You Are Here: Home » TÍN LÝ » Sự Khiêm Hạ Của Đức Giêsu Nơi Hành Động Rửa Chân Cho Các Môn Đệ (Jos. Nguyễn Văn Hảo)

Sự Khiêm Hạ Của Đức Giêsu Nơi Hành Động Rửa Chân Cho Các Môn Đệ (Jos. Nguyễn Văn Hảo)

SỰ KHIÊM HẠ CỦA CHÚA GIÊSU NƠI HÀNH ĐỘNG RỬA CHÂN CHO CÁC MÔN  ĐỆ

 “Vậy, nếu Thầy là Chúa và là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng hãy rửa chân cho nhau” (Ga 13, 14).

DẪN NHẬP

Môsê, một kẻ chăn chiên tầm thường, nhưng đã trở nên vị ngôn sứ và thủ lãnh vĩ đại của dân Israel nhờ được đặc ân vô cùng lớn lao, đó là được Thiên Chúa tuyển chọn và mặc khải Danh Thánh Ngài, Danh Giavê (x. Xh 3, 1-14), để nhờ và với Danh Thánh đó, ông đã giải thoát Israel khỏi nô lệ Ai cập và dẫn đưa họ qua sa mạc tới đỉnh núi Si-nai, nơi mà qua ông, Thiên Chúa đã kí kết Giao ước với Israel và ban truyền Mười Giới Răn làm tiêu chuẩn sống cho Israel cũng như cho toàn thể nhân loại. Dẫu vậy, trong Môsê vẫn luôn khắc khoải một nỗi khát vọng vô biên, khát vọng của “con người được tạo dựng theo và giống hình ảnh Thiên Chúa”(St 1, 26), nên ông đã khẩn cầu cùng Đức Chúa: “Lạy Chúa, xin cho con được thấy vinh quang Ngài” (Xh 33, 18). Nhưng xót thương thay cho Môsê, Thiên Chúa chỉ phán cùng ông: “Ngươi sẽ xem thấy lưng Ta, còn tôn nhan Ta thì không được, vì con người không thể thấy tôn nhan Ta mà vẫn còn sống” (Xh 33, 23.20). Thế là khát vọng sâu xa đó vẫn mãi là ước vọng treo lơ lửng trong “bầu trời” Cựu ước, và con người giống như kẻ ngồi nơi chốn vực thẳm của mình mà ngước lên Trời cao trong nỗi u hoài Nhan Thánh!

Như thế, phải chăng Thiên Chúa như kẻ “chơi trò ú tim” bằng cách đặt để khát vọng vô biên nơi sâu thẳm lòng người để cho “vực thẳm con người luôn gào thét vực thẳm Thiên Chúa”, và để con người chạy quanh kiếm tìm Ngài khắp nơi trong nỗi tuyệt vọng của kiếp thân tro bụi?

Không! Thiên Chúa “không chơi xấu”, Ngài không bao giờ khơi lên trong con người niềm khát vọng chính đáng nào mà không thể đáp ứng, chỉ có điều con người đã sẵn sàng chuẩn bị cho Ngài một chổ xứng đáng trong cõi lòng mỗi người cũng như trong cõi lòng nhân thế để Ngài có thể cư ngụ hay chưa?

Thánh Gioan Tông đồ viết: Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta, và chúng tôi đã thấy vinh quang của Người (Ga 1, 14). Nói như thế, phải chăng chính các tông đồ đã có khả năng trổi vượt trên cả Môsê, để có thể ngắm nhìn vinh quang Thiên Chúa? Thánh nhân viết tiếp: “Thiên Chúa chưa ai thấy bao giờ, nhưng Con Một là Thiên Chúa, và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết” (Ga 1,18). Nói theo kiểu Hy lạp thì Ngài đã trở nên người chú giải Thiên Chúa cho chúng ta. Nhưng dùng từ tiếng Đức-Auslegen-có lẽ sát hơn: Đức Giêsu đã phô bày Thiên Chúa, đã kéo Thiên Chúa ra khỏi chính Ngài. Nói cách mạnh mẽ như thánh Gioan trong thư thứ nhất của Ngài: Đức Giêsu đã phô bày Thiên Chúa ra cho chúng ta nhìn ngắm và đụng chạm (x. 1Ga 1, 1). Ôi còn lời nào chướng tai gai mắt hơn, còn cớ vấp phạm nào lớn hơn, đối với những người mà luôn coi Môsê như vị ngôn sứ vĩ đại nhất của Cựu ước, vì đã được đàm đạo với Thiên Chúa diện đối diện (Xh 33, 11)! Chưa hết, đức tin Kitô giáo còn khẳng quyết rằng chính qua con người đó – Đức Giêsu thành Nazareth-mà ý nghĩa sâu xa nhất của phận người được tỏ lộ – ngay trong phận người- cũng đồng thời là Thiên Chúa. Tin như thế thì nào có khác nào rơi vào một chủ trương “thực chứng” quái gở? Có nên bám vào một biến cố cỏn con trong thời gian như thế hay không? Trên đại dương mênh mong của lịch sử, liệu chúng ta có dám liều đặt tất cả đời mình, thậm chí cả lịch sử lên một chút biến cố chẳng khác gì cộng rơm hay không? Một ý tưởng phiêu lưu như thế đã là khó hiểu nổi đối với tư tưởng cổ đại và Đông Phương rồi. Ngày nay nó lại bị lối suy nghĩ hiện đại, đặc biệt là “phương pháp phê bình lịch sử” vốn là phương pháp nghiên cứu thực tại lịch sử dưới góc độ thuần tuý khoa học, tiếp tục gây khó dễ hoặc ít ra gây khó dễ ở bình diện không giống như trước đây.[1]

Vâng Thiên Chúa đã đến thật gần chúng ta đến nỗi chúng ta có thể chẳng những đụng chạm, mà còn có thể giết chết Ngài, và vì thế, Ngài dường như không còn là Thiên Chúa của chúng ta nữa. Đó chính là điều mà đức tin Kitô giáo luôn xác tín và mời gọi con người tin theo, nhưng đó cũng lại là cớ vấp phạm lớn nhất cho con người, nhất là cho con người hôm nay. Tuy nhiên, dưới cái nhìn của đức tin Kitô, Đức tin luôn tỏ ra tính hữu lý của mình. Đó là hữu lý của mạc khải Thiên Chúa dành cho con người qua mầu nhiệm tình yêu được thể hiện trong sự tự hạ hay sự khiêm hạ của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu thành Nazareth. Hay nói cách khác, chỉ có “cái lý” của Tình Yêu mới có thể giải thích nổi mầu nhiệm sự khiêm hạ của Thiên Chúa nơi con người Đức Giêsu thành Nazareth.

Mầu nhiệm tự hạ của Chúa Giêsu được thể hiện trong suốt cả cuộc đời của Ngài ở dương thế và có thể nói ngay cả trong sâu thẳm của mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Tuy nhiên, vì chỉ giới hạn trong khuôn khổ của một vài trang giấy, nên chỉ suy tư về sự khiêm hạ của Đức Giêsu trong hành động Rửa Chân cho các môn đệ mà thôi (x. Ga 13, 1-15). Bởi vì, “Biến cố Rửa Chân, như là một cái nhìn bao quát, tóm tắt toàn thể sứ điệp, cuộc đời và cuộc Thương khó của Đức Giêsu. Và cũng chính qua hành vi này, chúng ta sẽ thấy Đức Giêsu làm gì và là gì.[2]

 1.  “Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em”

Một người trước khi chết thường để lại cho người thân một cái gì đó quý báu nhất. Đó có thể là một kỉ vật quý nhất mà mình nắm giữ bấy lâu nay, hoặc là một số kinh nghiệm quý báu mà mình đã đúc rút được qua bao năm tháng ở đời, hoặc là một cử chỉ thân thiết như ôm hôn hay là lời chúc phúc cho con cháu,… Chúa Giêsu cũng vậy, khi Ngài biết Giờ của Ngài đã gần đến, Giờ phải lìa bỏ thế gian để về cùng Chúa Cha, Giờ hoàn tất công cuộc cứu chuộc mà Chúa Cha đã trao phó cho Ngài phải hoàn thành, Giờ Khổ Nạn Thập Giá và Phục Sinh, Giờ Người Con được tôn vinh và nhân loại được cứu độ, thì Ngài đã trăn trối lại cho các môn đệ một nghĩa cử tuyệt vời mà ngay kẻ bán Ngài hay kẻ chối Ngài sau này có lẽ không bao giờ quên, đó là hành động Rửa Chân của Ngài cho các môn đệ của mình. Qua hành động này mà Gioan đã thay cho trình thuật Chúa Giêsu lập bí tích Thánh Thể, thể hiện một tình yêu đi đến tận cùng của Chúa Giêsu: “Ngài đã yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1).

Trước hết, Gioan giới thiệu về Đức Giêsu bằng một câu thật đơn giản: “Ngài bởi Thiên Chúa mà đến và sắp trở về cùng Thiên Chúa”(Ga 13, 3). Thật đơn giản, nhưng gói trọn nguồn gốc thần linh cũng như hành trình cuộc đời của con người Giêsu thành Nazareth-hành trình “đi xuống” và “đi lên”; hành trình “đi ra” và “trở lại”, hành trình đi ra khỏi cung lòng Chúa Cha để xuống thế làm người, chịu nạn chịu chết, xuống ngục âm ty, rồi sống lại và trở về bên hữu Chúa Cha. Đức Giêsu, như lời tựa của Gioan trình tả, không chỉ là một con người bình thường như bao con người cụ thể khác, trước hết Ngài là chính Ngôi Lời, tiền hữu đời đời trong Thiên Chúa, luôn quy hướng về Thiên Chúa và là chính Thiên Chúa, nhưng đã hoá thành nhục thể và cắm lều ở giữa chúng ta (x. Ga 1, 1.14). Ngài thực sự hay vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng đã cởi bỏ y phục vinh quang ra một bên và trở nên một người nô lệ: trong một bữa ăn, Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng” (Ga 1, 4). Chân lý này lại được thánh Phaolô đáo đi đáo lại qua các thư của Ngài. Trong thư gửi tín hữu Rôma, ngài viết: “Thiên Chúa sai Con mình đến mang thân xác giống như thân xác tội lỗi chúng ta” (8, 3), và vì chúng ta, Đức Giêsu đã trở nên nghèo khó: “Anh em biết Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã có lòng quảng đại như thế nào: Ngài vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em nên giàu có” (2Cr 8, 9); hơn thế, Ngài còn trở nên đồ bị nguyền rủa, để cứu chúng ta khỏi bị nguyền rủa bởi Lề Luật (Gl 3, 3). Còn thư Do Thái nói về một cuộc đàm đạo sâu xa trong Ba Ngôi: “Khi vào trần gian Đức Kitô nói: ‘Chúa không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (Dt 10, 5-7; x. 2, 14.17). Nhưng đoạn văn nổi tiếng nhất là thư gửi tín hữu Philiphê (2, 6-11). Đó là một thánh thi- thánh thi được hát đi hát lại trong các giờ kinh chiều I Chúa nhật- và có lẽ là đoạn văn mang ý nghĩa Kitô học đầy đủ nhất của Tân ước[3]. “Bản văn cho thấy tâm tình của Đức Giêsu Kitô, mang giá trị mẫu mực như thế nào: Ngài là Thiên Chúa nhưng đã không dành lấy địa vị ngang hàng đó, ngược lại, đã mang lấy phận tôi tớ, đến mức hoàn toàn trút bỏ chính mình. Ngài trút bỏ chính mình đi, biến mình thành không, nghĩa là, không còn sống cho chính mình nữa, ngược lại, hoàn toàn sống cho kẻ khác.”[4]

Đức Kitô đã “trút bỏ”(Kenóo)- tháo cạn, bỏ ra, dốc hết, hư vị hoá – “địa vị ngang hàng với Thiên Chúa” và nhận lấy “thân phận nô lệ”. Lẽ dĩ nhiên, không phải Ngôi Lời không còn là Thiên Chúa nữa, hay giảm bớt thiên tính, hoặc là tạm ngừng hiện hữu là Thiên Chúa như phái hạ phục thuyết chủ trương! Ngài từ bỏ vinh quang, tức không muốn xuất hiện như một thần linh, không để lộ những thuộc tính có sức thuyết phục làm cho thế gian phải công nhận Ngài là Thiên Chúa, và Ngài “bỏ” “quyền” được đặc đãi như một thần linh. Để hiểu câu này cho dễ dàng hơn, thì nên nhớ lại thái độ của Ađam trong Vườn Địa Đàng: được tạo dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, Ađam cố chiếm cho được địa vị “như những vị Thần” (St 3, 5), mà không được quyền có và không thể có được; trái lại, Đức Giêsu không “bám lấy” hoặc “tranh giành để giữ lấy” địa vị ấy (x. Pl 2, 6; x. St 3, 5), mà lại từ bỏ vinh quang sẵn có của mình (x. Ga 17, 5) và trở nên tôi đòi. Tác giả muốn ám chỉ đến thân phận của Tôi tớ Giavê ở trong Is 53. Cụ thể mà nói, điều đó có nghĩa là trở thành người phàm (Pl 2, 7) như con cái Ađam, mang thân phận sa đoạ do tội lỗi gây nên (x. St 3, 17-19)[5]…            

Khi suy tư về sự tự hạ của Chúa Giêsu, cha Moingt viết: “Đối với Ngôi Lời, sự tự huỷ không đơn giản chỉ là sự kiện mặc cho mình một xác thể, mà là nhận lấy xác thể đó cùng với thân phận ở trong trần thế, và có thể thụ cảm với mọi sự và với mọi tình huống cuộc đời, trong khi trên thực tế, Ngôi Lời có thể thông ban cho xác thể đó thân phận vinh quang ngay tức khắc; và còn nhận lấy xác thế đó cùng với ý muốn hạ mình, mặc dù trên thực tế, Ngài có thể hoàn toàn miễn trừ điều đó mà không vi phạm một gì tới những quy luật chi phối bản tính chúng ta.

Nhưng sự hạ mình đích thật chỉ có giữa các ngôi vị đồng hàng với nhau, khi một trong các ngôi vị đó đánh mất đi phận đồng hàng đó. Sự tự huỷ của Con, và vì thế, phải được lượng giá trong tương quan với Cha của Ngài: đó là sự biến đổi từ tương quan ngang hàng giữa Cha và Con qua tương quan không ngang hàng và phải phục luỵ, và từ tình trạng liên kết mật thiết giữa các Ngài với nhau sang tình trạng xa cách: “Cha Ta thì cao trọng hơn Ta”. Nói cách khác, sự tự huỷ của Con, tự nó không đụng chạm tới cái bất biết nơi Ngài (Bản thể Thiên Chúa) mà động chạm tới mối quan hệ hữu vị của Ngài với Cha, khi nơi thân xác, hữu thể đó mang một thiết định mới: đó là Con phải luỵ phục và vâng lời Cha…”[6]

 Đức Giêsu không chỉ cởi bỏ chiếc áo vinh quang và mặc lấy tấm thân nô lệ của chúng ta, nhưng còn sống kiếp nô lệ, làm công việc của kẻ nô lệ nữa. Cụ thể, Ngài đã đứng tại cửa và làm công tác phục vụ trong việc rửa chân cho các môn đệ: trong một bữa ăn Đức Giêsu đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau” (Ga 13, 5). Thánh sử Gioan mô tả thật chi tiết từng cử chỉ một, chi tiết đến độ các tông đồ, các linh mục, cũng như mỗi người chúng ta “bắt chước” lại một cách dễ dàng và không thể nào quên được. Và quả thực như vậy, ngay hôm nay, cứ vào độ chiều thứ năm Tuần Thánh, chúng ta lại được chứng kiến cách rõ ràng và sống động cử chỉ rửa chân của linh mục cho 12 người giáo dân đại diện cho cộng đoàn, và tượng trưng cho 12 tông đồ năm xưa. Có lẽ vì tầm mức quan trọng và vô cùng ý nghĩa của cử chỉ này mà thánh Gioan đã trình thuật lại cách chi tiết như thế. Chúng ta tiếp tục suy tư để hiểu xem ngài muốn nói lên điều gì qua nghĩa cử đó, và hơn thế để biến nó “thành xương thành thịt” của cuộc sống mỗi người chúng ta.

Thật vậy, Đức Giêsu Kitô, vị Chúa và là Thầy đã cúi mình xuống trước tất cả các môn đệ cũng như trước từng môn đệ một để rửa chân cho họ. Nơi Ngài, vị Chúa tể muôn loài lại cúi mình xuống trước tất cả các thụ tạo cũng như mỗi một thụ tạo bé nhỏ của mình, Thầy Chí Thánh lại cúi mình xuống trước đám học trò bất xứng và tội lỗi. Đức Giêsu đã cúi xuống và không phải để rửa mặt hay đôi tay, nhưng là những bàn chân dơ bẩn, vấy đầy bùn lầy của họ và rửa cho sạch sẽ, để cho họ xứng đáng ngồi đồng bàn với Ngài và với anh em mình trong Bữa Tiệc Thánh Thể.

Để hiểu hơn về ý nghĩa của hành động Rửa Chân này, thiết tưởng chúng ta cần biết thêm một chút về phong tục rửa chân ở đất nước Do Thái thời Chúa Giêsu. Thường thì rửa chân là công việc của người nô lệ. Mà người nô lệ theo như luật Do Thái là người không có giá trị gì về mặt pháp lý. Họ chẳng qua là như những phương tiện của ông chủ, ông chủ có thể mua bán, đổi chác và sai làm bất cứ công việc gì mà ông chủ muốn, và khi tên nô lệ không còn “hữu dụng” cho ông nữa, thì ông có quyền đuổi ra khỏi nhà. Tóm lại, nô lệ đối với người Do Thái chỉ như một “món hàng” hay như “công cụ” lao động mà thôi!

Vậy mà Chúa Giêsu đã chấp nhận làm công việc của một người nô lệ khi cúi mình rửa chân cho các môn đệ, và cũng đồng nghĩa với việc Ngài tự hạ mình như người đồng vai đồng vế với kẻ nô lệ. Ngài thực sự trở nên tôi tớ, trở nên nô lệ của tình yêu, vì tình yêu và cho tình yêu, và sống trọn kiếp phục vụ nhân thế cho đến chết và chết trên thập giá. Qua đó, chúng ta mới thấy được Con Thiên Chúa đã hạ mình đến mức nào trước chúng ta, để nâng chúng ta lên và cứu độ chúng ta. Và hơn bao giờ hết, chính nơi hành động rửa chân này mà lời thâu tóm toàn bộ sự điệp Tin Mừng của Ngài được thể hiện cách sống động và trung thực nhất: “Thầy đến không phải để được người ta phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20, 28); chính nơi đây, lời dạy hãy học nơi Ngài mẫu gương về đức khiêm nhường mới rõ nét mồn một và đáng tin cậy nhất: “Hãy học với Ta vì Ta có lòng hiền hậu và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11, 29); và cũng chính nơi đây, chúng ta xác quyết cách chắc chắn cùng với thánh Gioan tông đồ rằng “giáo huấn của Đức Giêsu, nói cho cùng, là chính con người Ngài. Trọn vẹn con người Ngài là Con, là Lời, là Sứ Vụ; hành vi của Ngài cũng là diễn tả chính hữu thể thâm sâu của Ngài, là một với con người Ngài. Chính sự duy nhất giữa hữu thể và hành động như thế mới là nét độc đáo của Đức Giêsu.[7]

Nhưng có người lại bảo hành động của Đức Giêsu chẳng qua chỉ là một sự giả vờ, mang tính hình thức, cốt để làm gương cho các môn đệ và để rồi lưu danh nơi các môn đệ nói riêng và hậu thế nói chung, chứ thực chất thì chẳng ăn nhập gì với hữu thể của Ngài, hữu thể của Ngài vẫn mãi xa vời, tách biệt với hành động của Ngài. Thực sự không phải như thế, như có lần Ngài đã quả quyết cùng Tôma rằng chính Ngài là sự Thật (x. Ga 14, 6), Ngài không lừa dối ai và không ai lừa được Ngài. Thật vậy, “hành vi tôi tớ không còn được coi như một hành vi phô ra bên ngoài của Đức Giêsu, nhưng trái lại hành vi đó là toàn bộ cuộc sống của Ngài, đến nỗi hữu thể của Ngài là phục vụ. Và cũng chính vì Ngài trọn vẹn là phục vụ mà Ngài trọn vẹn là Con. Như thế, chính ở đây Kitô giáo đạt tới đích trên bước đường định lại các giá trị. Chính ở đây trắng đen mới rõ mồn một: Con Người tự hiến trọn vẹn cho tha nhân, tự nguyện bỏ mình, huỷ mình ra không- ra không không theo nghĩa đen, thì chính người đó mới là Con Người đích thực, Con Người của tương lai, chính nơi Con Người đó Thiên Chúa và phàm nhân nên một với nhau.[8]

Để hiểu rõ hơn về hành vi tôi tớ mà Đức Giêsu thực hiện cho các môn đệ qua hành động rửa chân, và cho chúng ta nơi Bí tích Hoà giải (qua bí tích này Chúa Kitô nơi con người Linh mục vẫn tiếp tục cúi mình xuống trên mỗi tội nhân và rửa họ sạch tội), chúng ta hãy nhìn lên Thánh giá Đức Giêsu, đúng hơn chúng ta hãy nhìn lên Tấm bảng với dòng chữ “INRI” được treo bên trên đầu Đức Giêsu. Tấm bảng này, do tổng trấn Philatô đã ra lệnh viết bằng ba ngôn ngữ chính thời đó là Do Thái, Hy Lạp và La Tinh, dịch là Giêsu Vua Dân Do Thái, là bản kết án Đức Giêsu thành Nazareth, và nghịch lý thay lại cũng là tấm bảng nói lên “lời tuyên xưng đức tin”, trở thành khởi điểm đích thực và căn nguyên sâu xa của niềm tin Kitô, của niềm xác tín Đức Giêsu là Đấng Kitô: “Chính trong tư cách là Đấng Bị Đóng Đinh mà Đức Giêsu là Đấng Kitô, là Vua. Bị đóng đinh, đó là cách thức làm vua của Ngài, thật vậy, đối với Ngài, làm Vua có nghĩa là tự hiến chính mình cho nhân loại, và chính trong hành vi trao hiến của chính mình mà Lời, Sứ Vụ và Hiện Hữu của Ngài nên một với nhau. Vì thế, hiện hữu của Ngài cũng là lời của Ngài. Ngài là Lời, bởi Ngài là tình yêu. Chính từ thập giá mà đức tin lại càng thấu hiểu rằng, Đức Giêsu không chỉ làm và nói điều gì đó.[9] Một lần nữa chúng ta lại quay về bản thánh thi gữi tín hữu Philiphê của thánh Phao lô (2, 9-11). Như bản bản văn tiếp tục cho thấy, cũng “chính vì sự tự huỷ chính mình cho người khác mà Ngài được đặt làm Chúa mọi sự, Chúa của hoàn vũ, tất cả đều phải bái lạy Ngài, nghĩa là phải thực hiện nghi thức và cử chỉ biểu lộ sự thần phục mà trong thực tế chỉ có bậc quân vương mới xứng được như vậy. Như thế, Đấng tự nguyện vâng phục lại xuất hiện như Đấng thống trị đích thực, và chính qua sự tự hạ đến mức huỷ mình ra không mà Đấng đó là Vua hoàn vũ.[10]

Tuy nhiên, khi bị đóng đinh trên thập giá, nhìn dưới khía cạnh nào đó vẫn còn có một chút ‘oai phong’ nào đó, ít nhiều có thể có xu hướng quy ngã, tự tôn, tựa như những anh hùng dân tộc dám đưa ngực ra cho người ta bắn và nhiều khi còn thách thức người khác bắn nữa, chẳng hạn như Nguyễn Thị Minh Khai, Trần Phú (?),…Nhưng với việc rửa chân, thì đúng là đòi hỏi một sự tự hạ đích thực, một sự quên mình triệt để nhất. Nếu chỉ cần lưu tâm đến mình một chút, thì không thể và không bao giờ làm được nghĩa cử đó. Đó là một cái nhìn hoàn toàn hướng về kẻ khác, một sự hiến trao hoàn toàn cho người mình yêu, một sự phục vụ không một chút vị kỉ, hoàn toàn vô vị lợi, hoàn toàn vô điều kiện, một sự phục vụ đến cùng; đó cũng là thể hiện một tình yêu hoàn toàn nhưng không của Đấng đến không phải để được phục vụ mà để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người(x. Mt 20, 28).

Ngoài ra, còn một điểm nữa cần nhấn mạnh thêm ở đây, là đích điểm của việc Rửa Chân hay mục đích của sự tự hạ của Đức Giêsu. Theo như trình thuật của thánh Gioan, sau khi rửa chân cho các môn đệ xong, Đức Giêsu mặc áo vào, về chổ của mình(x. Ga 13, 12). Vâng! Ngài đã cởi bỏ chiếc áo vinh quang của Ngài ra để vận lấy tấm áo nô lệ của chúng ta, và sau khi đã hoàn tất công việc phục vụ, Ngài lại về chổ của mình, về lại với địa vị của Người Con, địa vị ở bên hữu Chúa Cha mà Người Con có trước khi tạo thành thế gian (x. Ga 17, 4-5) và rồi bắt muôn loài muôn vật phải suy phục Ngài là Vua (x. Pl 2, 10-11); đồng thời nhờ việc phục vụ của Ngài mà Ngài làm cho các môn đệ được sạch sẽ để họ xứng đáng được ngồi đồng bàn với Ngài, với Thiên Chúa, và với anh em của mình trong Bữa Tiệc Thánh. Đó cũng chính là mục đích của Nhập Thể, của cuộc Thương Khó và Phục Sinh, cũng như của toàn bộ cuộc đời Đức Kitô Giêsu.

Nói cách cụ thể hơn, ‘Đức Kitô không chọn thân phận ấy đơn thuần vì thân phận ấy, song là vì vai trò đảm nhận trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Như thánh thi Pl (2, 6-11) ghi lại, người hưởng lợi chính là Đức Giêsu: “Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người” bằng cách ban tặng cho Ngài siêu Danh là Chúa, tức Ngài được hưởng vinh quang Thiên Chúa (Pl 2, 10-11, Ep 1, 20-22). Nhưng có nhiều bản văn khác trong Tân Ước cũng cho thấy là Đức Kitô đã tự hạ mình xuống để chúng ta được nâng lên: 2Cr 8, 9: giàu sang – ngèo khó – vì anh em – cho anh em nên giàu có; 2Cr 5, 21: Vô tội – tội lỗi – vì chúng ta – cho chúng ta nên công chính trong Ngài; 2Cr5, 15: Thiên sai – chết – vì tất cả- để họ sống cho Ngài; Gl 3,3: Thiên Sai- bị nguyền rủa do Luật – vì chúng ta – để khỏi bị nguyền rủa; Gl 4, 4: Con Thiên Chúa – con phụ nữ- để chúng ta nhận ơn làm nghĩa tử; Dt 2, 11tt: Địa vị cao – huyết nhục ta – vì anh em –  tiêu diệt thần chết và giải phóng ta.

Nhờ liên đới tính, việc tự hạ của Đức Kitô có một năng động lực kì diệu trong kế hoạch của Thiên Chúa. Tác động của Đức Kitô tiến hành theo kiểu nghịch lý: Ngài trở thành nghèo để làm cho ta nên giàu; Ngài trở thành bất lực để củng cố chúng ta; Ngài trở thành điên rồ để cho chúng ta được khôn ngoan,… Vì sao Thiên Chúa đã chọn đường lối như thế? Nhờ đâu mà hữu hiệu? Thần học không biết, đó là mầu nhiệm! Nhưng cũng có thể đoán được là nhờ năng lực của tình yêu mà mối liên đới ấy cho thấy. Loài người hưởng lợi ích ấy không phải một cách tự động, nhưng là qua nỗ lực chia sẻ gương sống của Đức Giêsu. Đào sâu về chủ đề này là nhiệm vụ của thần học về ân sủng.’[11]

Tóm lại, qua nghĩa cử Rửa Chân, “Đức Giêsu là Đức Chúa và là Thầy đi xuống tới chúng ta. Ngài bỏ y phục vinh quang ra một bên và trở nên một người nô lệ đứng tại cửa và làm công tác phục vụ trong việc rửa chân cho chúng ta. Đó là ý nghĩa của toàn thể cuộc đời và cuộc thương khó của Ngài: Ngài cúi xuống bàn chân dơ bẩn của chúng ta, cúi xuống sự dơ bẩn của nhân loại, và do tình yêu cao cả này, Người rửa chúng ta sạch sẽ. Người nô lệ phục vụ rửa chân. Hành động này được thực hiện để sửa soạn cho từng cá nhân xứng đáng ngồi vào bàn. Hành động này làm cho họ trở nên sẵn sàng như bạn hữu, hầu tất cả có thể cùng ngồi xuống dự tiệc chung với nhau. Có thể nói Đức Giêsu sửa soạn chúng ta, như Ngài đã làm để cho sự hiện diện của Thiên Chúa và cho tình bạn hữu chúng ta với nhau, để chúng ta cùng ngồi xuống dự tiệc. Đã bao lần chúng ta thấy mình không thể chịu đựng lẫn nhau, không xứng đáng ở với Thiên Chúa, lại được Ngài chào đón và chấp nhận. Có thể nói chính Ngài tự mặc lấy y phục nghèo nàn của chúng ta, và vì được Ngài nâng lên cao, chúng ta có thể ở với Thiên Chúa, chúng ta tiếp cận được với Thiên Chúa. Ngài đã cúi xuống để nâng chúng ta lên và để cứu độ chúng ta; Ngài vác lấy mỗi người chúng ta trên vai như những con chiên lạc và mang về cùng Thiên Chúa. Khi nào chúng ta tự nguyện đầu hàng trước tình yêu Thiên Chúa, chúng ta được rửa sạch. Ý nghĩa tình yêu này là, Thiên Chúa chấp nhận chúng ta một cách vô điều kiện, cho dù chúng ta bất xứng với tình yêu của Ngài, cho dù chúng ta không có khả năng liên lạc với Ngài, vì Ngài, Đức Giêsu Kitô, biến đổi chúng ta và trở nên một người anh em với chúng ta.”[12]   

2.  Rửa chân: mạc khải một Thiên Chúa hoàn toàn khác

Với ý hướng hoàn toàn tốt lành và với tình yêu phục vụ cách nhưng không của Đức Giêsu, tưởng chừng như không ai trong số các môn đệ dám lên tiếng, và tưởng chừng như không có gì phải bận tâm, vì đơn giản các môn đệ chỉ cần để yên cho Ngài rửa và rồi dần dần cảm nhận cho được tình yêu cao vời của Ngài, sau đó dâng lời tạ ơn, thế là xong! Nhưng thực tế lại quá phủ phàng, tình Trời thì rộng mà lòng người lại nhỏ bé, và đúng là không ai ngờ được chữ ngờ, bởi vì công việc phục vụ rửa chân chưa xong, thì Simon Phêrô, vị tông đồ cả, đại diện các tông đồ, đứng lên ngăn cản ngay lập tức: “Thưa Thầy! Thầy mà lại rửa chân cho con sao?” Và mặc dù kính nễ Thầy và được Thầy giải thích, ông vẫn không chịu hành vi rửa chân của Thầy: “Thầy mà rửa chân cho con, không đời nào con chịu đâu!” (x.Ga 13, 6.8). Xem qua chúng ta tưởng kiểu lí luận của Simon Phêrô chỉ là nông nổi và thiếu suy nghĩ của một kẻ chài lưới dốt nát, thất học. Nhưng suy nghĩ lại chúng ta mới thấy được có điều gì đó thật nghịch lý, thật như một cớ vấp phạm đối với chúng ta. Quả thế, lý do mà Simon Phêrô can ngăn Đức Giêsu có lẽ là thế này: ‘Thưa Thầy, Thầy mà làm như vậy, thì chúng con mất mặt và thất vọng lắm, quả Thầy cứ tiếp tục hành động khiêm hạ như thế, Thì Thầy còn là Thầy, là Đức Chúa của chúng con nữa hay không, Thầy có xứng là Đấng mà chúng con đã bỏ hết mọi sự và hết lòng tin tưởng phó thác đời mình và đi theo nữa hay không? Không như vậy đâu Thầy ơi! Vị Chúa và là Thầy mà chúng con ngưỡng vọng bước theo phải là Đấng Mêsia, là vị Vua oai phong lẫm liệt với áo cẩm bào rực rỡ ngự toà cao sang, không ai dám nhìn, vì “không ai nhìn thấy long nhan Vua mà vẫn còn sống” – đó là tội khi quân phạm thượng; Vị Chúa mà chúng con cần đến phải là Vị Tướng Lãnh đánh đâu thắng đó và Ngài sẽ khôi phục lại Israel và làm cho Israel trở thành một cường quốc về kinh tế, chính trị, tôn giáo,…Và có lẽ trong thâm tâm, ông muốn nói thêm với Đức Giêsu và với lòng mình rằng Vị Thiên Chúa mà Thầy trình tả cho chúng con không phải là “Vị Thiên Chúa” hợp với sở thích, ý muốn và lòng tin của chúng con đâu! “Vị Thiên Chúa” mà chúng con thờ lạy, yêu mến và tin theo phải là “Con Bò Vàng” do chính chúng con nắn đúc ra (x. Xh 32, 1-6)’. Và trải dòng lịch sử nhân loại lẫn lịch sử cứu độ, chúng ta đã chứng kiến biết bao nhiêu người, biết bao phong trào cũng đã nghĩ và làm như Simon Phêrô. Một triết gia vô thần tầm cở như Nietzsche lại “nắn đúc ra vị Thiên Chúa” theo kiểu duy luân lý, một vị “Thiên Chúa” cứ ngồi trên cao mà ra luật lệ bắt con người phải theo, rồi ‘rình rập’ để phạt và ‘xoi mói’ thâm thâm con người, để rồi sau đó ông đã hô hào “hãy giết chết Thiên Chúa!” đó đi. Kế đó, một J.P. Sartre lại khuôn đúc nên một vị “Thiên Chúa” giết chết tự do con người với luận điệu rằng “nếu Thiên Chúa hiện hữu thì con người không còn tự do, và con người chỉ tự do khi không có Thiên Chúa.” Và sống trong bối cảnh tôn giáo của người Á Đông, chắc chúng ta cũng không khỏi tự hỏi: Liệu chúng ta tin như thế có hợp với tâm tính đạo đức của người mình không? Hay tốt hơn, “chúng ta hãy cứ tin tưởng, ngưỡng vọng và phó thác vào một Đấng đời đời ẩn dấu như người Á Đông mình có phải đơn giản hơn không? – “Đạo khả Đạo phi thương Đạo, Danh khả Danh phi thường Danh” mà! Thiên Chúa cứ ở cách xa chúng ta muôn trùng có phải hơn không? Hay nếu ta cứ ở trần thế mà an tâm ngước lên Đấng đời đời huyền nhiệm không thể thấu hiểu thì có phải là đỡ phức tạp hơn là tin vào tính hiện thực của niềm tin Kitô, phó thác mình cho một khuôn mặt duy nhất, và như thế có thể nói là treo sự cứu rỗi của con người và thế giới vào một điểm tình cờ duy nhất? Một Thiên Chúa bị bó rọ trong một điểm nhỏ nhoi như thế có khác nào tự chuốc lấy huỷ diệt?”[13] Rồi cả chính mỗi một Kitô hữu chúng ta nữa, chẳng lẽ không nghi ngờ, ít nhất một lần trong đời, rằng “Trẻ Thơ đặt nằm trong máng cỏ” cũng là Đấng mà nhờ Ngài cả muôn loài muôn vật được tạo thành, tồn tại và quy hướng về hay không? Liệu “Đấng bị treo trên cây gỗ ” kia có thực là Thiên Chúa mà chúng ta phải thờ phượng, yêu mến và tin theo hay không? Hằng ngày chúng ta tham dự Thánh lễ và rước Mình Thánh Chúa, chúng ta có thực sự tin rằng “Tấm bánh trắng nhỏ nhoi” được đặt trên bàn tay có khi dơ bẩn của chúng ta có phải là Thánh Thể thật, là Thiên Chúa thật hay không? v.v… Và có lẽ đã đến lúc, ít nhất một lần trong đời, chúng ta hãy ném, hãy tống khứ vị “Thiên Chúa” do trí tưởng tượng của chúng ta hay của các triết gia nắn đúc nên ra khỏi tâm trí chúng ta đi; chúng ta hãy đồng thanh giết chết những vị “thiên chúa giả” do tay chúng ta đục đẽo nên đi, để cho Thiên Chúa duy nhất chân thật (x. Ga 17, 3) của Kinh Thánh, “Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Jacob” và là Thiên Chúa của Đức Giêsu, ra đời. Chúng ta phải ‘lặng câm’ đi để cho Thiên Chúa đích thật lên tiếng với chúng ta!

Bây giờ chúng ta hãy quay lại với vị Thầy và là Đức Chúa đích thật của chúng ta xem Ngài trả lời như thế nào cho những vấn nạn trên? Bằng một cái nhìn lên đầy âu yếm và như có ý khẩn cầu, Đức Giêsu trịnh trọng nói cùng Simon Phêrô và các môn đệ có mặt tại Bữa Tiệc Ly, cũng như nói với tất cả chúng ta rằng: ‘vâng chính Thầy, con người đang cúi mình trước các con đây, đang rửa những bàn chân dơ bẩn của các con đây, mới là Chúa và là Thầy đích thật của các con (x. Ga 13, 13.14). Chính Người nầy mới đem lại cho cuộc đời các con ý nghĩa, sự sống và hạnh phúc đích thật; chính Ngài mới đem Thiên Chúa đến ở giữa các con và phó nộp trong tay các con, bởi Con Người này cũng chính là Đấng Emmanuel, là Lời, là Con, là Sứ Vụ, là Đấng Được Sai Đi, là Hồng Ân, là Đấng trong tự bản chất là sống “bởi” và sống “cho”. Các con có muốn thực lòng đón nhận không? Nếu các con không đón nhận thì Thầy biết làm sao được, bởi “duyên tình ai nở ép buộc”, Tình yêu mà bị ép buộc thì còn là Tình yêu nữa chăng? Tình yêu trao hiến chính mình và mời gọi đón nhận trong niềm tin tưởng, và yêu mến, Tình yêu chỉ đáp đền bằng tình yêu mà thôi. Nếu các con không đón nhận hành động rửa chân của Thầy, cũng như không đón nhận chính Thầy, thì Thầy biết làm sao được. Nhưng chỉ có điều nầy Thầy muốn nói với tất cả các con là “nếu Thầy không rửa chân cho con – các con, thì con- các con- sẽ không được chung phần với Thầy” (Ga 13, 8), các con sẽ không được tự do, bình an, và hạnh phúc đích thực, các con sẽ không có cơ hội được chiêm ngưỡng vinh quang Thiên Chúa và không có chổ trong Vương Quốc của Cha Thầy. Vâng tất cả chỉ có thế thôi. Như Thầy đã từng nói với những người Do Thái, và bây giờ Thầy cũng nói với các con rằng “công việc duy nhất mà Thiên Chúa muốn các con làm là tin vào Đấng Người đã sai đến” (Ga 6, 29). Mà Đấng đó không ai khác là chính Thầy đây, người đang cúi xuống trước các con và rửa chân cho các con lúc này đây. Lòng các con đừng xao xuyến, và tâm trí các con đừng nghi ngờ nữa, nhưng hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy (x. Ga 14, 1), và rồi các con sẽ được “sống và sống dồi dào” (Ga 10, 10). Và với lòng yêu mến trào dâng hơn, Ngài như muốn nói thêm với các môn đệ rằng ‘nếu các con không chấp nhận hành động rửa chân của Thầy, thì lát nữa làm sao các con có thể tin được Thánh Thể mà Thầy sắp ban tặng cho chúng con trên Bàn Tiệc Ly? Nếu các con không đón nhận chính Thầy đêm nay thì làm sao các con chấp nhận nổi Con Người bị đóng đinh và chết trên thập giá vào chiều ngày mai, cũng chính là Thiên Chúa toàn năng và vinh quang?’ Ôi “biết bao điều Thầy còn muốn nói với các con nữa, nhưng bây giờ, các con không có sức chịu đựng nổi. Hy vọng rằng “khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn các con đến sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại và loan báo cho các con biết những điều sẽ xảy đến. Người sẽ tôn vinh Thầy và lấy những gì của Thầy mà loan báo cho các con” (x. Ga 16, 12-14).

Vâng Thiên Chúa của Đức Giêsu là như thế đó, một Thiên Chúa là Khiêm tốn, Mỏng dòn và Nghèo hèn, một Thiên Chúa là Tình yêu, là Tự do,… Muốn tin, muốn yêu, muốn đón nhận hay không là tuỳ ở tự do của mỗi người, Thiên Chúa không bắt ép ai phải yêu mến hay đón nhận Ngài cả; Ngài chỉ mời gọi mỗi người hãy dùng chính tự do như ân huệ cao quý nhất mà Ngài tặng ban, để thuận tình đáp trả qua tiếng “xin vâng” mà thôi. Trong Đức Giêsu, Thiên Chúa đã phó nộp chính Ngài trong tay con người, phần còn lại chỉ tuỳ thuộc ở cách hành xử của con người đối với Ngài. Máng cỏ, Bữa Tiệc Ly và Thập giá chẳng phải đã minh chứng cách hùng hồn nhất đó sao! Và có thể nói đó lại là những cái chói tai gai mắt và khó nuốt nhất đối với lý trí chúng ta, nhưng “chẳng có gì là lạ lắm đối với một mối tình đi bước trước và lại là điều rất ư tự nhiên nơi Đấng Thiên Chúa đích thật”. Cha Maurice Zundel, “một người vừa say mê con người, vừa điên cuồng Thiên Chúa, mà vẫn hài hoà trọn vẹn”[14], sẽ cống hiến cho chúng ta những suy tư tuyệt vời về những chân lý đó, qua chứng từ của Marc Donzé, một đệ tử trung thành của cha.

“Thật vậy, Cử chỉ khiêm tốn tuyệt vời, bộc lộ chính tính khiêm tốn của Thiên Chúa là việc rửa chân. Trong Đức Giêsu, Thiên Chúa đã quỳ gối trước thu tạo mình. Chỉ duy nhất là sự trào dâng yêu thương đối với thu tạo mình để phục vụ nó và để cứu nó.

Thánh Phêrô từ chối Thập giá cho Đức Giêsu, từ chối Thập giá như một điều không thể (x. Mt 16, 22). Ông lại tiếp tục từ chối cho Đức Giêsu khỏi phải khiêm tốn qua hành vi quỳ gối của người nô lệ trước những kẻ có bổn phận rửa chân. Và Thầy Chí Thánh đã cảnh cáo? Ông sẽ không được dự phần với Ngài nếu ông không chấp nhận cử chỉ khiêm tốn đó, cử chỉ vốn dĩ là rất tự nhiên nơi Đấng Thiên Chúa đích thật, bởi lẽ Thiên Chúa thực là một Thiên Chúa khiêm tốn và nghèo hèn (M. Zundel, 1959).

Người ta từng nhiều lần biến Thiên Chúa thành một Pharaon(một vương đế), mặc những nhung lụa, vàng bạc đá quý. Tất cả đều bị sụp đổ trước hành vi rửa chân. Sự cao cả đích thật chính là lòng quảng đại, chính là sự trao hiến. Hành vi lớn lao nhất cũng là hành vi quảng đại nhất, hành vi đi tới chổ trao hiến thân mình. Và như thế, không gì có thể tương đương. Đối chọi với thang giá trị của sự khống chế, Đức Giêsu đã thay thế bằng thang quảng đại vốn dĩ chủ yếu là một sự trao đổi phối ngẫu, sự đổi trao của tình yêu, nơi đây giây liên kết được thiết lập từ cả hai bên trong một tiếng “có” trọn vẹn, tự do: bởi vì tôi đã gả anh em cho một người chồng duy nhất, như một trinh nữ trong trắng trình diện trước Đức Kitô” (2Cr 11,2). Việc Rửa Chân đã thực hiện một sự tổng hợp làm một: tính cao cả và đức khiêm tốn.

Thiên Chúa khiêm tốn Thiên Chúa mỏng dòn. Hai điều càng mâu thuẫn hơn. Nhưng có điều gì lạ lùng lắm, bởi vì không gì mỏng dòn hơn một mối tình đi bước trước (1Ga 4, 10. 19). Nó dâng hiến tận tình để rồi hứng chịu mọi nguy cơ bị chối từ, bị khinh khihoặc được chấp nhận. Và Thiên Chúa luôn là người đi bước đầu trong tình yêukhông vì gì cả.

Chính vì Thiên Chúa là quảng đại thuần tuý, bởi vì Người là Đấng Toàn Yêu, bởi vì Ngài chỉ là một con Tim, bởi vì Ngài chỉ có thể là Yêu, nên Chúa là Đấng mỏng giòn dễ vỡ, một Thiên Chúa trần trụi. Claudel đã nhận ra Ngài, tại nhà thờ Paris, ngày Noel năm 1886, trong buổi kinh chiều Ngày Lễ. Trong một làn ánh sáng quá đổi mạnh mẽ, ông đã nhận ra “tính vô tội não lòng và tính ngây thơ vĩnh cửu của Thiên Chúa”. Và chính vị Thiên Chúa trần trụi đó đã chiến thắng ông, đã mở mắt cho ông và biến thành tình yêu lớn lao nhất cho đời ông. Thiên Chúa mỏng dòn, thực thế, nên càng quý hoá, nên càng là tài sản tuyệt vời, bởi vì không gì có thể sánh với việc trao hiến bản thân, sự trao hiến đã đồng nhất hoá với việc tước đoạt tận căn, như thánh Phanxicô đã hiểu, sự tước đoạt không gì sánh nổi, sự tước đoạt có một không hai, đúng như khi Thánh Nhân thấy nơi sự Khó Nghèo vĩnh cửu của Thiên Chúa. Quả thực, chắc chắc Thánh Nhân đã hát ca cái Khó Nghèo ấy, Thánh Nhân đã yêu nó bằng một tình yêu say đắm, tức là Thánh Nhân đã yêu Thiên Chúa, Đấng Khó Nghèo ấy, như Thánh Nhân đã thấy ghi trong sách Tin Mừng, trong Đức tin Kitô giáo, cũng như từ chính cuộc sống của Chúa Ba Ngôi.”[15]

Để làm phong phú thêm cho những suy tư của chúng ta, những lời sau đây thật đáng để cho chúng ta nghiền ngẫm: “Cách hành xử của Ngôi Lời nhập thể, trong suốt cuộc sống dương thế của Người, trong những điều kiện hiện sinh đổi thay, Người vẫn duy trì được cuộc sống vị tha (sống cho kẻ khác): Ngôi Lời Nhập thể sống cho Chúa Cha và cho con người. Người luôn trung thành với chính mình, bởi tự trong bản chất Người là hữu thể khai mở, vì Ngài là Ngôi Lời, là Con. Lời đến từ Ai khác và Lời cần được lắng nghe đón nhận, tức Lời được nói cho người khác. Như thế, cách hành xử này không chỉ ăn gắn với bản tính Thiên Chúa của Người, nhưng còn biểu lộ và mạc khải bản tính Thiên Chúa nữa, bởi vì, quả thật, việc sống cho kẻ khác là điều có chung của cả Ba Ngôi, và mỗi Ngôi trong Ba Ngôi đều tồn hữu vị tha. “Thiên Chúa không tự biến đổi bằng cách tự trao ban. (…). Người chỉ hiện hữu trong thế giới và cho thế giới chính điều Người đã là trong chính mình và cho chính mình; (). Người với tư cách là người chỉ là chính điều Người là với tư cách là Thiên Chúa.[16] Hay nói theo cách của cha Maurice Zundel: “Trước tiên là ở ngay tâm hồn Thiên Chúa, bởi lẽ mỗi Ngôi Vị Thiên Chúa chỉ đơn thuần là một cái nhìn hướng về Vị Khác: Cha không có gì, chỉ là cái nhìn hướng về Con; Con không có gì, chỉ là cái nhìn hướng về Cha; Thánh Linh không có gì, chỉ là hơi thở hướng về Cha và Con (M. Zundel, 1963).

Chắc chắn dấu ấn của Thiên Chúa là khiêm tốn. Dấu ấn của Thiên Chúa là quên mình-dấu ấn của Thiên Chúa là trao hiến thân mình và chính là tình thương. Bao giờ cũng thế, chỉ dưới dấu hiệu đó, chúng ta mới nhận ra Thiên Chúa, không gì khác.[17]

Như vậy, chỉ khi chúng ta chấp nhận lột bỏ đi vị thiên chúa giả, vị thiên chúa do tư tưởng của chúng ta ‘đẽo gọt’ nên, nghĩa là chỉ khi chúng ta phải làm một cuộc hoán cải tận căn, một nỗ lực canh tân chính cái nhìn của chúng ta về Thiên Chúa, lúc đó tâm trí chúng ta mới có độ trong suốt đủ để đón nhận được luồng ánh sáng mới, mạc khải mới từ trời, từ nơi Thiên Chúa đích thật mà đến, và để rồi nhờ đó, chúng ta thực lòng khiêm tốn đón nhận Một Thiên Chúa hoàn toàn khác, Vị Thiên Chúa duy nhất đích thật và mới mẻ do chính Đức Giêsu mang đến. Đó là Vị Thiên Chúa siêu việt và thánh thiện vô song nhưng cũng khiêm tốn và bé nhỏ vô cùng: “Non coeri maximus contri-neri tamen a minimo, divinum – Không bị cầm hãm bởi điều lớn lao nhất nhưng lại khép mình trong điều nhỏ bé nhất, đó mới là thần linh”(Holderlin trong tựa đề cho tập truyện Hyperion)[18]

 3.  Rửa chân: Con người bị lộ diện[19]

Chắc chắn trình thuật của Gioan còn muốn tỏ cho chúng ta một điều gì đó về con người. Quả đúng như vậy, chúng ta có thể thấy rằng cả khi Thiên Chúa chẳng đặt giới hạn nào, đôi khi con người lại tự mình đặt ra giới hạn. Như thế, có thể có hai trường hợp xảy ra ở đây. Trường hợp thứ nhất xảy ra rõ ràng nơi nhân vật Giuđa: Lời chối từ phát sinh từ lòng tham, từ kiêu căng, chối từ chấp nhận Thiên Chúa. Đây là lời Chối từ vì chúng ta muốn làm cho thế giới này trở thành của chính chúng ta và chúng ta không chấp nhận thế giới như món quà từ Thiên Chúa. Có lần Nietzsche đã phát biểu “thà mang ơn còn hơn phải trả một xu mà không mang chân dung của riêng chúng ta. Đó là sự cao cả đòi riêng chúng ta.” Con lạc đà không chui qua lỗ kim được. Có thể nói, cái bướu kiêu căng làm cho nó vướng lại và vì thế, nó không đi qua cánh cửa của lòng nhân hậu xót thương. Ở đây hình ảnh một Adam trong Vườn Địa Đàng năm xưa lại xuất hiện đậm nét hơn bao giờ hết. Giuda, con cháu của nguyên tổ, đã mô phỏng lại đúng kiểu cách của Ađam ngày xưa tại Vườn Địa Đàng, và đó cũng là hình ảnh của tất cả những ai chối từ tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa, chối từ chính Thiên Chúa. Và có thể nói hình ảnh Hoả Ngục cũng xuất hiện ở ngay đây. Hoả Ngục không hệ tại là án phạt của Thiên Chúa, cho bằng là sự khước từ của con người trước tình yêu của Thiên Chúa, khước từ chính Thiên Chúa một cách vĩnh viễn tuyệt đối. Vấn đề không phải là Thiên Chúa không yêu thương con người, bởi vì Ngài là Tình yêu (1Ga 4,8.16), và Ngài đã yêu con người cho đến Máng cỏ, cho đến Bữa Tiệc Ly, và yêu cho đến cùng (Ga 13,1), đến cùng trên thánh giá, đến cùng trong thân phận con người – “bước xuống tận ngục tổ tông.” Tất cả chỉ còn tuỳ thuộc nơi con người, nơi tự do ưng thuận hay chối từ của con người.

Qua đó cho ta thấy được Thiên Chúa tự do đến mức nào và đồng thời tôn trọng tự do của con người đến độ nào. Thiên Chúa thà nhập thể làm người, làm một nô lệ cúi xuống trước con và xin rửa chân cho họ, rồi lại tự nguyện hy sinh chính mạng sống mình trên thập tự giá, qua đó khơi dậy “lòng trắc ẩn của con người” và mời gọi tự do đáp trả của họ, hơn là dùng quyền năng và sức mạnh để bắt ép con người phải chấp nhận tình yêu của Ngài, bắt họ phải vào hưởng kiến Tôn Nhan Thiên Chúa. Sách Khải Huyền diễn tả thật tuyệt vời hình ảnh đích thực của Thiên Chúa trong tương quan với con người: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy dùng bữa với Ta” (Kh 3, 20). Chẳng những Thiên Chúa đến “gõ” cửa nhà chúng ta, nhưng đúng hơn Người đã đến nhà Ngài, nhưng thảm bại nay người nhà chằng chịu đón nhận: “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận. Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào Danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa” (Ga 1, 11-12). Và như thế, Thiên Chúa toàn năng lại là một Thiên Chúa có thể chuốc lấy thất bại sao? Một Thiên Chúa không thể vào nhà của chúng ta nếu chúng ta vẫn mãi đóng cửa, khép kín nơi mình và không chịu đứng dậy mở cửa cho Thiên Chúa, chẳng phải là một Thiên Chúa mỏng dòn, yếu đuối đó sao? Một Thiên Chúa như thế chẳng phải là một Thiên Chúa tình yêu hay sao? Mà thất bại trong tình yêu thì có gì là lạ lắm đâu! Và ngay lúc này, tất cả chúng ta phải tự hỏi, phải chăng chúng ta không giống như những người kiêu ngạo và tự đắc không chịu để mình được rửa sạch, không chịu chấp nhận món quà tình yêu chữa lành của Đức Giêsu hay sao? 

Tuy nhiên, ngoài sự từ chối này vốn phát sinh từ lòng tham và kiêu căng của con người, cũng còn một nguy hiểm về lòng đạo đức mà Phêrô đại diện: sự khiêm nhường giả dối không muốn bất cứ điều gì quá lớn lao như việc Thiên Chúa cúi xuống với chúng ta. Sự khiêm nhường giả dối ẩn dấu sự kiêu ngạo. Sự khiêm nhường giả dối không thích sự tha thứ, và đúng hơn, nó trở nên tinh tuyền nhờ vào sức riêng nó. Sự kiêu căng dối trá và sự khiêm tốn giả dối không chấp nhận lòng thương xót của Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa không muốn sự khiêm tốn giả dối vốn chối từ lòng nhân hậu của Người. Đúng hơn, Người mong muốn sự khiêm nhường để cho Thiên Chúa thanh tẩy mình và vì thế được nên tinh tuyền. Đây là cách thức mà Người ban chính mình Người cho chúng ta.

Như thế, cả Giuđa lẫn Phêrô, đã trình ra bộ mặt thực của chúng ta, mà vì giả dối, lắm lúc chúng ta khéo che đậy bằng những ‘bộ đồ loè loẹt’ trước mặt thiên hạ, nhưng lại không thể dấu nổi chính mình trước ánh sáng chân lý và tình yêu vô biên của Thiên Chúa được mạc khải trọn vẹn nơi chính Đức Giêsu Kitô, Đấng là Ánh Sáng trần gian và là Lời Chân Lý.[20]

KẾT LUẬN:  “Anh em cũng hãy làm như Thầy đã làm cho anh em”

Sau khi đã hoàn tất công việc phục vụ mà Chúa Cha giao phó cho Ngài, đến lượt mình trong vai trò là Chúa và là Thầy, Người lại muốn các môn đệ của mình tiếp tục đi theo con đường mà Ngài đã nêu gương cho họ. “Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng hãy rửa chân cho nhau. Thầy đã làm gương cho anh em, thì anh em cũng hãy làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13, 14-15; x. 20, 21.23).

Và hơn ai hết, Giáo Hội cũng cần phải áp dụng quy luật khiêm hạ cho chính mình. Trong Tân Ước các bản văn nói về sự khiêm hạ đều đọc thấy trong văn cảnh khuyên nhủ và khích lệ: Đức Giêsu được giới thiệu như mẫu gương để bắt chước. Thư Do Thái khuyên: “Ta hãy ra khỏi trại mà đến với Ngài, cam lòng gánh vác nỗi khổ nhục Ngài đã chịu” (Dt 3, 13). Nếu là bộ mặt Đức Kiô ở giữa thế gian (x. LG 1, 15; GS 43), ắt Giáo Hội phải tự giới thiệu bằng cách sống hệt như Thầy mình đã sống ở trong xã hội của Ngài. Hơn nữa, Giáo Hội được xây dựng qua Thánh Thể, là hy tế qua đó, Đức Kitô tự hạ đến tột độ: Ngài trút bỏ hết mọi sự, cả đến thân phận tôi đòi, Ngài đã trở nên “một sự vật”, để phục vụ mọi người, và giữ im lặng tuyệt đối. Do vậy, là Thân của Đầu, Giáo Hội càng phải có bổn phận đồng nhất hoá chính mình với nghĩa cử tự hạ của Đức Kitô.

Con đường tự huỷ này cũng là con đường của mỗi môn đệ, mỗi Kitô hữu phải bắt chước vào. Thánh Phao lô khuyên các tín hữu “hãy bắt chước tôi như tôi bắt chước Đức Kitô”(1Cr 11, 1; x. 4, 16; Ep 5, 1; Pl 3, 7), và coi mình như người bị đóng đinh (x. Gl 2, 19; 6.4,..). Quả thế, Kitô hữu là người đã “chết” đi cho thế gian (x. Cl 2, 20; 3,3; Rm 6, 8, vv..) và đã cùng chết với Đức Kitô trên thập giá (x. Rm 6, 6; Gl 5, 24). Thời xưa cũng như thời nay, trong cũng như ngoài Giáo Hội, ít có ai chịu đón nhận “Tin Mừng” nghe chước tai gai mắt này, bởi nó buộc phải khiêm hạ để trút bỏ đi ảo tưởng về một Giáo Hội vinh quang, về một vương quốc Thiên Chúa thành tựu ngay ở dưới đất này. Con đường tự huỷ ấy cũng là con đường của lề lối hoạt động tông đồ (x. 1Cr 1, 17tt; Pl 3, 10,..). Các chuyên viên soạn thảo các phương án mục vụ ít khi thấy hứng thú để áp dụng lề lối ấy. Duy chỉ có các Thánh mới tin và áp dụng lề lối của Đức Kitô. Thế mà chính con đường tự huỷ ấy là con đường ngắn nhất đưa mọi người đến gặp gỡ Đức Kitô, bởi nơi nào có đau khổ, bần hàn, thì ở đó có Ngài. [21]

Jos. Nguyễn Văn Hảo


[1] X.  HY. Joseph Ratzinger,  Đức tin hôm qua và hôm qua, nd. Lm. Athanasiô Nguyễn Quốc Lâm và Phạm Hồng Lam (Hà Nội: Nhà Xuất Bản Tôn giáo, 2009), p. 203.

[2] x. HY. Joseph Ratzinger, Thiên Chúa ở gần chúng ta,  p. 35.

[3] Martin, R., Carmen Christi, Grand Rapids: Eardmans 1983; x. F. Gomez, Kitô học 2, p. 339.

[4] HY. Joseph Ratzinger, Đức tin hôm qua và hôm nay, p. 232.

[5] x. F. Gomez, Kitô học 2, p. 340.

[6] X. B. Sesboue-SJ, Quá trình phát triển tín điều Kitô học, p. 256-257.

[7] HY. Joseph Ratzinger, Đức tin hôm qua và hôm nay, p. 238.

[8] HY. Joseph Ratzinger, Đức tin hôm qua và hôm nay, p. 239.

[9] Ibi, p. 215-216.

[10] Ibi, p. 232.

[11] X. F. Gomez, Kitô học 2,  p. 341-342.

[12] X. HY. Joseph Ratzinger, Thiên Chúa ở gần chúng ta, p. 35.

[13] HY. Joseph Ratzinger, Đức tin hôm qua và hôm nay, p. 54.

[14] X. Marrc Donze, Sự hiện diện khiêm hạ, p. 7.

[15] Marc Donzé, Sự Hiện Diện Khiêm hạ, p. 143-144.

[16] Lm. Nguyễn Khắc bá, Kitô học và Thần học về Chúa Ba Ngôi, p. 416.

[17] Marc Donzé, Sự Hiện Diện Khiêm hạ, p.142.

[18] X. HY. Joseph Ratzinger, Đức tin hôm qua và hôm nay, p. 148-149.

[19] X. Joseph Ratzinger, Thiên Chúa ở gần chúng ta, p. 35-37.

[20] X.Ga 8, 12; 14, 6

[21] X. F. Gomez, Kitô học 2, p. 340-344.

 

_______________________________

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 1.     Lm. JB. Nguyễn Khắc Bá, Giáo trình Kitô học và Thần học về Chúa Ba Ngôi, ĐCV Vinh Thanh – 2009

2.     Filipe GomézSJ, Kitô học (2), Nxb Antôn & Đuốc Sáng,

3.     Bernard SESBOUE- SJ, Quá trình phát triển tín điều Kitô học, Nxb Tôn giáo, Hà Nội – 2010, Lm. Pet. Nguyễn Thiên Cung, biên dịch và chuyển ngữ

4.     Joseph Ratzinger, Đức tin hôm qua và hôm nay, Nxb Tôn giáo, Hà Nội – 2010, Lm. Nathanasio Nguyễn Quốc lâm & Phạm Hồng Lam, dịch

5.     Joseph Ratzinger, Thiên Chúa không ở xa chúng ta, Nxb Phương Đông 2008, Lm. Nguyễn Luật Khoa OFM, Biên dịch

6.     HY. Joseph Ratzinger, Đức Giêsu thành Nazareth, nd. Lm. Augustino Nguyễn Văn Trinh (Hà Nội: Nhà Xuất Bản Tôn Giáo, 2009)

7.     Marc Donzé, Sự hiện diện khiêm hạ, Nxb Tp. Hồ Chí Minh 1995

 

 

About The Author

Priest of Vinh Dioscese

Number of Entries : 1649

© TRANG THÔNG TIN CHÍNH THỨC CỦA ĐẠI CHỦNG VIỆN VINH THANH

Scroll to top