You Are Here: Home » TÍN LÝ » Tình Yêu Của Thiên Chúa Được Biểu Lộ Cách Viên Mãn Qua Thập Giá Đức Kitô (Jos. Kế Nguyễn)

Tình Yêu Của Thiên Chúa Được Biểu Lộ Cách Viên Mãn Qua Thập Giá Đức Kitô (Jos. Kế Nguyễn)

Tình Yêu Của Thiên Chúa Được Biểu Lộ Cách Viên Mãn Qua Thập Giá Đức Kitô

 

Lối Vào

Tình yêu đem lại muôn vàn kỳ thú và những cái nhìn mới lạ. Chỉ những người đang yêu mới hiểu được sự “điên dại” của tình yêu, mới hiểu nổi tại sao tình yêu lại hào phóng cho đi. “Dẫu cho nhân loại đã từng biết đến nhiều thiên tình sử với đủ loại cung bậc của tình yêu. Nhưng cuộc hy sinh vô tiền khoáng hậu của Đức Kitô mới là điều làm cho con người đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác”.[1]

Tình yêu là một cuộc sáng tạo vô cùng phong phú, chính tình yêu đã dẫn Đức Kitô vào con đường kỳ lạ tới sự sống ngang qua cái chết. Đó là một cuộc mạo hiểm lớn lao. Đức Kitô đã liều mạng để giựt thoát sự sống ra khỏi tay tử thần. Trên thập giá, Thiên Chúa đã trực tiếp tỏ tình với nhân loại bằng một lời tỏ tình độc đáo và nồng nàn, khiến con người quá đỗi ngỡ ngàng và sung sướng thốt lên “Thiên Chúa là tình Yêu” (1Ga 4,16). Đó không gì khác hơn là chính nội dung mà Thiên Chúa muốn mặc khải cho con người. Bởi thập giá là chiều sâu của mặc khải về căn tính tình yêu của Thiên Chúa. Sự hiện diện của Đức Giêsu trên thập giá là sự hiện diện cho tình yêu. Từ cạnh suờn bị đâm thủng của Đức Giêsu Kitô trên thập giá (Ga 19,34), Thiên Chúa đã bày tỏ tột đỉnh sự viên mãn tình yêu của Người dành cho con người (Ga 19,37). Cũng từ cạnh sườn ấy, Thiên Chúa đã tỏ cho con người biết Người là ai, và tình yêu đích thực là gì?

Thập giá và Tình yêu luôn là nguồn cảm hứng vô tận cho con người đi vào khám phá. Vì thế, khi đặt bút viết về tình yêu Thiên Chúa trên thập giá, người viết ý thức mình đang bước vào một cõi rộng mênh mông, nên không giám có tham vọng gì nhiều, mà chỉ mong được đắm chìm trong đó hầu cảm nhận được ý vị của tình yêu Thiên Chúa dành cho.

1. Thập giá tỏ cho ta biết tình yêu đích thực là gì?

Qua lăng kính của niềm tin Kitô giáo: “con người không thể đạt tới ý nghĩa làm người cách sâu xa nhất bằng những gì mình làm được, nhưng là bằng những gì mình lãnh nhận được. Con người cần đến quà tặng của tình yêu, nhưng tình yêu lại chỉ có thể đón nhận như là quà tặng chứ không có cách nào khác. Tình yêu không phải thứ mà ta có thể “làm ra”, không cần đến người khác. Ngược lại ta chỉ có thể chờ đợi tình yêu, chờ đợi tình yêu đến như một món quà. Con người chỉ là người cách trọn vẹn khi được yêu thương, khi để mình được yêu thương”.

Dẫu rằng tình yêu có thể tồn tại dưới nhiều dạng thức khác nhau: tình yêu cha mẹ đối với con cái, tình yêu bạn bè hay tình yêu quê hương…. Nhưng nổi bật trên tất cả các dạng thức ấy đó là tình yêu nam nữ. Trong văn hóa Hy Lạp cổ người ta gọi thứ tình yêu này là eros. Trước thời Chúa Giêsu, trong văn hóa Hy Lạp cũng như các nền văn hóa khác, quan niệm eros “như một trạng thái thăng hoa, một tình trạng lý trí bị đè bẹp bởi một thứ ‘điên dại thần bí’”, lôi kéo con nguời khỏi cuộc sống hạn hẹp phàm nhân và cho phép con người trong tiến trình say đắm bởi lực lượng thần bí ấy hưởng một niềm hạnh phúc cao độ.”[2] Đối với những giáo phái thờ khả năng sinh sản thì tôn thờ eros như một quyền thần ngang hàng Thiên Chúa. Ở đây, họ hiểu eros như một thứ tính dục, nó bị lạm dụng thành thứ tình yêu đòi hỏi, vị kỷ nhằm thỏa mãn nhục dục vô độ. Eros bị thần thánh hóa giả tạo, nó bị tước mất đi giá trị thực và điều quan trọng hơn đó là khiến con người bị hạ giá.

Con Thiên Chúa yêu mến con người tới mức nhập thể làm người, để “yêu bằng con tim của con người.”[3] Ngài đã từ bỏ tất cả, thậm chí từ bỏ ngay chính Ngài bằng cái chết của Ngài trên Thập Giá, để bày tỏ tình yêu của Ngài. Có thể nói chiều kích eros đã lên đến đỉnh điểm nơi Đức Giêsu. Ngài đã thánh hóa eros. Ngài đã đặt eros vào đúng nghĩa của nó. Một eros chân chính phải có khuynh hướng đưa chúng ta vượt qua chính mình và đưa con người hướng đến Thiên Chúa. Không những thế, nơi Đức Giêsu Kitô còn thể hiện một chiều kích khác của tình yêu – tình bác ái, tình yêu cho đi. Tình yêu ấy được gọi là Agape.[4]

Đức Giêsu trên thập giá là hiện thân của sự từ bỏ đích thực vì người khác. Đức Kitô là biểu hiện sự kết hợp trọn vẹn giữa hai chiều kích eros và agape trong tình yêu. Ngài đã minh chứng eros càng lớn lao đến đâu thì chiều kích agape càng thăng tiến đến đó, đến độ chúng hoà làm một trong tình yêu duy nhất. Tình yêu này là sự quan tâm, lo lắng cho nguời khác. Nó không còn là tìm kiếm chính mình hay một sự say mê hạnh phúc. Thay vào đó agape tìm kiếm điều thiện cho người mình yêu. Agape trở thành sự từ bỏ chính mình và sẵn sàng chấp nhận cả hy sinh tính mạng vì người mình yêu.

Như thế, trên thập giá Đức Giêsu đã chứng tỏ cho nhân loại hiểu sự cần thiết phải kết hợp giữa hai chiều kích eros và agape để tình yêu được trọn vẹn và đúng nghĩa của nó, đem lại hạnh phúc chân thật cho cuộc sống đồng thời làm cho tình yêu thêm thăng hoa và bền vững. Nơi Đức Giêsu trên thập giá “Eros đã trở nên tột cùng cao quý đến độ thuần khiết nên một với Agape”.[5]

Với hai cánh tay giang rộng trên thập giá, Đức Kitô đã minh chứng hùng hồn cho một tình yêu đích thực và sự cao cả của nó – “không có tình yêu nào cao cả hơn tình thương của người hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15,13). Như vậy, tình yêu của Đức Kitô trên thập giá đập tan quan niệm cho rằng “đạo đức và tôn giáo, niềm tin và tình yêu là những cái đối lập nhau. Kẻ nào kính Chúa, người đó không thể yêu thương con người hơn người khác, và ngược lại người nào yêu thương con người một cách đích thật, thì không thể kính Chúa.”[6]

2. Thập giá mạc khải cho ta biết về “Một Thiên Chúa Ba Ngôi

Người ta có thể nghĩ rằng tính vị tha tuyệt đối làm nên Ba Ngôi Thiên Chúa, sự từ nhiệm vô tận của tính tương quan luôn mãi tồn tại, ở đây mỗi Ngôi vị là mình trong Ngôi vị khác, đặc tính chung của mỗi Ngôi trong Ba Ngôi là trở nên ân ban tràn đầy cho hai Ngôi kia. Linh mục Marc Donzé có cách diễn tả thật thâm thúy như sau: “người ta có thể nghĩ rằng đức ái xuất thần này và cái nghèo siêu việt này, đã không thể diễn đạt được tốt hơn trong cái vũ trụ suy thoái của chúng ta, ở đây cái tôi dường như lúc nào cũng đồng nghĩa với chối từ và thụ động kinh khủng, mà chỉ có thể diễn đạt được bằng cái chết vì yêu nơi Đức Kitô, vị Hoàng Tử của sự sống đã tự hiến mình thành tội vì chúng ta.”[7]

Việc Đức Giêsu nếm trải những giờ khắc trên thập giá, và trong suất cuộc thương khó của Người như là việc vận dụng triệt để liên quan đến con người về tình yêu của Người đối với nhân loại; tình yêu mà Người chia sẻ với Chúa Cha và với Chúa Thánh Thần; tình yêu mà nó tỏ lộ, nhờ ân sủng, trong ý định duy nhất của Chúa Ba Ngôi – ý định ban tặng Nước trời cho con người.[8]

Thập giá là đỉnh cao của Mạc khải, chính trên thập giá Đức Kitô mặc khải cho chúng ta về một Thiên Chúa hoàn toàn khác với vị Thiên Chúa mà con người vẫn hay nghĩ về Ngài. Biến cố Đức Giêsu giang tay ra trên thập giá đã cho ta thấy rõ nét về một Thiên Chúa tự thông ban chính mình Ngài. Thiên Chúa là Thiên Chúa của lời hứa, Ngài hướng con người đến tương lai, hướng họ đến ý nghĩa, đến cùng đích,… và như thế Ngài là Thiên Chúa của niềm hy vọng. Thập giá Đức Kitô ăn gắn và nối kết với chính cuộc sống của Ngài, mà cuộc sống của Ngài là một cuộc sống sống cho người khác. Cũng thế, cái chết của Đức Giêsu là một cái chết cho nhân loại “Tất cả các con cầm lấy mà ăn, cầm lấy mà uống…”. Cái chết cho này là để làm sáng tỏ cho cái sống cho, như trong kinh Tin Kính chúng ta tuyên xưng “Vì loài người chúng ta và để cứu rỗi chúng ta.” Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý rằng, Đức Giêsu tuyệt đối không tìm đến cái chết để hoàn thiện chứng từ của Người. Nhưng chính thập giá diễn tả quà tặng của Thiên Chúa Ba Ngôi trao ban tình yêu xuống cho nhân loại. Và như thế tình yêu của Đức Kitô dành cho con người mang chiều kích Ba Ngôi.

            Hơn nữa, thập giá mặc khải cho chúng ta rằng, khoảng cách tự nhiên vốn chia cách chúng ta với Thiên Chúa là điều tất nhiên vì Thiên Chúa không thể dựng nên chúng ta ngang bằng với Ngài, nhưng đó không phải là câu nói cuối cùng của Thiên Chúa. Ngài đến để nối lại khoảng cách đó bằng cái “ngang bằng trong tình yêu mà thập giá minh chứng với một sự quảng đại vô bờ bến” (QHQD 175). Thiên Chúa đến để bắc một cây cầu giữa thân phận thụ tạo của chúng ta với Ngài, bằng cây Thập giá, giữa tối tăm của chúng ta với ánh sáng của Ngài. Ngài hướng con người đến tương lai, đến ý nghĩa và cùng đích tối hậu trong sự hiệp thông trọn vẹn với Ngài. Và như vậy Thiên Chúa đã thực sự mở ra một tương lai mới cho con người.

3. Thập giá minh chứng tình yêu cao vời của Thiên Chúa

Nữ thánh tiến sĩ Catarina Sienna nói: “Thập giá không phải là một sự đùa giỡn, vì ở nơi đó Thiên Chúa đã nộp mạng vì chúng ta.

Vâng, tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta được bắt đầu từ cuộc sáng tạo, đã trở nên hữu hình trên thập giá, trong sự tự hủy của Thiên Chúa. Tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người, được biểu lộ cách viên mãn trên thập giá bằng một tình yêu dâng hiến, một tình yêu chỉ hoàn toàn tìm kiếm sự thiện hảo của người khác. Một tình yêu dâng hiến cho con người tất cả những gì Thiên Chúa . Như trong sứ diệp mùa chay năm 2009 của Đức giáo hoàng Benedicto XVI: “Đây cũng là một tình yêu, mà qua đó con tim của chính Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng đang chờ đợi tiếng ‘xin vâng’ của tạo vật Người sáng tạo, giống như một vị hôn phu trẻ tuổi chờ đợi tiếng “xin vâng” của vị ‘hôn thê.’” Bất hạnh thay, ngay từ lúc khởi đầu, nhân loại đã bị Ác thần dùng những lời dối trá dụ dỗ, nên đã khép kín lòng mình lại trước tình yêu Thiên Chúa và ảo tưởng xem mình là đầy đủ mà không cần đến Người (x. St 3,1-7). Nhưng qua hiến tế thập giá, Thiên Chúa tiếp tục tái đề nghị cho con Người tình yêu của Người. Như Pseudo-Denys đã nói trong cuốn (Bàn Về Danh Thiên Chúa, IV, 13; PG 3, 712) như sau: “Không cho phép người yêu cứ nằm lỳ mãi trong nhà mình, nhưng thúc đẩy người yêu đi đến kết hợp với người mình yêu, bằng cách đi ‘khất thực’ tình yêu của tạo vật mà Chúa đã dựng nên.”

Tình yêu Thiên Chúa trong Cựu Ước:

Trong Cựu Ước Thiên Chúa đã bày tỏ tình yêu của Ngài qua hành động, lời nói. Còn Thiên Chúa thì “không ai thấy bao giờ” (Ga1,18). Cho đến khi Ngôi Lời Nhập Thể mang dung mạo của con người và chỉ đến khi Thiên Chúa bị treo trên thâp giá lúc đó con người mới thấy rõ tại sao trong Cựu ước Thiên Chúa lại yêu thương con nguời như vậy. Ngay từ buổi bình minh của lịch sử loài người, Thiên Chúa đã yêu thương con người. Ngài ưu ái họ hơn mọi thụ tạo khác. Ngài tác tạo con người theo hình ảnh Người để họ được chia sẻ vinh quang với Người (x. St 1,26). Nhưng vì con người phạm tội. Tội lỗi đã đào vực thẳm ngăn cách con người với Thiên Chúa. Giữa lúc con người bị dồn vào thế tuyệt vọng thì Thiên Chúa đã hé mở cho họ một tia hy vọng được giải thoát (St 3,15). Và lời hứa ấy đã được thực hiên nơi cái chết của Con Thiên Chúa. (x. 1Pr 2,24).

Đức Giêsu Kitô chịu treo trên thập giá chứng thực rằng trong Cựu ước Thiên Chúa đã yêu thương con người bằng cả eros và agape. Chiều kích eros thể hiện qua việc Thiên Chúa ban cho Israel lề luật, trong đó Ngài đòi hỏi Israel phải yêu mến Ngài (Đnl 6,4-5). Ngài tỏ cho Israel biết Ngài yêu với một tình yêu cá vị. Ngài đã chọn Israel giữa muôn dân tộc nhưng với viễn ảnh chữa lành toàn thể nhân loại. Trong Cựu Ước một số tiên tri như Hôsê, Êdêkien đã dùng hình ảnh táo bạo ví eros của Thiên Chúa dành cho Israel như hình ảnh giao ước và hôn nhân, việc thờ ngẫu tượng bị xem như là ngoại tình(Hs 2,4-25).

Song song với chiều kích eros, Thiên Chúa còn bày tỏ agape dành cho dân. Thực vậy, ngôn sứ Hôsê chỉ cho chúng ta thấy rằng agape của Thiên Chúa dành cho con người vượt xa khía cạnh hào phóng. Nó còn mang tính chất tha thứ. Israel mặc dù đã ký kết giao ước với Thiên Chúa nhưng vẫn tiếp tục ngoại tình vi phạm giao ước. Israel rất đáng bị xét xử và bị trừng phạt bởi Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa đã không làm vậy. Chính ở điểm này Thiên Chúa đã tỏ ra Ngài yêu mến con người đến mức độ nào, rằng Ngài là Thiên Chúa chứ không phải con người “Hỡi Eprahim, Ta từ chối người sao nổi. Hỡi Israel Ta trao nộp ngươi sao đành…. Trái tim Ta thổn thức, ruôt gan Ta bồi hồi. Ta sẽ không hành động trong cơn nóng giận, sẽ không tiêu diệt Eprahim nữa, vì Ta là Thiên Chúa, chứ không phải người phàm. Ở giữa ngươi Ta là Đấng Thánh” (Hs 11,8-9). Những lời bày tỏ tha thiết này chính là tiếng vọng của tâm hồn Đức Giêsu trên thập giá. Vì yêu thương con người Ngài đã từ bỏ chính mình. Ngài đã chống lại công lý của Ngài “Đấng Công Chính đã chết cho kẻ bất lương hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa” (1 Pr 3,18 ). Đức Giêsu là câu trả lời cho câu hỏi tại sao trong Cựu ước Thiên Chúa lại dành cho con người tình yêu lớn lao như vậy.

Tình yêu Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô:

Thập giá Đức Kitô không những làm sáng tỏ những hành động bày tỏ tình yêu của Thiên Chúa vô hình trong Cựu ước mà còn minh chứng cho tình yêu vô hạn của Thiên Chúa bầy tỏ trọn vẹn trong Đức Giêsu Kitô. Thánh Tông đồ Gioan đã viết “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban Con Một Người, để những ai tin vào Con Ngài thì sẽ không phải hư mất nhưng được sống đời” (Ga 3,16). Và thế là, vì yêu con người Thiên Chúa đã từ bỏ chính Ngài để đến sống kiếp phàm nhân (x. Ga 1,14; Phl 2,6-8). Thiên Chúa không dung mạo giờ đây đã mặc lấy dung mạo nơi Đức Giêsu để ai thấy Đức Giêsu là thấy Thiên Chúa (x. Ga 14,9). Đức Giêsu đã tuyên xưng Người với Chúa Cha là một (x. Ga 10,13). Ngài chính là hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình. Cho nên, bất cứ ai nhận thấy tình yêu được bày tỏ nơi Đức Giêsu Kitô là nhận thấy tình yêu của Thiên Chúa; Bất cứ hành động nào bày tỏ tình yêu của Đức Giêsu cũng là hành động bày tỏ tình yêu của Thiên Chúa. Đồng thời, Đức Giêsu Kitô cũng mạc khải cho chúng ta biết ai yêu mến Ngài là yêu mến Thiên Chúa. Ngài cũng mời gọi chúng ta yêu mến Chúa Cha như Ngài. Ngài muốn chúng ta hãy yêu mến Ngài bằng trái tim của chúng ta. Ngài mời gọi chúng ta sống hiệp nhất với Ngài. Đó là “Một sự hiệp nhất tạo ra tình yêu, một sự hiệp nhất trong đó cả Thiên Chúa và con người giữ nguyên chính mình nhưng lại trở nên một”[9]; hay như thánh Phaolô viết: “Ai kết hợp với Chúa thì trở nên một Thần Khí với Ngài” (1Cr 6,17).

Khi nhấn mạnh rằng Đức Giêsu Kitô là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa , ĐTC Bênêdictô XVI đã nói một câu rất thâm sâu rằng: “tính chất mới mẻ thực sự của Tân ước không hệ tại nhiều ở những ý tưởng mới cho bằng trong chính hình ảnh của Chúa Kitô Đấng trao ban mình và máu Ngài cho những ý tưởng đó” (Thông Điệp Thiên Chúa là tình yêu số 12). Thực ra,không phải đợi đến khi những chiếc ghim đầu tiên của con người găm Đức Giêsu vào thập giá thì lúc đó tình yêu Thiên Chúa mới dành trọn vẹn cho con người. Khi trở thành xác phàm, Con Thiên Chúa đã tự nguyện từ bỏ thế giới của Thiên Chúa, tự nguyện chịu đóng đinh vào lịch sử nhân loại để Ngài biến đổi lịch sử ấy và đem lại sự sống mới cho con người. Biểu hiện cụ thể của sự tự nguyện này thể hiện ngay từ việc Ngài hòa mình cùng dòng người tội lỗi lội xuống dòng sông Giodan chịu phép thanh tẩy của ông Gioan. Nhưng biểu hiện tuyệt đỉnh của sự tự nguyện vì tình yêu vô hạn của Thiên Chúa là khi Ngài bị treo trên thập giá. Thập giá đã làm chứng cho tất cả những gì Ngài đã nói đã làm để bày tỏ tình yêu trong cuộc đời Ngài đều là chân thật, đều xuất phát từ tình yêu.

Thập giá, một hình phạt tử hình dành cho những kẻ phạm trọng tội thời đế chế La Mã cổ. Thập giá là “chướng kỳ ô nhục đối với người Do thái” (1Cr 1,23).[10] Cho nên, việc Thiên Chúa bị đóng đinh trên thập giá là điều mà người Do Thái vốn nặng về lề luật không thể chấp nhận được. Người Do Thái không thể tin được vị Thiên Chúa duy nhất quyền năng của họ (x.Đnl 6,4) lại xuất hiện trong hình hài, tình trạng thê thảm, yếu đuối tột cùng như vậy. Còn đối với dân ngoại thuộc văn hóa Hy la vốn nặng về lý trí và thế tục, họ cho đây là một hành động điên rồ. Không thể có một người nào với lý trí lành mạnh và ý chí tự do lại lựa chọn con đường bày tỏ tình yêu của mình như vậy. Chúng ta không bất ngờ khi nhiều người vấp ngã vì cách thức bày tỏ tình yêu vô cùng độc đáo, vô cùng yêu thương của Thiên Chúa. Thậm chí ngay cả những người thân cận như Phêrô cũng bị vấp ngã. Ông không nghĩ rằng thầy mình lại chọn con đường này (x. Mt 16,21; 17,22). Có thể nói được rằng thập giá là chướng ngại khó chấp nhận nhất đối với các môn đệ. Các ông cảm nghiệm thập giá như là một sự thất bại của Chúa Giêsu và của chính bản thân họ. Ba lần chúa tiên báo cuộc khổ nạn, là ba lần các ông không hiểu và không chấp nhận.

Vậy mà, chính trong sự “điên rồ”, “chướng kỳ ô nhục”, thân xác phàm tục yếu đuối ấy, Thiên Chúa đã bày tỏ trọn vẹn, rõ ràng nhất tình yêu của Ngài dành cho con người. Ngài yêu con người ngay cả trong tình trạng yếu đuối nhất của con người đó là sự đau khổ về thể xác, nhục nhã về tâm hồn. Ngài theo đuổi, bày tỏ tình yêu với con người đến tận cùng cái chết của Ngài. Như vậy, Ngài muốn đẩy tình yêu ấy lên tột đỉnh. Ngài muốn đưa tình yêu ấy đến vô cùng, vượt qua mọi giới hạn. Cái chết của Đức Kitô trên thập giá như là ranh giới tột cùng mà một tình yêu có thể đạt tới; nhưng ở mọi cấp độ, dưới mọi dạng thức, bất cứ mối tình đích thực nào cũng phải mang đặc tính này là: tự hiến mình vì kẻ khác, tức là một tình yêu hoàn toàn agape. Như vậy, không thể có tình yêu nào có thể sánh với tình Chúa yêu con người. Không danh xưng nào tôn vinh Ngài xứng hợp hơn danh xưng “Thiên Chúa là Tình Yêu”.

Thập giá là biểu từ tình yêu tận căn và dâng hiến hoàn toàn “Người là Đấng đã yêu thương những kẻ thuộc về Người trong thế gian và Người đã muốn yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). Nơi thập giá Đức Kitô biểu lộ lòng nhân hậu bao dung của Thiên Chúa. Một Thiên Chúa yêu thương và tha thứ đến cùng, kể cả những kẻ hại Người “Lạy Cha! xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Trên thập giá, ngay cả khi mạng sống chỉ còn đếm bằng giây, Chúa Giêsu vẫn sẵn sàng tha thứ tội lỗi cho một đồng phạm với mình, và còn hơn thế Ngài hứa ban phúc thiên đàng “Tôi bảo thật với anh, hôm nay anh sẽ được ở trên thiên đàng với tôi”(Lc 23, 43).

Cái chết của Đức Kitô trên thập giá là ranh giới tột cùng mà một tình yêu có thể đạt tới; nhưng ở mọi cấp độ, dưới mọi dạng thức, bất cứ mối tình đích thực nào cũng phải mang đặc tính này là: tự hiến mình vì kẻ khác. Đức Kitô là con người sống cho kẻ khác và theo lời dạy của Ngài, tình yêu là dấu chỉ không thể sai lầm cho biết người tín hữu nào thực sự thuộc về Đức Kitô.

4. Thập giá biểu thị sự khiêm hạ và lòng quảng đại của tình yêu Thiên Chúa

Có lẽ rằng, giữa yêu thương và chia sẻ đau khổ chẳng có gì đối nghịch nhau. Chia sẻ đau khổ đích thực không chỉ là một biểu hiện của tình cảm. Nhưng đó là một thứ đồng hóa với nỗi đau của kẻ khác, và như vậy nó là một hành động cơ bản của tình yêu.[11] Người Hy-Lạp xưa quan niệm Thiên Chúa thì bất biến, như vậy họ coi Ngài là tinh thần thuần túy, và do đó Ngài không thể cảm giác mà cũng chẳng biết đau. Vì thế, nhiều người đã đặt ra câu hỏi, vậy Thiên Chúa thật sự ra sao? Về vấn đề này, giáo phụ Origen đã nói một câu thật hay: Thiên Chúa quả thật không biết đau, nhưng Ngài biết cùng đau. Nghĩa là Ngài có thể đồng hóa với ta, với những kẻ đau khổ. Quả là hành vi yêu thương lớn lao, khi Thên Chúa đi vào thân xác con người trong Đức Kitô để đồng hóa với ta và như vậy Ngài đồng hóa ta với Ngài và đưa ta vào rong tình yêu của Ngài.

Khi tạo dựng thế giới trong tình yêu và con người trong tự do, Thiên Chúa đã liều mình để thấy tình yêu của Ngài bị thất bại. Do các chối từ tình yêu của con người, Thiên Chúa thấy mình đối mặt với một nhân loại u tối, hụt hẫng, bất hòa. Nào Ngài biết làm gì khác trong hoàn cảnh này, mà chỉ biết tiếp tục yêu, bởi Ngài toàn là tình yêu và chỉ là tình yêu? Ngài sẽ tiếp tục yêu như vị Hôn Phu bị tổn thương đến vô cùng tận, do sự phản bội của người là vị hôn thê của mình, nhưng Ngài vẫn hy vọng rằng sự trung tín của người yêu sẽ làm cho nàng quay trở lại. Ngài sẽ tiếp nhận hết mọi thương đau người ta đem đến cho Ngài và tất cả thương đau mà người ta đem đến cho mỗi thành phần nhỏ, chi thể của các tạo vật Ngài dựng nên. Không một lời, Ngài cứ tiếp tục dâng hiến tình yêu. Và Đức Kitô mặc khải hoàn hảo về Ba Ngôi Thiên Chúa, sẽ làm chứng về tình yêu muôn đời bị thương tích đó, được dâng hiến cho đến cùng. Ngài sẽ trở nên bức tranh vẽ không thể xóa với đôi tay dang rộng trên thập giá và cạnh sườn bị dâm thủng.

Thập giá là một chuyển động từ trên xuống hơn là từ dưới lên. Vượt lên trên nhưng biểu hiện con người trên thập giá, thập giá là biểu hiện cao cả của Thiên Chúa đối với con người. Chính Thiên Chúa là người đã đi bước trước đến với và giao hòa với con người. Mầu nhiệm thập giá bắt đầu với cái mỏng dòn diệu huyền này của Thiên Chúa, là chịu phục tùng con người, vì yêu và quý trọng tự do của con người. Đấng toàn năng trở nên vô cùng mỏng dòn, Ngài có thể bị đả thương vô cùng tận, khi người ta biết rằng trong tình yêu, chỉ một mảy may sơ ý, một mảy may bất trung đều dẫn đến những vực thẳm. Thiên Chúa trở nên như một đứa trẻ vô tội, mà người ta có thể xé nát một cách khủng khiếp. Chính có lẽ như thế mà Clauden đã gặp gỡ được điều đó, vào buổi tối Giáng sinh năm 1886, ở nhà thờ Notre Dame de Paris, khi ông nhận ra “sự vô tội chua xót và sự ngây thơ muôn thuở của Thiên Chúa” (QHQD 107; xem HJ 112).

Sự mỏng dòn này là sự khiêm hạ: Thiên Chúa tự hiến thân với đầy kính tôn và vâng phục. Ngài tự hiến thân như kẻ nghèo hèn dâng hiến. Một bản văn thời Trung Cổ, đã có lần được gán cho thánh Tôma, ngài nói lên điều đó một cách mạnh mẽ làm rung động con tim, và cha Zundel đã đặt nó làm tiêu đề cho cuốn sách Con người nào và Thiên Chúa nào: “Ở đây có cái gì khác nữa làm cho linh hồn bừng cháy lên để yêu mến Thiên Chúa: đó là đức khiêm nhu thần linh. Thiên Chúa Đấng Toàn Năng, quả thật Ngài đã quy phục (quá đỗi) từng thiên thần và cho từng người để tự bán mình và làm cho mỗi người đều là Thiên Chúa của Ngài. Để gợi lên điều đó, Ngài sẽ coi mình là tôi tớ cho họ, như Thánh Vịnh 81 đã nói: “Ta đã phán: hết thảy các ngươi đây đều là bậc thần thánh Đức khiêm hạ này phát xuất từ sự dồi dào của lòng nhân hậu và của sự cao sang thần thánh, cũng như một cây xanh vươn ra dưới những trái xum xuê ngọt ngào của nó.[12]

Trong sự khiêm nhu này, Thiên Chúa tiếp tục hiến thân trọn vẹn, Ngài cảm thương cho con người đang bị tan rã và hư mất, Ngài bị thương vong vì tình yêu của Ngài bị từ chối, phủ nhận, dày xéo. Đức Giêsu mặc khải như thế cho chúng ta, “Ngài đã không ngừng cảm thức, trong một lòng cảm thương đi trước cuộc khổ nạn của Ngài, cái thất bại ê chề của Thiên Chúa nơi con người đã quay lưng cho sự sống chân thực của chính nó, và cái thất bại ê chề của con người bất lực trong việc tiếp cận với quan hệ của Thiên Chúa, vì không sống được với quan hệ đó một cách riêng tư cá nhân” (MM 67). Trước tình cảnh ấy và trong sự thương cảm vô biên đã lôi kéo Đức Giêsu cho đến tận cuộc Khổ Nạn để trở nên cái đỉnh cao và sự kiện toàn của chính thập giá. Nhờ thập giá, Đức Giêsu đã đưa ra hành vi niêm dấu ấn của đặc tính hôn ước vào việc tạo dựng, cho đến tận những giới hạn tột cùng của nó. Ngài đã lập nên cái phương trình tuyệt vời: đối với Thiên Chúa, con người bằng Thiên Chúa. Bởi tự do của Thiên Chúa phục tùng tự do của con người. Tình yêu của Thiên Chúa phục tùng tình yêu của con người. Trước khi giang rộng đôi tay trên thập giá. Đức Giêsu đã thực hiện hành vi tiên tri của phương trình trên đây. Ở lúc rửa chân Thiên Chúa đã quỳ gối xuống trước mặt con người. Với cử chỉ tột cùng khiêm hạ này, Đức Giêsu đem lại uy tín cho sự cao cả của con người, Ngài đã muốn một lần cuối, trước khi đi chịu chết, nêu rõ lòng quảng đại vô biên của Thiên Chúa.Ngài đã muốn cho các môn đệ và ngang qua các ông cho tất cả nhân loại nhận ra sự thật về tình yêu, đó là việc hiến tế trên thập giá. Tình yêu bị thương tích của Thiên Chúa, không chỉ tự hiến trong một hành vi cao cả,mà Ngài còn mang trên mình mọi vết thương của con người. “Đức Giêsu Ngôi Lời nhập thể, vô cùng liên đới tất cả với nhau,với Thiên Chúa, với con người và với tất cả Vũ trụ. Ngài bị những ngọn roi quất trúng vào Ngài,những ngọn roi của tất cả những chối từ mà nhân loại không ngừng tạo ra để chống lại với Thiên Chúa. Đức Giêsu đã bị tước mọi vũ khí, vì tình yêu của Ngài đối với quyền tự do của con người cứ tự hủy hoại một cách điên cuồng,… (x. QHQD 116). Vượt lên cả cái quỳ gối của Thiên Chúa trước con người, thì Thiên Chúa đã đưa ra một đối trọng tình yêu để cân bằng mọi bất trung của con người, bởi ngài chỉ có thể hiệp thông hoàn toàn vào lúc mà các chống cự của chúng ta phải sụp đổ. Chính vì thế, Đức Giêsu trong cái nghèo của Ngài phải gánh vác lấy tất cả những chống đối đó để giải thoát chúng ta, Ngài phải chịu đựng những trận chống đối một cách mạnh mẽ và điên cuồng của nhân loại ngang qua tất cả chiều dài lịch sử. Một lịch sử phải tìm được sự hiệp nhất của nó trong chính Ngài, nhưng sau cùng Đức Giêsu đã phải trở nên đối trọng của Tình Yêu. Ngài đã chấp nhận bị xé tan nát và mình vấy đầy máu, bị treo trên Thập giá để cân bằng mọi phá rối của con người.

Trong ý nghĩa sâu xa ấy, Thập giá là sự mạc khải tối thượng của Thiên Chúa, bởi Thập giá biểu thị sự khiêm hạ tuyệt đối và lòng quảng đại tuyệt đối của tình yêu và đó là mạc khải tối hậu của con người ngang qua lịch sử. Bởi thập giá kêu gọi con người đến với cái cao cả vô biên của nó, bất chấp mọi tối tăm, chúng sẽ được cân bằng và chiếu sáng bởi Thiên Chúa tình yêu.Thánh giá biểu chứng tình yêu vượt hết mọi rào cản, vượt mọi sự tàn nhẫn của tội ác của con người. Đó là một tình yêu hạ mình, một tình yêu mà Thiên Chúa là Chúa trời đất đã hiến dâng chính mình để cứu lấy con người đang trên đà hư mất và dẫn con người đến nguồn ơn cứu độ.

5. Tình yêu trên thập giá có giá trị cứu độ thông qua sự Phục Sinh của Đức Kitô

Bị người của mình bỏ rơi, bị coi như một con người báng bổ, phạm thượng bởi các chúa tể của Lề luật và như một kẻ xách động bạo loạn bởi người đại diện của quyền lực, Đức Giêsu tiến về cùng đích của Ngài. Nhưng nếu như tất cả đều chỉ dừng lại ở đó, thì cái chết của Ngài cũng sẽ như bất cứ cái chết bất công nào ở trong lịch sử, như một kẻ vô tội ngã xuống vì sự bất công của thế gian.

Thập giá như là cái chứng thực sống cho của Đức Kitô. Nhưng nếu dừng lại ở thập giá thì chưa đủ, mà phải cần đến biến cố Phục sinh. Sự Phục sinh là một khẳng định lập trường chuẩn thuận của Thiên Chúa hằng sống trên Đức Kitô của Ngài, trong Thần Khí và với cái quá khứ của thập giá. Không có thập giá, biến cố Phục sinh Đấng bị đóng đinh không thể nào có thể quan niệm được. Người ta có thể nói rằng không có thập giá, sự Phục sinh là trống rỗng. Cũng vậy, nếu không có sự Phục sinh, thập giá là mù tối, bị tước đi tương lai và hy vọng. Và nếu như Phục sinh là một biến cố của lịch sử Thiên Chúa Ba Ngôi, thì thập giá cũng chính là lịch sử Tam Vị của Thiên Chúa.

Nhờ sự Phục sinh của Đức Kitô, cây thánh giá đã trở thành Tin mừng làm chứng cho một thương yêu chiến thắng. Chiến thắng bằng những phấn đấu gay go, dũng cảm và kiên trì, chống lại những tội lỗi và những khuynh hướng xấu bằng những việc làm bác ái cởi mở, bao dung và chấp nhận hy sinh. Phục sinh là Tin mừng, nhờ sự Phục sinh chúng ta được Đức Giêsu đem vào trong đời sống Chúa Ba Ngôi. Bởi đó cứu độ cuối cùng chính là tham dự vào đời sống Chúa Ba Ngôi. Đó không phải là lời nói suông nhưng đã được thực hiện nơi Đức Giêsu Kitô. Thiên Chúa không chỉ trao ban tình yêu của Ngài trong vũ trụ qua công trình sáng tạo, nhưng Ngài còn thánh hóa và đưa vào trong tương quan của Ngài nhờ cái chết và sự Phục sinh của Đức Kitô…

Như vậy, mầu nhiệm Đức Kitô Tử Nạn và Phục Sinh có sức đem lại cho chúng ta một cuộc chuyển đổi sâu đậm và hoàn toàn. Từ một dời sống lện thuộc vào tình trạng nôlệ tội lỗi đến một đời sống tự do, được sống động hóa bằng tình yêu thương và sức mạnh đánh đổ mọi biên giới cản trở và kiến tạo một sự hòa hợp mới trong chính tâm hồn và trong mối tương giao với người khác và đối với các sự vật.

Tạm Kết

Đức Gioan Phaolô II đã viết trong Thông điệp Redemptor Hominis, (Đấng cứu chuộc con người, số 10) như sau: “Con người không thể sống được mà không có tình yêu. Con người đối với chính mình là một hữu thể không thể nào hiểu được, cuộc sống của con người sẽ không có ý nghĩa, nếu con người không nhận được Mạc khải về tình yêu, nếu con người không gặp được tình yêu, nếu con người không cảm nghiệm được tình yêu và nếu con người không hết lòng hết dạ thông phần vào tình yêu.

Qua thánh giá Chúa Kitô nhân loại tìm lại được sự sống họ đã đánh mất, và nhận ra ơn cứu độ của con người đã được vãn hồi. Là những người kitô hữu, chúng ta tuyên xưng mầu nhiệm thập giá Đức Kitô vì Đức Kitô chịu chết và Phục sinh là con đường duy nhất đem lại ơn cứu độ cho chúng ta. Như thánh Phaolô, chúng ta phải xác tín “Hiện nay tôi sống trong kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2,20).

Nơi thánh giá, chúng ta nhận ra rằng, chính khi tội ác của con người lên đến cao điểm, thì cũng là lúc tình yêu của Thiên Chúa dâng cao tột cùng. Nơi thánh giá tình yêu chiến thắng sự ác, sự sống chiến thắng sự chết, ánh sáng chiến thắng bóng tối, tha thứ chiến thắng hận thù. Từ phương tiện mà con người dùng để khử trừ Thiên Chúa ra khỏi đời mình, thì lại được Thiên Chúa dùng để cứu độ nhân loại.

Trước tình yêu cao vời khôn ví của Thiên Chúa, con người phải tin, tôn thờ và yêu mến vì mọi sự đã tiêu tan hết nếu không có thánh giá Chúa Giêsu Kitô. Thập giá Đức Kitô nhắc nhở chúng ta ý thức rằng Chúa chết vì tội lỗi của con người và tội lỗi ấy thật lớn lao và nặng nề. Thánh giá là kế sách tuyệt diệu Thiên Chúa dùng để ban ơn tha thứ và cứu độ nhân loại. Tình yêu Thiên Chúa mở ra cho chúng ta một nguồn hy vọng lớn lao: sự khốn cùng của kiếp nhân sinh hay sự sung mãn của cuộc sống đều có thể hướng con người về Thiên Chúa. Chính nơi thập giá con người nhận ra được sự phong phú, đầy tràn, cao đẹp và vĩ đại của cuộc sống. Từ đó người ta có thể hiểu rằng, cuộc đời như thể là một món quà, một quà tặng lớn lao và tốt đẹp không do mình đem lại, nhưng như một hồng ân mình lãnh nhận cách nhưng không. Mỗi tín hữu Kitô cần khám phá ra niềm vui và ý nghĩa cuộc đời mình từ mầu nhiệm thập giá, phải tự thấy mình có trách nhiệm đem lại ý nghĩa cho cuộc sống mình đón nhận.

Jos. Nguyễn Văn Kế



[1] (x. Khóa VIII – ĐCV. Vinh Thanh, Một Lối Nhìn Về Mặc Khải, Nội san Niềm Tin 2006, tr.195)

[2] Thông điệp Thiên Chúa là tình yêu.

[3] Hiến Chế Gaudium Et Spes, số 22.

[4]Agapetrong tiếng Hy lạp có nguồn gốc từ ahab trong tiếng Do thái, nó diễn tả cảm nhận của tình yêu, trong đó có sự khám phá đích thực lẫn nhau, vượt qua tính chất ích kỷ.

[5] Thông Điệp Thiên Chúa là Tình Yêu, số 10.

[6] Fuerbach, Các Tác Phẩm Triết Học, Maxcơva, 1955, t.II, tr.824.

[7] Marc Donzé, Tư Tưởng Thần Học, dg: Nguyễn Thị Chung, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội – 2004, tr. 356.

[8] Lm. Nguyễn Khác Bá, Giáo trình Kitô Học và Thần Học Về Chúa Ba Ngôi, ĐCV. Vinh Thanh – 2009.

[9] Thông Điệp Thiên Chúa là tình yêu, số 10

[10] Thật tệ hại cho tội nhân bị kết án hình phạt này “vì người bị treo là đồ bị Thiên Chúa nguyền rủa” (Đnl 21,23). Thậm chí, ngay đến xác chết của tội nhân cũng là vật ô uế cần phải xử lý sớm (x. Gos 12,6). Đối với nền văn hóa Hy-La, thập giá là thứ khổ hình dành riêng cho nô lệ (Pl 2,8). Như vậy, thâp giá không chỉ đem đến cho tử tôi cái chết vì đau đớn mà còn đem đến cái chết vì nhục nhã. Một hình phạt không ai muốn nhận vào mình dù là một tội nhân.

[11] X. Joseph Ratzinger, Thiên Chúa và trần thế, tr.197

[12] J. MARITAIN, Art et scolastique (Paris, 1927), P. 245. N.38, được nêu trong QHQD 7 – 8.

 

About The Author

Priest of Vinh Dioscese

Number of Entries : 1658

© TRANG THÔNG TIN CHÍNH THỨC CỦA ĐẠI CHỦNG VIỆN VINH THANH

Scroll to top