You Are Here: Home » LUÂN LÝ » Thông điệp xã hội của tông huấn Evangelii Gaudium

Thông điệp xã hội của tông huấn Evangelii Gaudium

tonghuanniemvuiMặc dù Evangelii Gaudium không phải là một “tài liệu xã hội” – chính Đức Giáo Hoàng đã xác nhận, ở số 184 – cũng hữu dụng nên có một trang internet dành cho “Giáo huấn xã hội của Hội Thánh” để đăng tải những trích dẫn, nhất là những trích dẫn đề nghị những triển khai quan trọng về các vấn đề xã hội như : nửa phần đầu của chương 2 : “Một số những thách đố của thế giới ngày nay” (EG 52-75); toàn bộ chương 4 : “Tầm vóc xã hội của Phúc Âm hóa” (EG 177-258).

Những triển khai này được gộp vào một văn bản cần được nhắc lại bản chất và nhấn mạnh tầm quan trọng của nó. Tài liệu đầu tiên có tầm rộng lớn được công bố bởi Đức Giáo Hoàng Phanxicô, rất được mong đợi. Để trình bầy những phương hướng về một số lớn các điểm, Đức Giáo Hoàng đã nắm lấy thời cơ được dành cho ngài bởi một truyền thống đã được thiết lập vững vàng từ thời Đức Giáo Hoàng Phaolô VI : bây giờ đến lượt ngài phải trình bầy, sau mỗi Thượng Hội Đồng, cốt lõi của những gì trong các đề nghị lên ngài bởi Thượng Hội Đồng. Như thế, Evangelii Gaudium là một “tông huấn hậu Thượng Hội Đồng”, dựa trên ba chục đề nghị, trong tổng số 58 đã được Thượng Hội Đồng nhóm họp tại Rôma vào tháng 10/2012, thiết lập về “tân Phúc Âm hóa”.

Chẳng có ai có thể ngạc nhiên là một tông huấn về Phúc Âm hóa – từ ngữ được lựa chọn ở đây thay vì thành ngữ “tân Phúc Âm hóa” vốn là của Thượng Hội Đồng – bàn dồi dào về những chủ đề xã hội. Theo Đức Giáo Hoàng Phanxicô, thì trái lại, chính sự thiếu vắng chủ đề này mới là điều không thể chấp nhận được, vì có một “sự nối kết chặt chẽ giữa Phúc Âm hóa và phát huy con người”. Mối liên quan này đã được xác nhận và triển khai bởi ĐGH Gioan-Phaolô II năm 1991 trong sứ điệp Centesimus annus 54, nhắc lại và triển khai thêm những gì Đức Giáo Hoàng Phaolô VI viết năm 1975 trong Evangelii Nuntiandi, vốn cũng là “một tông huấn hậu Thượng Hội Đồng” : “Không thể chấp nhận rằng công trình Phúc Âm hóa có thể hay phải coi thường những vấn đề vô cùng trầm trọng, hiện nay đang khuấy động, liên quan đến công lý, đến giải phóng, đến phát triển và đến hòa bình trên thế giới (EN 31)”.

Chính trong thần học mà quan hệ chặt chẽ giữa Phúc Âm hóa và dấn thân xã hội được xây dựng. Nếu có một “tầm vóc xã hội đương nhiên của việc loan truyền Phúc Âm”, chính là bởi vì “đề nghị của Phúc Âm không chỉ là một mối quan hệ cá nhân với Thiên Chúa” và bởi vì “trong Đức Kitô, Thiên Chúa không chỉ cứu độ cá nhân mà còn cả những quan hệ xã hội gữa con người nữa”. Làm sao mà không nhắc đến công thức hay của Cha de Lubac, mà theo ngài; “thành ngữ ‘công giáo xã hội’ luôn có vẻ là một từ ngữ thừa” ?

Có phải nói về “giáo huấn xã hội của Hội Thánh” khi liên hệ đến những trích đoạn cho thân bài hiện nay chăng ? Về một ý nghĩa nào đó, điều này có vẻ đương nhiên : tất cả những ai gần gũi với giáo huấn này đều nhanh chóng ghi nhận rằng Đức Giáo Hoàng dựa trên những “nguyên tắc” cấu trúc nên giáo huấn này như : phẩm giá của mọi con người, tình liên đới, quyền chung hưởng của cải, công thiện.

Tuy nhiên, một mặt người ta phải ghi nhận rằng tài liệu chỉ hiếm hoi sử dụng thành ngữ này (thực chất, chỉ khi viện dẫn bản Tóm Lược học thuyết xã hội của Hội Thánh), mặt khác, Đức Giáo Hoàng Phanxicô biểu lộ một sự dè dặt giống như Đức Giáo Hoàng Phaolô VI hồi năm 1971 ở đoạn đầu của tông thư Octogesima adveniens 4, mà ngài viện dẫn: “Không phải Đức Giáo Hoàng, cũng không phải Hội Thánh sở hữu độc quyền bình giải thực tế xã hội hay đề nghị những giải pháp cho những vấn đề đương đại. Tôi có thể nhắc lại ở đây điều mà Đức Phaolô VI sáng suốt vạch ra : “Đứng trước các tình huống phức tạp như thế này, thật khó cho chúng ta để đưa ra một lời duy nhất, cũng như để đề nghị một giải pháp có giá trị phổ quát. Đó không phải là tham vọng của chúng ta, cũng chẳng phải nhiệm vụ của chúng ta nữa”. Đó là lý do mà thành ngữ “giáo huấn xã hội của Hội Thánh” đã bị bỏ xó dưới triều đại Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, trước khi được làm sống lại bởi ĐGH Gioan-Phaolô II (về sự chuyển biến này, nên đọc bài Những im lặng của giáo huấn xã hội công giáo của tác giả Jean-Yves Calvez, Nxb. L’Atelier, 1999, trang 10-14)

Theo Đức Giáo Hoàng Phanxicô, một lời quá chung chung của Đức Giáo Hoàng sẽ ít thích hợp với sự đa dạng của những hoàn cảnh. Như vậy, công việc sẽ thuộc về các Hội Đồng Giám Mục (HĐGM) và các cộng đoàn Kitô giáo “để phân tích môt cách khách quan tình trạng riêng biệt của đất nước mình”. Trong tông huấn Evangelii Gaudium, ngài viện dẫn các vị tiền nhiệm của ngài và Công Đồng, nhưng ngài cũng viện dẫn nhiều tài liệu phát ra từ các HĐGM (tại Châu Mỹ La Tinh, Hoa Kỳ, Pháp, Brasil, Philippin, Ấn Độ), kể cả những nhóm khác như Công Giáo Tiến Hành Ý nữa.

Giáo huấn của Hội Thánh về vấn đề xã hội thường hay là tiêu đề bị chỉ trích theo chiều hướng ngược lại : có khi thì người ta thấy rằng nó quá trừu tượng, chỉ đưa ra những nguyên tắc tổng quát để phán xét các tình trạng và định hướng hành động, và người ta lấy làm tiếc rằng Hội Thánh quá nhiều khi thủ ở vị trí “đứng trên tranh chấp”; có khi thì người ta đánh giá rằng Hội Thánh vượt ra ngoài phạm vi của mình khi Hội Thánh lấy ra từ những nguyên tắc của mình những xét đoán trên các tình huống cụ thể, như thế có những lâp trường có thể được coi như “phe phái” trên những điểm cần được tranh luận, kể cả giữa các Kitô hữu. Thí dụ, cứ nghĩ tới những quan điểm của Hội Thánh về tiếp nhận di dân và bảo vệ quyền tỵ nạn.

Rõ ràng Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhạy cảm nhiều với chê trách lần đầu hơn là với chê trách thứ nhì : “Chúng ta không thể tránh phải cụ thể – không có ý định đi vào chi tiết – để cho những nguyên tắc xã hội lớn không chỉ đơn giản là những chỉ dẫn tổng quát không liên quan đến ai”. Với ngài, như ngài đã từng nói trong rất nhiều dịp, tốt nhất là nên có một Hội Thánh dấn thân – với rủi ro là đón nhận những đánh phá, thậm chí có thể nhầm lẫn –  còn hơn là một Hội Thánh “bệnh hoạn” vì thiếu mạnh mẽ và đảm lược.

Một cuộc lược duyệt đầu tiên các trích đoạn được trình bầy ở đây cho phép ghi nhận 4 điểm mang tính hơi canh tân.

1. Tông Huấn này không hề nhắc đến “luật tự nhiên” : những lý luận đưa ra đều là lấy trong Kinh Thánh, Phúc Âm, thần học. ĐGH Gioan-Phaolô II và hơn nữa ĐGH Biển Đức XVI đã nhấn mạnh trên tính chất thần học của giáo huấn xã hội của Hội Thánh; nhưng các ngài cũng nhắc đến “luật tự nhiên” hay “lý trí”, những khái niệm cho phép được nhiều người lắng nghe, kể cả những người xa lạ với thế giới Kitô giáo. Người ta có thể tự hỏi về những lý do của sự im lặng này của Đức Giáo Hoàng về luật tự nhiên. Có phải để thuyết phục tốt hơn – như ngài đã nhắc lại trong nhiều dịp – không được gán cho mọi khía cạnh của đạo đức Kitô giáo cùng một tầm quan trọng, mà phải dành ưu tiên cho những khía cạnh trực tiếp gắn liền với Phúc Âm hơn không ? Có phải là bởi vì ngài không thoải mái với ý niệm này, chính nó bị mâu thuẫn, kể cả giữa những nhà tư tưởng Kitô giáo hay không ? Có lẽ phải giải thích sự im lặng này, cách đơn giản hơn, bởi sự kiện là Evangelii Gaudium chỉ nói riêng cho các tin hữu công giáo (EG 200), trong lúc mà các thông điệp xã hội – ít là từ Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII – “nói với tất cả mọi người thiện chí”, đìều này đòi hỏi phải triển khai những lý luận thuận tai đối với những người không phải là theo Kitô giáo.

2. Một vị trí quan trọng được dành cho những vấn đề văn hóa. Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhấn mạnh tầm vóc tập thể của truyền bá Phúc Âm ; thông điệp Phúc Âm không chỉ gửi đến con người, mà còn đến những nền văn hóa, đến những cộng đồng. Truyền bá Phúc Âm là giao tiếp văn hóa, với tất cả những hoa quả, những của cải phong phú, trong các bối cảnh của ngày hôm nay; nó đặt vấn đề với những lối sống, những giá trị được chia sẻ. Như thế, Đức Giáo Hoàng kêu gọi phải tôn trọng điều mà “sự sùng kính dân gian” biểu lộ, cách biểu lộ đích thực đức tin của một dân tộc, đừng nhầm lẫn với những lạc hướng, những lầm lạc của một Kitô giáo khuyến khích những “lễ bái” (thay vì sùng đạo đích thực) mà “không để ý tới sự thăng tiến xã hội và sự đào tạo các tín hữu” (70). Chúng ta cũng hãy để ý một sự phát triển độc đáo về những “thách đố của các văn hóa thành thị”, đặc biệt là một sự nhấn mạnh đến khía cạnh đa văn hóa của thành thị hiện nay, và không phải e sợ.

3. Người ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhấn mạnh trên cái ngài gọi là sự “hội nhập xã hội của người nghèo”(EG 186-216). Rõ ràng là chủ đề này là chủ đề nằm lòng của ngài. Người ta biết rằng, từ bốn chục năm nay, “sự ưu tiên lựa chọn người nghèo” đã chiếm một chỗ ngày càng ở vị trí trung tâm trong giáo huấn xã hội của Hội Thánh. Nhưng Đức Giáo Hoàng không chỉ bằng lòng nhăc lại ở đây điều mà Hội Thánh đã nhắc đi nhắc lại, như là sự lo âu cho người nghèo phải được diễn tả bằng những biện pháp xã hội và kinh tế (quyền có công ăn việc làm, lương bổng chính đáng, tranh đấu chống bất bình đẳng thái quá, v.v.). Ngài đi xa hơn, và mời gọi hãy lắng nghe “tiếng kêu cứu” của họ, như chính Thiên Chúa đã nghe tiếng kêu của dân chúng bị đàn áp ở Ai Cập. Người nghèo không chỉ cần được cứu giúp, mà còn cần được lắng nghe, bởi vì “họ có nhiều điều dạy cho chúng ta”, nhất là liên quan đến sự biểu lộ đức tin : “tuyệt đại đa số người nghèo có một sự mở lòng ra vớì đức tin”(EG 200).

Như thế, không có chủ nghĩa gia trưởng, mà một lời kêu gọi tình liên đới thực sự, sẽ đặt chúng ta bình đẳng, bởi vì liên đới là “trả lại cho người nghèo những gì họ được hưởng”, phù hợp với nguyên tắc “quyền chung hưởng của cải”, mà giáo huấn xã hội khẳng định là “có trước cả quyền tư hữu”.

Một sự nhấn mạnh nữa đặc biệt của Đức Giáo Hoàng Phanxicô là : “Tôi muốn có một Hội Thánh nghèo khó cho người nghèo”. Dân của Thiên Chúa phải công nhận cho người nghèo một “vị trí ưu tiên”,  bởi vì “sự lựa chọn người nghèo là một phạm trù thần học trước khi là phạm trù văn hóa, xã hội, chính trị hay triết lý” (EG 198). Thần học bởi vì, qua sự gặp gỡ người nghèo, chính là dung nhan của Thiên Chúa được mặc khải.

4. Thay đổi cơ chế. Cho người nghèo chỗ đứng trong xã hội không chỉ đòi hỏi phải thay đổi tấm lòng và thái độ của mỗi người, mà còn phải có sự thay đổi các cơ chế. Quả vậy, bởi vì những “quan hệ xã hội được cấu trúc bởi các cơ chế”, cần phải “đánh vào những nguyên nhân cấu trúc của sự chênh lệch xã hội”, vốn là “nguồn gốc những căn bệnh của xã hội”. Vì thế, người Kitô hữu phải “lo lắng cho sức khỏe của những cơ chế của xã hội dân sự”. Đó là một nhiệm vụ chính trị, vốn rất cấp bách, bởi vì “sự cần thiết phải giải quyết những nguyên nhân mang tính cấu trúc của sự nghèo khó không thể chờ đợi được”(EG 202).

Đức Giáo Hoàng không đòi hỏi bất cứ một sự giám định nào cho phép ngài chi tiết hóa những thay đổi đó, nhưng ngài có chỉ ra một vài nét hướng dẫn. Ngài nhắc lại một cách rất cổ điển, giáo huấn truyền thống của Hội Thánh chống lại chủ nghĩa tự do kinh tế, ít là thứ chủ nghĩa đòi hỏi một “sự tự chủ tuyệt đối của thị trường”. Ngoài một lời kêu gọi đấu tranh chống đầu cơ tài chánh – một mối lo mới -, Đức Giáo Hoàng triển khai đề tài này bằng những giòng đặc biệt cứng rắn – khiến ngài bị cho là “mác-xít” trong những môi trường tự đo Hoa Kỳ : “Chúng tôi không còn có thể tin tưởng vào những sức mạnh mù quáng và nằm trong bàn tay vô hình của thị trường. Sự tăng trưởng trong công bằng còn đòi hỏi cái gì nữa ngoài sự tăng trưởng kinh tế, dù rằng nó cần phải có tăng trưởng kinh tế; nó yêu cầu có những quyết định, những chương trình, những cơ chế và những quy trình đặc biệt hướng về một sự phân bố tốt hơn các lợi nhuận, sự tạo ra những cơ hội việc làm, một sự thăng tiến toàn diện của người nghèo thoát ra khỏi sự trợ giúp(EG 204).

Christian Mellon

Mai Khôi dịch

http://www.doctrine-sociale-catholique.fr/index.php?id=7213

(Nguồn: http://conglyvahoabinh.com/)

About The Author

Number of Entries : 576

© TRANG THÔNG TIN CHÍNH THỨC CỦA ĐẠI CHỦNG VIỆN VINH THANH

Scroll to top