng thấu hiểu và dám kỳ vọng. Trên tất cả, sự hợp tác ấy bén rễ trong một lòng yêu mến đối với Hội Thánh sâu xa hơn cả lòng yêu mến chính mình và những nhóm mình trực thuộc.” (PDV 59c; xem thêm PDV 74).

Như thế, “chủng sinh phải thấm nhuần Mầu Nhiệm Hội Thánh…, để có thể làm chứng sự hiệp nhất đang thu hút mọi người về với Chúa Kitô bằng cách thảo hiếu và khiêm nhường hiệp nhất với vị Đại Diện Chúa Kitô, và một khi đã lãnh nhận chức linh mục, sẽ luôn liên kết với Giám Mục của mình như những cộng tác viên tín cẩn và tiếp tay cộng tác với các anh em linh mục khác. Phải dạy cho họ biết mở rộng tâm hồn tham gia cuộc sống của toàn thể Hội Thánh như lời Thánh Augustinô: “Kẻ nào càng yêu mến Hội Thánh Chúa Kitô càng có Chúa Thánh Thần” (OT 9)

1. NHỮNG MÔN HỌC VỀ HIỆP THÔNG

Những môn học phục vụ hiệp thông là: Giáo hội học – Thánh mẫu học – Bí tích học – Giáo sử – Giáo luật và Phụng vụ.

2. NHỮNG KINH NGHIỆM VỀ HIỆP THÔNG

Hướng đến đỉnh cao hiệp thông là Thánh Thể

Để hiệp thông với Chúa, chủng sinh cần sốt sắng lãnh nhận các Bí tích mà đỉnh cao và nguồn mạch là Bí tích Thánh Thể. Sự hiệp thông này sẽ soi sáng cho những lựa chọn, những quyết định, những thái độ và những hành động trong đời sống thường ngày.

Hằng ngày chủng sinh cần tham dự Thánh lễ không phải với thói quen nhưng với ý thức tưởng niệm lễ hy tế và sự sống lại của Chúa Giêsu; tham dự với tinh thần hiệp nhất trong tình bác ái, với tâm tình biết ơn đối với ân sủng Chúa, với tâm tình hiến dâng và kết hợp với sự tự hiến của Chúa Giêsu, với tâm tình khao khát chiêm ngắm, tôn thờ Chúa Giêsu, và hiệp thông với tình yêu mục tử của Người.

Sống tinh thần Hội Thánh:

“Cũng phải dạy cho họ biết tìm gặp Chúa Kitô trong Đức Giám Mục, Đấng sai họ đi và trong những người mà họ được sai đến, nhất là trong các kẻ nghèo khó, hèn mọn, đau yếu, tội lỗi và cả những kẻ vô tín ngưỡng. Họ phải lấy lòng tin cậy như con thảo mà tôn kính và yêu mến Đức Trinh Nữ Maria Rất Thánh, Đấng mà Chúa Kitô khi hấp hối trên Thánh Giá đã trối ban làm mẹ người môn đệ.”

“Phải hết sức cố gắng cổ võ việc đạo đức đã được tập quán đáng kính của Hội Thánh khuyên làm, nhưng phải lưu tâm đừng để việc huấn luyện tu đức chỉ hệ tại những việc đạo đức ấy hay chỉ là một nỗ lực tạo ra thứ đạo đức tình cảm” (OT 8).

3. NHỮNG NHÂN ĐỨC CỦA HIỆP THÔNG

Tông huấn Những Mục Tử Như Lòng Chúa Mong Ước số 27-30 nhấn mạnh rằng người linh mục phải triệt để sống các giá trị Tin Mừng, đặc biệt là tuân phục, thanh bần và thanh khiết (3 T). Ba nhân đức này bắt nguồn từ ba nhân đức hướng thần và lôi cuốn theo các nhân đức luân lý.

Chủng sinh cần ý thức rằng chính mình đã tự nguyện bước theo Đức Kitô nghèo khó, khiết tịnh và vâng phục, để luôn hân hoan bước đi trong chọn lựa ấy. “Chủng sinh phải thấu hiểu thật rõ ràng là cuộc đời họ không phải để thống trị hay để được danh giá, nhưng để hết mình phụng sự Thiên Chúa và chu toàn bổn phận mục vụ. Phải đặc biệt lo lắng tập sống đức vâng lời linh mục, đời sống khó nghèo và tinh thần xả kỷ sao cho họ quen mau mắn từ bỏ ngay cả những gì được phép nhưng không thích đáng và trở nên giống Chúa Kitô chịu đóng đinh” (OT 9). “Họ cần thâm tín rằng: bậc sống độc thân đáng hân hoan đón nhận không phải chỉ như một mệnh lệnh do Giáo Luật, nhưng như là một ân huệ quý giá của Thiên Chúa mà họ phải khiêm tốn cầu xin, và phải mau mắn đáp ứng với tự do và quảng đại, nhờ ơn Chúa Thánh Thần thúc đẩy và giúp đỡ” (OT 10).

Đào tạo chủng sinh về phương diện này là luôn nhớ ghi khắc vào tâm khảm họ ý nghĩa của thập giá trung tâm của Mầu nhiệm vượt qua. Chính nhờ đồng hoá với Chúa Giêsu chịu đóng đinh, chủng sinh gặp được giá trị của khổ chế, của đau thương, của tử đạo giữa lòng xã hội đề cao tính chiếm hữu vả hưởng thụ.

Ba nhân đức Tin mừng giúp người của Chúa đi từ sự hiệp thông với Ba Ngôi tới chỗ hiệp thông đồng cảm với những người họ phục vụ. “Điều đặc biệt quan trọng là phải chuẩn bị cho các linh mục tương lai biết cộng tác với giáo dân. Công đồng dạy: Họ cần phải sẵn sàng lắng nghe giáo dân, biết lấy tình huynh đệ cân nhắc những ước vọng của giáo dân, trân trọng kinh nghiệm và thẩm quyền của giáo dân trong những lãnh vực khác nhau của hoạt động trần thế, hầu có thể cùng với họ đọc ra những dấu chỉ của thời đại” (PDV 59c).

3. ĐÀO TẠO SỐNG SỨ VỤ

“Nhờ ý thức rằng Hội Thánh là sự hiệp thông trong sứ vụ, ứng sinh lên chức linh mục sẽ được giúp đỡ để yêu mến và sống chiều kích thừa sai cốt yếu của Hội Thánh cùng với những hoạt động mục vụ khác nhau của Hội Thánh. Nhờ đó họ sẽ rộng mở và biết vận dụng mọi khả năng hiện đại để loan báo Tin Mừng, kể cả sự đóng góp quý giá mà các phương tiện truyền thông xã hội có thể và phải mang lại trong lãnh vực này. Cũng nhờ đó họ biết phải tự chuẩn bị để nếu Chúa Thánh Thần và giám mục của họ muốn thì họ sẵn sàng để được sai đi rao giảng Tin Mừng vượt ngoài biên giới quốc gia mình” (PDV 59d; xem thêm PDV 75; OT 19-21).

3.1. NHỮNG MÔN HỌC VỀ SỨ VỤ

Chủng sinh cần được đào tạo về triết học để trí tuệ thêm sắc sảo, biết sử dụng kho tàng kiến thức của gia đình nhân loại về vũ trụ, con người và Thiên Chúa, về tương quan giữa những thực tại ấy, biết nắm bắt những vấn đề lớn của con người với những giải đáp khác nhau qua các thời đại và biết đối thoại với người thời đại mình.

Chủng sinh cần được đào tạo khả năng truyền đạt đức tin và trình bày Mầu Nhiệm Chúa Kitô thích hợp với con người ngày nay:

– khoa học nhân văn (tâm lý học, xã hội học, sư phạm…), nói chung là các khoa học về con người, giúp cho sự hiểu biết về con người và các hiện tượng xã hội thêm sâu rộng. Chủng sinh cần có khả năng:

– sử dụng tiếng mẹ đẻ tốt và một số ngoại ngữ.

– hiểu biết lịch sử Hội Thánh Việt Nam.

– hiểu biết lịch sử và địa lý hai giáo phận Vinh và Thanh Hóa.

– mục vụ giáo xứ.

– truyền giáo học.

– sư phạm đào tạo đời sống nội tâm.

3.2. NHỮNG KINH NGHIỆM VỀ SỨ VỤ

Linh mục thời mới cần nói chuyện được cả với những người thuộc giới trí thức và bình dân.

Học để phục vụ giới trí thức

Với giới trí thức: Việc học ngày càng hướng tới chuyên môn. Giới trí thức biết thế nên không đòi linh mục phải chạy đua trên lãnh vực chuyên môn của họ nhưng đòi linh mục phải nắm vững phần chuyên môn của mình. Trong mắt họ, chuyên môn của linh mục không chỉ là thần học mà còn kinh nghiệm tâm linh. Họ chờ đợi nơi linh mục câu trả lời cho những vấn nạn mà họ gặp phải trong đời sống thường ngày. Họ chờ đợi nơi linh mục những chia sẻ sâu sắc, sáng rõsát thực tế (3 S). Linh mục cần có lòng hiếu học, cầu tiến, không ngừng tìm tòi để hiểu biết thật cặn kẽ về phạm vi chuyên môn của mình.

Học để phục vụ giới bình dân

Với lớp bình dân: Linh mục cần lưu ý tập trung vào những điểm then chốt, trình bày trong sáng, nhằm xây dựng tương giaothực hành (4 T).

– then chốt: ngày nay người ta bị cuốn hút theo xã hội tiêu thụ, không đủ thinh lặng nội tâm, dễ lạc vào những điều phụ và bỏ mất những điều chính. Linh mục cần nắm vững những điều chính và dẫn dắt người khác huớng tới những điều chính đó.

– trong sáng: sự thiếu vắng thinh lặng nội tâm cũng khiến người ta mất khả năng trừu tượng, chỉ hời hợt với những cái cụ thể bên ngoài; do đó, linh mục cần nghiền ngẫm sao để có thể diễn tả những chân lý sâu xa cách đơn sơ, trong sáng, dễ hiểu;

– tương giao: ngày nay người ta rơi vào thế giới sự vật, đánh mất tương quan, do đó, linh mục cần biết cách dẫn vào sự gặp gỡ và sống thân tình với Thiên Chúa, nhờ Lời Kinh Thánh, Lịch sử cứu rỗi, sự Lắng nghe và đáp lại với Lòng tin, cậy, mến (4 L).

– thực hành: ngày nay người ta thường nói mà không làm, đo đó linh mục cần dẫn dắt họ tới chiều kích thực hành. Muốn vậy, chính linh mục phải triệt để sống điều mình đã học hiểu.

Có tấm lòng mục tử

Nhờ gặp gỡ Đức Giêsu và đồng cảm với tình yêu mục tử của Người, linh mục cần đến với mọi người trong tinh thần tự hiến phục vụ. Người linh mục tương lai cần tập sống bác ái huynh đệ với mọi người, đặc biệt với người nghèo, người bé mọn và bị bỏ rơi. Đây phải là đức ái chân thực, chấp nhận, cảm thông và trợ lực trong tương giao với họ trên cơ sở ý thức họ là con cùng Cha, là hình ảnh Thiên Chúa, là giá máu cứu chuộc của Chúa Giêsu, là tác phẩm kỳ diệu của Thiên Chúa, là nơi mà Chúa lựa chọn để hiện diện với ta.

Toàn bộ công cuộc đào tạo hướng đến chỗ biến đổi chủng sinh thành những Mục tử theo mẫu gương Đức Giêsu Kitô, vừa là Thầy, là Tư tế và là Mục tử. Do đó, người linh mục tương lai cần tập luyện nhằm:

(1) Ngày càng am hiểu và tinh thông Lời mạc khải của Thiên Chúa để có thể diễn tả Lời đó bằng ngôn ngữ và bằng đời sống (tác vụ Lời Chúa).

(2) Chuyên tâm cầu nguyện và tích cực tham dự cử hành phụng vụ để có thể hoàn thành sứ vụ cứu độ qua hy tế tạ ơn và các bí tích (tác vụ thờ phượng và thánh hoá).

(3) Sống thế nào để qua bản thân linh mục, người ta nhận ra Đức Giêsu Kitô đang đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và thí mạng sống mình làm giá cứu chuộc nhiều người (tác vụ mục tử).

Việc đào sâu khoa thần học mục vụ (hay thần học thực hành), cũng như việc thực tập mục vụ chính là để ngày càng hiệp thông sâu xa hơn với tình yêu mục tử của Đức Giêsu Kitô, với chính tâm tư và cách ứng xử của Người là vị mục tử tốt lành.

Nhiệt thành truyền giáo

Chủng sinh sống cởi mở và sẵn sàng trước mọi khả năng loan Tin mừng ngày nay, và chuẩn bị cho mình một tâm thế sẵn sàng đáp trả lời gọi của Chúa Thánh Thần và của Đức Giám mục sai đi loan báo Tin mừng trong cũng như ngoài ranh giới giáo phận, trong cũng như ngoài đất nước mình.

– Rèn luyện mình thành con người vui tươi cởi mở để trở nên nhịp cầu cho người khác gặp gỡ Chúa.

– Luôn thân tình với mọi người, thiết lập mối tương giao chân thực và huynh đệ, cảm thông và bao dung, ủi an và trợ lực.

– Quan tâm học biết con người, tìm hiểu tâm thức và những vấn đề của họ, mở đường cho sự gặp gỡ và đối thoại, tạo sự tín nhiệm và hợp tác…

Biết trao đổi, làm việc chung

Để hành động hữu hiệu giữa một xã hội ngày càng đa dạng và phức tạp, linh mục cần có tinh thần tập thể và khả năng làm việc chung.

Muốn được vậy, người chủng sinh cần biết tích cực tham gia đời sống chung với những giờ chung, sinh hoạt chung và việc chung.

Tinh thần gia đình của chủng viện sẽ giúp chủng sinh xác tín về mục vụ của Hội Thánh hiệp thông, tức là mục vụ tập thể, có sự hợp tác của mọi thành phần dân Chúa. Sự hợp tác trong mục vụ giả thiết phải có sự hiểu biết và quí trọng những ân ban và đặc sủng khác nhau, những ơn gọi và trách nhiệm khác nhau, một sự hợp tác cần đến sự tín nhiệm lẫn nhau, sự nhẫn nhục và hài hoà, lắng nghe và cảm thông, nhất là cần có lòng yêu mến Hội Thánh.

Theo hướng tập làm việc chung, tuỳ theo nhu cầu và hoàn cảnh, chủng sinh có thể tham gia sinh hoạt các nhóm khác nhau: Nhóm giáo phận, Nhóm mục vụ Giáo lý, Nhóm sinh hoạt giới trẻ, Nhóm Thánh ca, Nhóm mục vụ gia đình, Nhóm mục vụ xã hội… Ngoài Trưởng Nhóm, mỗi nhóm có thể mời một Cha giáo đồng hành, cùng tham dự các buổi họp mặt và góp ý. Chủng viện cũng khuyến khích chủng sinh tham gia các hiệp hội khuyến khích nhau đạt tới đức ái hoàn hảo trong cuộc sống linh mục triều cũng như các tu hội đời dành cho linh mục (x. PDV 31d; 81b).

3.3. NHỮNG NHÂN ĐỨC CỦA SỨ VỤ

“Nền giáo dục chủng viện nhằm huấn luyện cho các chủng sinh đạt được mức trưởng thành nhân bản cần thiết, nhất là mức trưởng thành đã được kiểm nghiệm trong một đức tính cương nghị, trong khả năng quyết định chín chắn, và một óc phê phán xác đáng về con người và về các biến cố. Chủng sinh phải tập cho quen điều hòa thích hợp cá tính mình, họ phải được huấn luyện cho có tinh thần quả cảm, và nói chung, phải biết quý chuộng những đức tính mà người đời thường quý chuộng và không thể thiếu nơi các thừa tác viên của Chúa Kitô, thí dụ như lòng thành thực, chuyên lo giữ đức công bình, đức tín trung, cư xử lịch thiệp, khiêm tốn và bác ái trong ngôn từ” (OT 11a).

Các nhân đức luân lý ấy được Thánh nữ Têrêxa Avila tóm kết nơi ba nhân đức căn bản: Tự khiêm, Từ bỏ và Thương yêu (3 T) [1]. Ba nhân đức căn bản này vừa song song với các kinh nghiệm ngoài Kitô giáo quanh ta[2] vừa tương ứng với ba lời khuyên Tin mừng và ba nhân đức hướng thần, sẽ vừa tạo nên sự nhịp nhàng giữa tự nhiên và siêu nhiên vừa tạo thuận lợi cho việc đối thoại với các anh em ngoài Kitô giáo.

III. THỜI GIAN ĐÀO TẠO

(Xem bảng A)

IV. PHƯƠNG THỨC ĐÀO TẠO

Đang khi tháp tùng ơn gọi, Ban Đào Tạo Chủng viện nỗ lực trang bị cho chủng sinh những vốn liếng tối thiểu về tư cách, trí thức, tâm linh và mục vụ. Đáp lại, chủng sinh cần biết nỗ lực tối đa để theo sát chương trình Chủng viện, tự luyện, thực tậptrao đổi với anh em đồng bạn (4 T).

– Theo sát chương trình Chủng viện

Chương trình đào tạo và giảng dạy ở Chủng viện được chắt lọc từ những truyền thống và kinh nghiệm lâu đời, gói ghém những nội dung chính xác và sát với giáo huấn của Hội Thánh. Do đó chủng sinh cần biết trân trọng và tiếp nhận với tâm tình biết ơn.

Gắn liền với đời sống nhân bản và đời sống tâm linh, đời sống tri thức là một đòi hỏi của trí tuệ con người và của chức linh mục. Nó hướng con người đến tham dự vào ánh sáng của Thiên Chúa để nhận biết và gắn bó với Người. Nó còn hướng con người đến một sự hiểu biết ngày càng thâm sâu về các Mầu nhiệm của Thiên Chúa, đến sự đón nhận Mầu nhiệm Chúa Giêsu Kitô, một Mầu nhiệm liên hệ đến toàn thể lịch sử nhân loại. Chủng sinh cần biết mở rộng trí tuệ và cõi lòng để đón nhận chân lý tròn đầy.

– Tự luyện

Chủng sinh cần xin Chúa Thánh Thần ban cho ơn hiếu học: tự mình tìm kiếm học hỏi để nắm bắt các vấn đề thật cặn kẽ, có thể giải thích lại cho người khác cách chính xác, rõ ràng và dễ hiểu. Chủng sinh cần nhớ mình không thể nhờ ai học thay được. Chính vì yêu mến Chúa Giêsu Cứu Thế và yêu mến những linh hồn đã được Người lấy máu đào chuộc lại, chủng sinh sẽ chấp nhận những hy sinh khổ chế cần thiết để học hỏi đến nơi đến chốn.

Mỗi người cần biết dựa vào chương trình chung để tổ chức đời sống trí thức của mình cách khoa học, tổ chức thời giờ và việc học tập cách có phương pháp. Cần đến với các vị giảng dạy và vị giám học là nơi để xin những chỉ dẫn cụ thể và thích hợp.

– Thực tập

Trong việc đào tạo ở Chủng viện, học phải đi đôi với hành. Chủng sinh cần thực tập về tất cả mọi mặt: luyện tính tốt, rèn nhân đức, áp dụng kiến thức vào cuộc sống và cả thực tập mục vụ.

Thực tập mục vụ là để phát huy đức ái mục tử, tập đồng cảm với Chúa Giêsu, yêu mến như Người và cùng với Người trở thành anh em của mọi người, đặc biệt người cùng khổ bất hạnh. Trong năm học, tùy nhu cầu thực tế của môi trường phụ cận chủng viện, chủng sinh có thể được cắt cử đi thực tập dạy giáo lý, giúp phụng vụ, lo cho giới trẻ, bác ái xã hội, thăm viếng…

Việc thực tập mục vụ trong năm học được tổ chức vào những ngày Chúa Nhật, tùy nhu cầu và hoàn cảnh. Trừ lớp Triết năm thứ nhất (mới vào chủng viện năm đầu), tất cả các lớp đều thực tập mục vụ. Ban Thường Vụ chủng sinh sẽ làm việc chung với Ban Giám đốc để phân công và giúp đỡ anh em đi thực tập tập mục vụ.

Thực tập mục vụ không đơn thuần là tập làm quen với những kỹ thuật mục vụ, mà còn nhằm:

(1) Tập rung một nhịp với Trái tim Chúa Giêsu, chạnh lòng thương đám đông vì họ bơ vơ như chiên không người chăn dắt (x. Mt 9,36).

(2) Tập mở rộng tầm nhìn đến chiều kích truyền giáo của Hội Thánh, tập đối thoại và hợp tác với người khác, tập thiết lập tương giao trợ lực và mở đường, tập thăm viếng, tiếp xúc, tập thi hành bác ái, tập làm chứng cho tình yêu phục vụ của Đức Giêsu là Đấng đã thi ân giáng phúc cho những kẻ Người gặp gỡ.

(3) Tập đảm nhận trách nhiệm cách ý thức chủ động và chín chắn, tập sáng suốt đánh giá tình hình, tập thiết lập những ưu tiên và tìm ra phương thế thực hiện, tập làm mọi việc dưới ánh sáng đức tin.

(4) Tập nhận định và ứng xử theo phương pháp xem – xét – làm.

– Trao đổi với anh em đồng bạn

Chủng viện khuyến khích chủng sinh tổ chức các nhóm học hỏi, nghiên cứu, dịch thuật, sáng tác, làm việc mục vụ, thăng tiến đời sống nội tâm. Chủng sinh cần tự tạo cho mình tập quán và sự ham mê làm việc trí thức riêng và chung qua các nghiên cứu, dịch thuật và biên tập.

V. TÁC NHÂN ĐÀO TẠO

Trong việc đào tạo ơn gọi, chính Chúa Thánh Thần chủ động uốn nắn kẻ Người chọn, tiếp đến là bản thân chủng sinh, còn các tác nhân khác đóng vai trò tháp tùng, trước hết và chính yếu là Chủng viện, rồi đến là gia đình, cha xứ và cộng đoàn giáo xứ.

– Chúa Thánh Thần

Chính Chúa Thánh Thần đã gợi hứng và dẫn dắt chủng sinh lên đường theo Chúa Kitô. Chính Chúa Thánh Thần đào tạo nhân cách, trí tuệ, tâm lý và đời sống tâm linh của chủng sinh. Chủng sinh cần biết luôn đến với Chúa Thánh Thần là vị Thầy nội tâm: cầu nguyện với Người trong thinh lặng ngay từ khi vừa thức dậy, càng lâu càng tốt. Cần trung thành với Chúa Thánh Thần, gắn bó với Người từng giây phút; xin Người soi sáng và nâng đỡ trước mọi kinh nguyện, suy tư, học hỏi, lời nói cũng như việc làm. Cần tỉnh táo hưởng ứng ánh sáng Chúa Thánh Thần từ những chi tiết nhỏ để tránh nguy cơ biến công cuộc Thiên Chúa thành công cuộc nhân loại.

Chủng sinh hưởng ứng sự đào tạo của Chúa Thánh Thần bằng cách:

– Suy niệm Lời Chúa riêng mỗi ngày 30 phút

– Kiểm điểm đời sống trước khi đi ngủ

– Tham dự thánh lễ và rước Mình Thánh Chúa mỗi ngày

– Lãnh bí tích hoà giải: Chủng sinh cần lãnh bí tích hoà giải thường xuyên, ít là mỗi tháng một lần vào chiều Thứ Năm đầu tháng, trong ngày tĩnh tâm. Ngoài những giờ trên, nếu xưng tội, có thể liên hệ với các cha linh hướng.

– Gặp cha linh hướng: một hoặc hai tháng một lần, cách riêng là trước những dịp tiến chức. Nếu vì lý do quan trọng cần đổi cha linh hướng, chủng sinh phải bàn với cha linh hướng rồi báo cho cha Giám đốc.

– Tĩnh tâm năm vào một số ngày trong Mùa Chay; tĩnh tâm tháng vào ngày Thứ Năm đầu tháng (từ sáng đến tối); ngoài ra mỗi chủng sinh còn được mời gọi thực hiện những khóa tĩnh tâm dài ngày (linh thao) cách riêng là sau năm Tu đức, sau năm đi Thực tập Mục vụ, trước khi ra trường hoặc trước khi thụ phong linh mục.

– Chủng sinh

“Sau hết, trong việc đào tạo của mình, chính ứng sinh linh mục là một tác nhân cần thiết không ai thay thế được. Mọi công cuộc đào tạo, kể cả đào tạo linh mục, cuối cùng đều là một cuộc tự đào tạo. Chúng ta là những ngôi vị cá biệt và tự do, không ai chịu trách nhiệm thay được.

Hơn ai hết, người linh mục tương lai phải ý thức mãnh liệt rằng tác nhân tuyệt hảo đang đào tạo mình chính là Chúa Thánh Thần, Đấng đang ban cho mình tấm lòng mới và làm cho mình trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu Kitô là mục tử nhân lành.

Có thế người ứng sinh lên chức linh mục mới quả quyết được một cách hết sức triệt để rằng mình hoàn toàn tự do đón nhận sự uốn nắn của Chúa Thánh Thần. Đón nhận tác động của Chúa Thánh Thần cũng có nghĩa là đón nhận cả những tác nhân trung gian nhân loại mà Chúa Thánh Thần sử dụng. Chính vì thế, những hành động của các nhà đào tạo chỉ hữu hiệu thật sự và trọn vẹn khi người linh mục tương lai đích thân cộng tác vào đó cách hoan hỉ và xác tín.” (PDV 63).

Với lòng biết ơn, chủng sinh đón nhận sự chăm sóc của chủng viện, của gia đình và của cộng đoàn Hội Thánh nói chung như những ơn đặc biệt của Thiên Chúa. Đáp lại, chủng sinh luôn nỗ lực tự đào tạo với tinh thần siêng năng, sáng suốt, sắc sảo, say mê làm việc chung và sẵn sàng phục vụ (5 S).

– Chủng viện

Với trách nhiệm “tháp tùng ơn gọi linh mục”, Chủng viện đảm nhận 3 việc chính: (1) Phân định ơn gọi, (2) giúp đáp trả ơn gọi, (3) giúp chuẩn bị lãnh bí tích Truyền chức Thánh cùng những ân ban và những trách nhiệm hàm chứa trong đó, nhờ đó mà linh mục trở nên giống Chúa Giêsu là và Mục tử nhân lành, được thừa nhận có tư cách tham sự vào sứ vụ cứu độ trong Hội Thánh và trong xã hội (x. Ratio, 148).

Với chức năng giáo dục ấy, toàn bộ đời sống Chủng viện quy hướng về việc đào tạo nhân bản, tâm linh, trí thức và mục vụ cho những linh mục tương lai.

Lý tưởng của Chủng viện là trở nên một cộng đoàn và một gia đình trong đó mọi thành phần liên kết với nhau trong tình bằng hữu và cùng sống trong niềm vui. Chủng viện phải là một cộng đoàn được Chúa Thánh Thần tập họp trong một tình huynh đệ duy nhất, và mỗi người theo ân ban riêng góp phần làm cho mọi người tăng trưởng trong đức tin và đức mến.

Cộng đoàn chủng viện cần ý thức mình là cộng đoàn môn đệ của Chúa Giêsu theo mẫu gương cộng đoàn Giêrusalem tiên khởi (x. Cv 2,42-46):

(1) cùng chung một Phụng vụ làm cho tinh thần cầu nguyện thấm nhập vào toàn diện đời sống.

(2) hằng ngày được tập hợp bởi việc lắng nghe và suy niệm Lời Chúa, cử hành Bí tích Thánh Thể.

(3) hiệp nhất trong việc thực hành bác ái huynh đệ và tinh thần công bằng.

(4) và là cộng đoàn nơi đó tinh thần Chúa Giêsu và lòng yêu mến Hội Thánh của Người được thắp sáng lên mãi nhờ những cố gắng và những tiến bộ tâm linh của mỗi người.

Môi trường chủng viện – với bầu khí huynh đệ và gia đình quây quần xung quanh Chúa Giêsu, với tổ chức đào tạo kỷ luật chung, với những điều kiện vật chất – tạo nên một trợ lực lớn lao cho mọi người thực hiện hành trình ơn gọi là đi tìm Chúa, bước theo Chúa, lưu lại với Chúa và trở nên giống Chúa ngày một hơn.

Mỗi người sống trong môi trường này đều có phần trách nhiệm liên đới, tích cực đóng góp phần mình, yêu thương và phục vụ mọi người anh em để xây dựng gia đình chủng viện thành một cộng đoàn Hội Thánh mẫu mực.

Kỷ luật chung trong môi trường chủng viện là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên bầu khí nói trên. Kỷ luật này gồm những tập tục, những qui ước, những chỉ dẫn, những chương trình sinh hoạt, tất cả đều nhằm : (1) giúp mỗi người bảo trì bầu khí thanh tịnh và huynh đệ, (2) gìn giữ trật tự chung và tôn trọng cái chung và cái riêng của nhau, (3) giúp mỗi người tự tổ chức đời sống và tự tạo một kỷ luật bản thân, rèn luyện tính tự chủ và từ bỏ ý riêng. Đó là những điều kiện cần thiết giúp chủng sinh theo bước Chúa Giêsu vâng phục, phát huy nhân cách của người mục tử biết hy sinh cả mạng sống mình.

Đời sống kỷ luật là biểu hiện của một nhân cách tự trọng. Tự giác tuân hành kỷ luật là biểu hiện của sự tự do của con cái Chúa trong hiến thân phục vụ.

Theo sắc lệnh Đào Tạo Linh Mục số 4-5, Ban Đào Tạo của Chủng viện nỗ lực để trung thành với việc đào tạo bằng gương sáng: hiệp nhất với Chúa, hội ý với nhau, hòa đồng với chủng sinh, hạ mình phục vụhọc hỏi không ngừng (5 H).

– Cha mẹ và gia đình

“Với sự dìu dắt đầy tình phụ tử của các Bề Trên và với sự cộng tác thuận lợi của các phụ huynh, chủng sinh phải sống một đời xứng hợp với lứa tuổi, với tinh thần mà mức độ phát triển của con người thiếu niên và hoàn toàn phù hợp với tiêu chuẩn tâm lý lành mạnh, cũng đừng để họ thiếu kinh nghiệm trường đời và thiếu liên lạc với gia đình họ” (OT 3).

Chúa Kitô và Hội Thánh Người biết ơn các bậc cha mẹ đã gieo mầm ơn gọi cho con cái mình. Hội Thánh gọi gia đình là “chủng viện đầu tiên” (x. OT 2, PDV 41e). Khi con em đã vào chủng viện, cha mẹ và gia đình được mời gọi tiếp tục góp phần đào tạo bằng kinh lễ thường xuyên, kiên trì vượt khó, khiêm nhường phục vụ, khích lệ con em và không màng danh lợi (5 K). Hội Thánh ước mong gia đình đồng hành với con của mình không những trong thời gian đào tạo ở chủng viện mà suốt cả hành trình đời linh mục (PDV 79d).

– Cha xứ và giáo xứ

Đa số các ứng sinh vào chủng viện đã được cha xứ và cộng đồng giáo xứ tích cực chuẩn bị. Cha xứ và giáo xứ được mời gọi tiếp tục góp phần đào tạo các chủng sinh bằng nguyện cầu, nâng đỡ và nhắc nhở (3 N). (x. PDV 41 e.fghi)

VI. TỔ CHỨC ĐÀO TẠO

Theo Bản Định hướng và Chỉ dẫn việc Đào tạo Linh mục của Hội đồng Giám Mục Việt nam, số 167-185, việc tổ chức Chủng viện được thực hiện như sau :

A. Ban Giám đốc

Ban Giám đốc chủng viện gồm:

– Cha Giám đốc

– 2 cha Phó Giám đốc

B. Ban đào tạo

Ban đào tạo gồm các cha thường trú trong chủng viện, với các phận vụ: Giám đốc và Phó Giám đốc, Linh hướng, Giám học, Quản lý, Đặc trách lớp.

1. Cha Giám đốc cùng với 2 cha Phó Giám đốc lo tổ chức, định hướng, điều phối, kiểm tra chung:

a) Đề xuất, đôn đốc, kiểm soát và điều chỉnh đường hướng sinh hoạt đào tạo chung cho cả chủng viện;

b) Cha Giám đốc gặp từng chủng sinh, nhất là các chủng sinh sắp lãnh tác vụ và chức thánh, và các chủng sinh sắp đi giúp xứ.

2. Cha Linh Hướng phụ trách đường hướng tâm linh chung cho chủng viện và hướng dẫn từng chủng sinh.

3. Cha Giám học lo chương trình học của Chủng viện

4. Cha Quản lý lo cho đời sống của cộng đồng Chủng viện, đặc biệt quan tâm đến các điều kiện như âm thanh, ánh sáng, điện nước, lao động, vệ sinh, tiếp tân và cơ sở nhà đất của Chủng viện.

5. Cha Đặc trách lớp giúp Trưởng lớp và Phó lớp điều hành lớp

(a) Đồng hành với các chủng sinh của lớp để hiểu biết và trợ lực cách sâu sát;

(b) Cùng với Cha Giám đốc nhận định về cá nhân các chủng sinh trong lớp.

6. Cha Đặc trách lớp và các Cha đồng hành với các tổ, các nhóm:

a. Tiếp xúc cá nhân nhằm giúp mọi người xác lập tương giao chân thành và có trách nhiệm với nhau. Đó là bước đầu cần thiết mở đường và trợ lực cho việc đào tạo.

b. Hàng tháng, họp mặt với lớp, nhằm soi sáng và khích lệ cho việc tự đào tạo trong các lĩnh vực: nhân bản, thuộc linh, tri thức, mục vụ, nhằm đào sâu trọng tâm đào tạo mà lớp đã chọn cho học kỳ hay cho năm học.

c. Liên hệ với cha Giám đốc và các vị hướng dẫn khác, nhằm bảo đảm tính thống nhất trong đào tạo và cùng nhau tạo nên một nỗ lực chung (x. Ratio 154).

7. Một số Cha được phân công hỗ trợ các ban ngành của chủng sinh: Thư viện, phụng vụ, thể thao, mục vụ, y tế, văn nghệ, trang trí, cây kiểng…

8. Trực phụng vụ: luân phiên

9. Trực trật tự kỷ luật: luân phiên

10. Giải tội:

Thường nhiệm: các cha linh hướng

Đặc nhiệm: các cha do Đức giám mục chỉ định, và các Cha giúp tĩnh tâm, linh thao…

D. Ban Giảng huấn

Ban Giảng huấn gồm các giảng viên nội trú và ngoại trú lo việc giảng dạy.

CHỦNG SINH ĐOÀN

Chủng sinh đoàn là tập thể chủng sinh được tổ chức theo nhu cầu đào tạo để giúp mọi chủng sinh góp phần tự đào tạo trong liên đới với anh em qua các lãnh vực học tập, sinh hoạt và phục vụ: học tập theo lớp, sinh hoạt theo tổ và phục vụ theo các ban ngành chuyên môn.

Chủng sinh đoàn được điều hành bởi Ban Thường Vụ Chủng Sinh và được đại diện rộng rãi bởi một Hội Đồng Chủng Sinh.

BAN THƯỜNG VỤ VÀ HỘI ĐỒNG CHỦNG SINH

Ban Thường vụ Chủng sinh

Ban Thường vụ Chủng sinh, gồm một trưởng ban và ba phó ban: phó ban học tập kiêm thư ký, phó ban sinh hoạt kiêm thủ quỹ và phó ban phục vụ.

Khoảng một tháng trước khi kết thúc năm học, chủng sinh toàn trường sẽ bầu cử Ban Thường Vụ (BTV) mới: Trưởng BTV phải là một trong số anh em lớp thần học lớn nhất của năm học tiếp theo; các phó ban có thể thuộc bất cứ lớp nào của năm học tiếp theo.

Trưởng BTV mới sẽ mời một số anh em làm trưởng các ngành chuyên môn sau khi đã tham khảo ý kiến cha Giám đốc, các Cha Giáo và các trưởng ban cũ.

BTV làm việc dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Cha Giám Đốc, cùng với Cha Giám Đốc lo liệu điều hợp và thực hiện chương trình sinh hoạt toàn trường. BTV cùng với các Cha trong Ban Đào Tạo lãnh trách nhiệm về trật tự kỷ luật chung.

Thư ký chịu trách nhiệm ghi biên bản các buổi họp chung, bố trí chụp ảnh và kiểm tra nhật ký Chủng viện do anh em trực trường đảm nhận.

Thủ quỹ chịu trách nhiệm giữ quỹ và chi tiêu cho việc chung của BTV.

BTV nhập học trước ít ngày để chia tổ cho năm học mới, chuẩn bị nhà cửa tiếp đón anh em nhập học.

Hội đồng chủng sinh

Hội đồng chủng sinh (HĐCS) gồm BTV, các trưởng lớp, trưởng tổ và trưởng ban ngành.

HĐCS đại diện cho chủng sinh toàn trường và đóng góp ý kiến tham mưu cho Ban Đào Tạo. Cha Giám Đốc và Ban Đào Tạo sẽ họp với HĐCS ba lần vào đầu, giữa và cuối năm học.

Khi cần và với sự chấp thuận của Cha Giám Đốc, BTV cũng có thể họp HĐCS để triển khai thực hiện những công việc chung của chủng viện.

CÙNG NHAU HỌC TẬP: LỚP

Lớp có một lớp trưởng và một lớp phó do lớp đề cử vào đầu năm học để liên hệ với Ban Đào Tạo, BTV, và lo cho sinh hoạt của lớp diễn ra trong bầu khí huynh đệ và trong trật tự chung, nhằm trợ lực cho việc tự đào tạo.

Trưởng và phó lớp

* Chịu trách nhiệm về quỹ lớp (ghi tên, ngày mượn, số tiền cho mượn – ngày trả, số tiền trả – báo cáo đầu và cuối học kỳ).

* Liên hệ với Cha Giám Học để biết và thông báo cho anh em chương trình học (tuần – tháng – học kỳ)

* Liên hệ với Cha Giám Học, quý Cha giảng viên để lãnh hoặc xin in giáo trình cho anh em.

* Phân chia các nhóm học tập, thuyết trình.

* Làm trung gian đề đạt những nguyện vọng về học tập với Cha Giám học và quý giảng viên liên hệ.

* Nhắc nhở anh em làm bài và nộp bài đúng thời hạn.

* Báo cáo những người vắng mặt trong các giời lên lớp.

* Trước mỗi giờ lên lớp, xem lại bảng, bàn ghế giảng viên.

* Làm sổ lưu: Ghi số tiết các môn học trong năm có giảng viên hướng dẫn.

CÙNG NHAU SINH HOẠT: TỔ

Để giúp nhau tự luyện, chủng sinh sẽ sinh hoạt theo tổ trong việc trực tuần, lao tác, chia sẻ Lời Chúa, du ngoạn (hoặc cắm trại) và thể thao. Đầu năm học BTV lên danh sách các tổ để xin Cha Giám Đốc phê chuẩn, mỗi tổ gồm khoảng 12-15 người, thuộc đủ các lớp và thuộc những địa phương khác nhau. Riêng bốn anh em BTV không thuộc về các tổ. Trong ngày đầu năm học mới, các tổ viên đề cử Tổ trưởng và Tổ phó để lo cho sinh hoạt của tổ.

Trong tổ, các thành viên lớp trước cần ý thức làm gương sáng cho lớp sau, truyền kinh nghiệm cho lớp sau. Mỗi tổ sẽ tự tổ chức và phân công phân nhiệm để tất cả cùng chia sẻ trách nhiệm chung và có cơ hội phát huy tiềm năng trong tinh thần liên đới huynh đệ.

Mỗi cuối tuần, Trưởng BTV hoặc Phó BTV đặc trách sinh hoạt củng họp với các tổ trưởng và tổ phó để nhìn lại tuần qua theo hướng xem – xét – làm, để định hướng và phân công cho tuần lễ mới. Sau đó, mỗi tổ họp riêng, hoặc để chia sẻ Lời Chúa hoặc để thảo luận về công việc của tuần qua và tuần mới.

CÙNG NHAU PHỤC VỤ: CÁC BAN NGÀNH

Mỗi Ban ngành cần có ít là hai người phụ trách. Các Trưởng và Phó Ban ngành chịu trách nhiệm:

* Liên hệ với Cha Phụ trách và với BTV nhằm đề xuất những kế hoạch và cách thực hiện trong năm học.

* Phối hợp với BTV và các ban ngành liên hệ khi thực hiện kế hoạch.

* Theo dõi sinh hoạt của ngành, ghi nhận những góp ý của Ban Đào tạo và anh em.

* Chuẩn bị những anh em có khả năng về ngành mình cho năm học mới.

* Nhận định tình hình và ưu khuyết điểm vào cuối học kỳ, cuối năm học về sinh hoạt của ngành mình.

PHẦN II
NỘI QUY

Phần Nội Quy gồm các mục: 1. Thời biểu – 2. Sự thinh lặng – 3. Nơi chốn – 4. Liên lạc với bên ngoài – 5. Sức khỏe – 6. Phương tiện học tập, và – 7. Ban ngành.

I. THỜI BIỂU

Hàng ngày

Hàng tuần

Hàng tháng

Hàng năm

II. SỰ THINH LẶNG

Bầu khí thanh tịnh là nguồn trợ lực cho đời sống hiệp thông, cần thiết cho sự cảm nhận sự hiện diện của Chúa và để cho sự hiện diện đó thu hút mình (x. PDV 47). Do đó, mỗi chủng sinh có bổn phận quan tâm bảo trì bầu khí đó, đặc biệt ở những nơi dành cho cầu nguyện, học tập.

Khi thiếu vắng bầu khí đó, mỗi chủng sinh cùng những người hữu trách có nhiệm vụ nhắc bảo nhau trong tình liên đới huynh đệ.

a/ Những nơi thanh tịnh là: Nhà nguyện, phòng ở, hành lang khu vực phòng ở và cầu thang dẫn lên khu vực phòng ở.

b/ Những lúc thanh tịnh là: giờ làm việc đạo đức, giờ học riêng, giờ nghỉ trưa và tối.

Đặc biệt từ 8 giờ tối đến trước giờ ăn sáng hôm sau là thời gian thinh lặng thánh.

Ở những nơi và những lúc trên, khi có việc rất cần thiết mới được nói, nhưng phải cố gắng nói nhỏ và gọn, hoặc đi đến một nơi khác mà nói để khỏi làm mất sự thanh tịnh của người khác.

III. NƠI CHỐN

Phòng ăn

a/ Mọi người quan tâm góp phần bảo quản phòng ăn sạch sẽ, trật tự và tạo điều kiện dễ dàng cho công tác dọn dẹp vệ sinh.

b/ Vì lý do sức khoẻ, có thể trình với Cha Quản lý để ăn chế độ riêng.

c/ Khi có lý do chính đáng cần tổ chức liên hoan nhóm, tổ, ban nghành ở trong hoặc ngoài Chủng viện: phải xin phép Cha Giám đốc

Phòng riêng

Phòng riêng là nơi suy nghĩ, cầu nguyện, làm việc riêng, ngủ nghỉ nên thường xuyên cần bầu khí thanh tịnh, trật tự và vệ sinh. Mọi người cần quan tâm tôn trọng bầu khí ấy. Vô tình hay cố ý phá vỡ bầu khí ấy đồng nghĩa với thiếu ý thức, thiếu tự trọng và thiếu tôn trọng anh em.

– Không được vào phòng riêng của người khác. Khi có việc cần thì được nhưng nói ngắn gọn.

– Không được tụ tập ăn uống trong phòng riêng.

– Sử dụng điện: không nấu nướng trong phòng riêng, không tự ý nối thêm thiết bị điện.

– Chỉ được đánh đàn trong phòng riêng trong giờ chơi buổi chiều.

– Nếu cần dùng radio để nghe tin tức hoặc máy cassette để học ngoại ngữ, phải dùng headphone.

– Để khỏi mất giờ và phân tâm, chủng sinh không được dùng những thiết bị giải trí riêng như máy Walkman, MP4, máy chơi games v.v.

IV. LIÊN LẠC VỚI BÊN NGOÀI

Nhà khách

a) Chủng sinh chỉ được tiếp khách nơi nhà khách. Khi tiếp khách, phải ăn mặc lịch sư.

b) Nhà khách cần được bảo quản trật tự vệ sinh và thanh lịch.

c) Giờ thông thường để tiếp khách là: Chúa nhật từ 7:30 – 18:00: Ngày thường: 12g00 – 12g30 và 16g15 – 18g00. Khi có lý do chính đáng cần tiếp khách vào giờ khác, phải xin phép Cha Giám đốc, và chỉ tiếp ngắn gọn.

d) Có thể đưa khách tham quan Chủng viện vào những giờ thông thường để tiếp khách. Muốn dẫn khách tham quan cần trình với Cha Giám đốc.

Điện thoại

– Giờ được gọi điện thoại giống như giờ được tiếp khách, và từ sau cơm tối đến giờ kinh tối. Khi cho người quen số điện thoại Chủng Viện, chủng sinh nên thông báo cho họ biết giờ được gọi điện thoại.

– Khi nói chuyện qua điện thoại, cần lịch sự, ngắn gọn và thận trọng trong lời nói.

– Khi chuông điện thoại reo, ai ở gần đó nên bắt máy và đi báo cho người anh em được gọi.

– Nếu gọi ra ngoài, nhớ thanh toán tiền một cách công bình.

– Chủng sinh không được dùng điện thoại di động và máy nhắn tin trong thời gian học ở Chủng Viện.

V. SỨC KHỎE

Mỗi chủng sinh phải biết cách giữ gìn và tăng cường sức khỏe của mình qua việc tự tạo cho mình một chế độ ăn uống ngủ nghỉ điều hoà và tiết độ, qua việc chuyên cần tập luyện thể dục thể thao, qua việc thực hành những biện pháp phòng bệnh. Khi cần sự giúp đỡ, liên hệ với Cha phụ trách y tế hoặc với anh em phụ trách y tế.

– Khi ra ngoài để khám và điều trị bệnh, phải có ý kiến chấp thuận của Người chị trách nhiệm về y tế (những trường hợp ít quan trọng) và của Cha phụ trách y tế (trường hợp quan trọng).

– Phí tổn điều trị những bệnh thông thường do Chủng viện chi. Phí tổn điều trị trong những trường hợp tốn kém thì do gia đình hoặc Giáo phận.

VI. PHƯƠNG TIỆN HỌC TẬP

Máy vi tính

Chủng sinh được sử dụng máy vi tính riêng, để hỗ trợ việc học, nhận và gửi e-mail, truy cập những trang mạng đã được cho phép (Không xem phim ảnh, chơi trò chơi, nghe nhạc và học những phần mềm tin học ngoài phần soạn thảo văn bản).

Tất cả các máy vi tính cá nhân được để trong phòng vi tính chung của Chủng viện. Sử dụng máy vi tính trong phòng vi tính: theo nội qui của phòng.

Thư viện

Chủng sinh chấp hành nội quy thư viện, giữ gìn sách, trả sách đúng thới hạn.

VII. BAN NGÀNH

1. Ban Mục vụ

– Cùng với Cha phụ trách Mục vụ và BTV lo đặt kế hoạch thực tập mục vụ trong năm học

– Liên hệ với những nơi thực tập mục vụ

– Bố trí chủng sinh đi thực tập mục vụ

– Tổ chức những giờ học hỏi, thực tập về sinh hoạt: ca hát, trò chơi, chuyên môn về trại…

2. Ban Phụng vụ

– Bảo quản đồ lễ và vật dụng trong phòng thánh

– Giặt khăn thánh, áo lễ, đồ dùng trong phòng thánh

– Theo dõi và hỗ trợ tổ trực phụng vụ và tổ công tác vệ sinh thuộc khu vực nhà nguyện, cung thánh, bàn thờ…

– Phối hợp với BTV phân công các tổ trực phụng vụ và người xướng kinh trong tuần.

– Dọn bánh rượu vào mỗi sáng và dọn toà giải tội vào ngày tĩnh tâm.

– Theo dõi và hỗ trợ tổ trực phụng vụ chưng bông bàn thờ, cung thánh.

– Liên hệ với Ban Văn hóa – Nghệ thuật : Trong các mùa phụng vụ, các tháng có tôn kính đặc biệt.

– Liên hệ Ban Văn hóa thực hiện bảng mừng bổn mạng (Chủng viện, quý Cha, anh em) và dịp lễ đặc biệt.

– Liên hệ với Cha phụ trách tĩnh tâm để thông báo chương trình tĩnh tâm cho anh em và phân việc cho anh em, đặc biệt là tổ trực.

– Ghi bảng hướng dẫn đọc Phụng vụ Giờ kinh khi cần thiết.

– Cập nhật hoá danh sách “Bảng Hiệp thông” (thí dụ: ngày bổn mạng, ngày chịu chức, ngày giỗ…).

Ghi chú: Phận vụ của người xướng kinh trong tuần:

* Xướng kinh trong các giờ kinh nguyện

* Rao lịch đầu tuần

* Đọc Tin mừng sau kinh tối mỗi ngày

* Soạn và hướng dẫn nguyện ngắm

* Xướng ý cầu nguyện cho các nhu cầu khác nhau trước giờ kinh hay trước thánh lễ.

3. Ban Thánh nhạc

– Phụ trách công tác tập hát, dọn bài hát và đệm đàn ngày thường, lễ đặc biệt và ngày Chúa nhật

– Bảo quản các sách hát của Chủng viện và những nhạc cụ của cộng đoàn

– Tổ chức các ban nhạc

– Tổ chức các lớp ngắn hạn về Thanh nhạc và Ca Trưởng

– Tổ chúc lớp dạy đàn

4. Ban Tiếp tân

– Thường xuyên: Chăm sóc các phòng các cha giáo và phòng khách: Quét dọn.

. Chuẩn bị phòng cho các Cha giáo ở xa tới dạy

. Chuẩn bị nước giải khát cho các Cha giáo giảng dạy

– Tiếp đón và hướng dẫn khách đến phòng và chỉ dần các nơi cần thiết.

– Những dịp đột xuất có khách đến tham quan Chủng viện và những dịp lễ có đông khách:

– Cùng với BĐD Trường chủ động tiếp đón khách.

– Cùng với người phụ trách ẩm thực lo bữa ăn cho khách.

– Hướng dẫn khách tham quan Chủng viện sau khi có sự đồng ý của Cha Giám đốc.

5. Ban Điện Nước

– Bảo quản và sử dụng máy phát điện

– Bảo trì và sữa chữa mạng lưới điện

– Phụ trách âm thanh, ánh sáng tại các nơi cần thiết

– Mở, tắt máy TV và Video.

– Bơm nước

– Kiểm soát và báo cáo với Cha phụ trách về tình trạng hệ thống nước (nếu có trục trặc)

6. Ban Lao động

– Bảo quản các dụng cụ lao động

– Phân chia công tác vệ sinh cho các tổ (hàng tuần và đột xuất)

– Kiểm tra và nhắc nhở các tổ công tác

7. Ban Thư viện

a. Quản lý Thư viện

– Nhập sách mới vào thư viện

– Cho mượn sách và thu hồi sách

– Kiểm tra và bảo quản sách

– Giới thiệu sách mới

b. Điều hành và bảo quản phòng vi tính của Thư viện

8. Ban Y tế

a. Liên hệ với Cha phụ trách:

– Mua thuốc cho phòng bệnh

– Tổ chức khám sức khoẻ định kỳ

– Báo những trường hợp bệnh nặng

b. Quản lý thuốc và các y cụ

c. Vệ sinh phòng ngừa bệnh:

– Báo cáo trước và ngăn ngừa các dịch vụ: cúm, sốt rét…

– Theo dõi các bệnh mãn tính

– Điều trị:

– Cấp thuốc điều trị những bệnh thông thường

– Tiêm chích thuốc

– Liên hệ với Lớp lo cơm cháo cho bệnh nhân

– Chuyển bệnh nhân đi khám và điều trị bên ngoài.

9. Ban Thể thao

– Tạo điều kiện cho anh em vui chơi giải trí

– Tạo bầu khí luyện tập thể dục thể thao để trau dồi sức khoẻ

– Bảo quản các dụng cụ thể thao

– Tổ chức các cuộc thi đấu trong nội bộ Chủng viện và Chủng viện với bên ngoài, để nối kết tình thân hữu và nâng cao trình độ kỹ thuật.

– Tổ chức những buổi tập luyện kỹ thuật cho các bộ môn thể thao.

10. Ban Văn hoá – Nghệ thuật

– Linh động bầu khí các giờ hội thảo, trao đổi…

– Chọn phim để chiếu tối Thứ Bảy (tuỳ thời gian thích hợp)

– Mở TV cho anh em xem tin tức sau cơm tối mỗi ngày

– Tổ chức những ngày vui, đêm vui văn nghệ khi có thể

– Trang trí cho các dịp lễ

– Liên hệ với cha Đặc trách để chọn đặt một số sách, Báo, Tạp chí… trong phòng tham khảo

– Bảo quản sách báo trong phòng tham khảo.

– Đăng ký báo và phân phối báo, thư tín…

11. Ban Cây kiểng

– Trồng và chăm sóc các cây kiểng trong khuôn viên Chủng viện.

12. Ban Vi tính

– Điều hành và bảo quản Phòng Vi tính ngăn nắp, sạch sẽ, đúng với Nội quy của Phòng

– Phối hợp với BTV sắp xếp vị trí đặt máy vi tính cho các lớp

13. Ban Phô-tô

– Điều hành và bảo quản phòng máy ngăn nắp, sạch sẽ

– Phối hợp với BTV và các Lớp để in ấn tài liệu của Trường.


LỜI KẾT

Bản Định Hướng và Nội Quy này đã được Đấng Bản Quyền hai giáo phận phê chuẩn để áp dụng trong thời gian…. Năm.

……….


 








[1] Đường Hoàn Thiện: IV,5

[2] Ví dụ đối chiếu với bi, trí, dũng của Phật giáo hoặc nhân, nghĩa, trí, tín của Nho giáo


About The Author

Number of Entries : 67

© TRANG THÔNG TIN CHÍNH THỨC CỦA ĐẠI CHỦNG VIỆN VINH THANH

Scroll to top