You Are Here: Home » CHỦNG VIỆN » Tóm Tắt Tông Huấn Niềm Vui Tình Yêu Của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

Tóm Tắt Tông Huấn Niềm Vui Tình Yêu Của Đức Giáo Hoàng Phanxicô

Amoris-laetitia-574x493Không phải tình cờ mà Amoris Laetitia (AL), “Niềm Vui Tình Yêu”, Tông Huấn hậu thượng hội đồng về “Tình Yêu trong Gia Đình”, đã được ký vào ngày 19/03, Ngày Lễ Trọng Kính Thánh Giuse. Tông huấn này tổng hợp lại các kết quả của hai Thượng Hội Đồng về gia đình được Đức Giáo Hoàng Phanxicô kêu gọi vào năm 2014 và 2015. Văn kiện thường trích những báo cáo cuối cùng của các thượng hội đồng; các văn kiện và giáo huấn của của các Vị Tiền Nhiệm của Ngài; và nhiều bài giáo lý về gia đình của riêng Ngài. Ngoài ra, như trong các văn kiện huấn quyền khác, Đức Giáo Hoàng cũng dùng những đóng góp của các Hội Đồng Giám Mục khác nhau trên khắp thế giới (Kenya, Úc, Argentina…) và trích dẫn các nhân vật quan trọng như Martin Luther King và Erich Fromm. Đức Giáo Hoàng thậm chí có trích bộ phimBabette’s Feast để minh hoạ khái niệm về sự nhưng không.

Giới Thiệu (1-7)

Tông Huấn nổi bật ở tính sâu rộng và chi tiết của nó. 325 đoạn của tông huấn được trải dài thành 9 chương. Bảy đoạn dẫn nhập thẳng thắn đưa ra tính phức tạp của chủ đề đang cần nghiên cứu toàn diện. Những phần tham luận của các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng tạo nên một “cách nhìn đa diện” (AL 4), một quả cầu đa diện quý giá, mà giá trị của chúng phải được bảo tồn. Nhưng Đức Giáo Hoàng cảnh báo rằng “không phải mọi thảo luận về các vấn đề giáo lý, luân lý và mục vụ đều cần phải được thiết lập bởi các bài tham luận của huấn quyền”. Thực ra, đối với một số vấn đề, “mỗi quốc gia hay khu vực…có thể tìm kiếm các giải pháp tốt hơn phù hợp với nền văn hoá của mình và sự nhạy bén trước các truyền thống và nhu cầu địa phương của mình. Vì “các nền văn hoá thực ra khá đa dâng và mọi nguyên tắc chung…cần phải được hội nhập, nếu như nguyên tắc ấy được tôn trọng và áp dụng” (AL 3). Nguyên tắc hội nhập này áp dụng đối với cách mà các vấn đề được hình thành và đề cập và, ngoài các vấn đề mang tính giáo lý đã được xác định rõ bởi huấn quyền của Giáo Hội, thì không một cách tiếp cận nào có thể bị “toàn cầu hoá”. Trong bài diễn văn của Ngài vào phần kết thương hội đồng 2015, Đức Giáo Hoàng đã nói rất rõ ràng: “Điều dường như là bình thường đối với một giám mục ở một châu lục, thì lại được coi là xa lạ và hầu như là ô nhục – hầu như thế! – đối với một giám mục từ một châu lục khác; điều được coi là phá vỡ một quyền ở một xã hội thì lại là một luật rõ ràng và không thể phá vỡ ở một đất nước khác; điều mà đối với một số người là sự tự do lương tâm thì đối với người khác chỉ là sự bối rối”.

Đức Giáo Hoàng nói cách rõ ràng rằng chúng ta trên hết cần tránh một sự áp đặt không sinh hoa trái giữa những yêu cầu thay đổi và việc áp dụng chung các qui định trừu tượng. Ngài viết: “Các tranh luận được thực hiện trên truyền thông, ở một vài cuốn sách và thậm chí giữa các thừa tác của Giáo Hội, trải dài từ một lòng mong muốn không điều độ đối với một sự thay đổi tổng thể mà không có sự suy tư đủ hoặc nền tảng đủ, đến một thái độ sẽ giải quyết mọi thứ bằng việc áp dụng các quy định chung hoặc rút ra những kết luận sai trái từ những suy xét thần học cụ thể” (AL 2).

Chương 1: “Dưới ánh sáng của Lời” (8-30)

Tiếp theo chương dẫn nhập này, Đức Giáo Hoàng bắt đầu các suy tư của Ngài với Kinh Thánh trong Chương đầu tiên, chương đưa ra như một suy niệm về Thánh Vịnh 128 (xuất hiện trong phụng vụ cưới của người Do Thái cũng như là của các cuộc hôn nhân Kitô Giáo). Kinh Thánh “đầy các gia đình, sự sinh nở, câu chuyện tình yêu và các cuộc khủng hoảng giađình” (AL 8). Điều này thôi thúc chúng ta suy tư về việc gia đình không phải là một ý niệm trừu tượng là thế nào nhưng hơn thế giống như “một cuộc mua bán” thực tế” (AL 16), điều được thực hiện bằng sự dịu dàng (AL 28), nhưng cũng phải đối diện với tội lỗi ngay từ thuở ban đầu, khi mà mối quan hệ tình yêu biến thành một sự thống trị (x. AL 19). Do đó, Lời của Thiên Chúa “không phải là một chuỗi các ý niệm trừu tượng mà là một nguồn an ủi và đồng hành cho mọi gia đình đang kinh nghiệm những khó khăn và đau khổ. Vì Lời Chúa chỉ cho họ mục tiêu của cuộc hành trình của họ….” (AL 22).

Chương 2: “Những kinh nghiệm và thách đố của gia đình” (31-57)

Dựa trên nền tảng kinh thánh, trong chương 2 Đức Giáo Hoàng suy xét hoàn cảnh hiện tại của gia đình. Trong khi “giữ vững nền tảng trên thực tại” của kinh nghiệm gia đình (AL 6), Ngài cũng mạnh mẽ lấy từ các Báo Cáo sau cùng của hai Thượng Hội Đồng. Các gia đìnhđang đối diện với nhiều thách đố, từ di dân đến sự khước từ mang tính ý thức về về những khác biệt giữa hai phái tính (“ý thức hệ về phái” AL 56); từ nền văn hoá của não trạng tạm bợđến não trạng chống lại sinh sản và tác động của công nghệ sinh học trong lãnh vực sinh sản; từ việc thiếu nhà ở và việc làm đến phim ảnh khiêu dâm và việc làm dụng những người bé mọn; từ việc thiếu chú ý đến những người mang khuyết tật, đến sự thiếu tôn trọng người già; từ việc gỡ bỏ hợp pháp gia đình, điều là khái niệm chính trong Tông Huấn. Và chính sự cụ thể, thực tế và đời sống hằng ngày tạo nên sự khác biệt mang tính bản chất giữa “các lý thuyết” chấp nhận được về sự giải thích về thực tại và “những ý thức hệ” độc đoán.

Trích dẫn Familiaris consortio, Đức Giáo Hoàng Phanxicô cho rằng “thật tốt cho chúng ta khi tập trung vào những thực tại cụ thể, bởi vì ‘lời mời gọi và những đòi hỏi của Thần Khí vang vọng trong các biến cố của lịch sử’, và qua những điều này ‘Giáo Hội cũng có thể được hướng dẫn đến một sự hiểu biết sâu hơn về mầu nhiệm không thể suy kiệt được của hôn nhân và gia đình’” (AL 31). Trái lại, nếu chúng ta không lắng nghe thực tại, chúng ta khôngthể hiểu được sự cần thiết về sự hiện diện và sự tác động của Chúa Thánh Thần. Đức Giáo Hoàng nhấ mạnh rằng chủ nghĩa cá nhân tàn bạo đã làm cho con người thời đại thật khó để cho đi chính bản thân mình cách đại lượng cho người khác (x. AL 33). Đây là một bức tranh thú vị về hoàn cảnh: “Sự sợ hãi cô đơn và lòng khao khát sự ổn định và trung thành tồn tại cạnh kề nhau với một nỗi sợ gia tăng về việc gắn chặt vào một mối quan hệ có thể làm kìm hãm thành tựu các mục tiêu cá nhân của người ta” (AL 34).

Sự khiêm nhường của thực tại sẽ giúp chúng ta tránh được việc trình bày “một lý tưởng về hôn nhân quá trừu tượng và hầu như là thần học giả tạo, xa lìa khỏi những hoàn cảnh cụ thể và những khả năng thực tế của các gia đình thực sự” (AL 36). Chủ nghĩa lý tưởng không giúp cho người ta hiểu hôn nhân như nó là, đó là, một “con đường năng động đến với sự phát triển và thành toàn cá nhân”. Thật là không thực tế khi nghĩ rằng gia đình có thể tự duy trì chính nó “chỉ bằng việc nhân mạnh đến các vấn đề giáo lý, đạo đức sinh học và luân lý, mà không khích lệ sự mở ra cho ân sủng” (AL 37). Kêu gọi một thái độ “tự phê bình” nhất định về các cách tiếp cận vốn không đủ cho kinh nghiệm về hôn nhân và gia đình, Đức Giáo Hoàngnhấn mạnh sự cần thiết phải dành không gian cho việc đào luyện lương tâm của người tín hữu: “Chúng ta được mời gọi để hình thành lương tâm, để không thay thế lương tâm” (AL 37). Chúa Giêsu đưa ra một lý tưởng đầy đòi hỏi nhưng “không bao giờ không thể hiện lòng thương cảm và sự gần gũi với sự mỏng giòn của các cá nhân như người phụ nữ Sa-ma-ri hoặc người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình” (AL 38).

Chương 3: “Nhìn vào Chúa Giêsu: Ơn gọi gia đình” (58-88)

Chương thứ ba được dành cho một số yếu tố chính yếu của giáo huấn của Giáo Hội về hôn nhân và gia đình. Chương nay là quan trọng bởi vì 30 đoạn của chương phá hoạ rõ nét về ơn gọi gia đình theo Tin Mừng và như đã được Giáo Hội khẳng định qua thời gian. Trên hết, nó nhấn mạnh đến các chủ đề về bất khả phân ly, bản chất bí tích của hôn nhân, sự thông truyền sự sống và việc giáo dục con cái. Văn kiện Gaudium et spes của Công Đồng Vatican II, Humanae Vitae của Đức Phaolô VI, và Familirais Consortio của Đức Gioan Phaolô II được trích dẫn rộng khắp.

Chương này mang lại một cái nhìn bao quát và cũng chạm đến “những hoàn cảnh bất toàn”. Thực ra, chúng ta có thể đọc: “Sự biện phân về sự hiện diện của “các hạt giống của Lời”trong các nền văn hoá khác (x. Ad Gentes 11) cũng có thể áp dụng cho thực tại về hôn nhân và gia đình. Thêm vào với hôn nhân đúng bản chất thật, những yếu tố tích cực tồn tại dưới những hình thức của hôn nhân được tìm thấy ở các truyền thống tôn giáo khác’, ngay cả, đôi khi, mập mở” (AL 77). Suy tư cũng bao gồm “những gia đình mang thương tích” về những người mà Đức Giáo Hoàng – trích dẫn Báo Cáo Cuối Cùng của Thượng Hội Đồng 2015 cách mạnh mẽ – nói rằng “thật luôn cần thiết để nhắc lại nguyên tắc tổng thể này: ‘Các mục tử phải biết rằng, nhân danh sự thật, họ buộc phải thi hành sự biện phân cẩn trọng về các hoàn cảnh’ (Familiaris Consortio, 84). Mức độ trách nhiệm không tương đồng trong mọi trường hợp và các yếu tố có thể tồn tại vốn giới hạn khả năng tạo nên một quyết định. Do đó, trong khi nói một cách rõ ràng về giáo huấn của Giáo Hội, các mục tử sẽ tránh những phán quyết mà không có suy xét đến tính phức tạp của nhiều hoàn cảnh khác nhau, và họ phải chú ý, cách cần thiết, đến cách người dân kinh nghiệm và trải qua sự buồn sầu vì hoàn cảnh của họ” (AL 79).

Chương 4: “Tình yêu trong hôn nhân” (89-164)

Chương 4 nói đến tình yêu trong hôn nhân, nơi mà nó được soi sáng bởi Bài Ca Đức Ái của Thánh Phaolô trong 1 Cô-rin-tô 13:4-7. Phần mở đầu này thực sự là một sự chú giải cần mẫn, tập trung, thôi thúc và mang chất thơ của bản văn của Thánh Phaolô. Đây là một tổng hợp các đoạn ngắn mô tả một cách cẩn thận và dịu dàng tình yêu con người theo các thuật ngữ cụ thể tuyệt đối. Phẩm chất của sự suy xét mang tính tâm lý đánh dấu cho việc chú giải này là ấn tượng. Những hiểu biết tâm lý đi vào trong thế giới cảm xúc của đôi bạn – tích cực và tiêu cực – và chiều kích tình ái của tình yêu. Đây là một sự đóng góp cực kỳ phong phú và giá trị cho đời sống hôn nhân Kitô Hữu, vô tiền khoáng khậu trong các văn kiện giáo hoàn trước.

Phần này đi ra cách vắn tất khỏi việc suy xét cách tập trung hơn, tiếp nhận hơn về kinh nghiệm hằng ngày của tình yêu vợ chồng mà Đức Giáo Hoàng khước từ phán quyết chống lại những tiêu chuẩn lý tưởng: “Không cần thiết phải đặt lên hai con người giới hạn gánh nặng lớn lao của việc phải tạo ra một sự hiệp nhất hoàn hảo tồn tại giữa Đức Kitô và Giáo Hội của Ngài, vì hôn nhân như một dấu chỉ kèm theo ‘một tiến trình năng động…, một tiến trình thăng tiến dần với sự hỗ tương mang tín tiệm tiến của các ơn ban của Thiên Chúa” (AL 122). Mặt khác, Đức Giáo Hoàng đã nhấn mạnh cách quyết liệt về sự thật là tình yêu vợ chồng tự bản chất của nó xác định đôi bạn trong một sự hiệp nhất phong phú về tình cảm và dài lâu (AL 123), rõ ràng bên trong “sự pha trộn của niềm vui và những vật lộn, những căng thẳng và thư giản, nỗi đau và sự xoa dịu, những thoả mãn và khao khát, những quấy phá và hài lòng” (AL 126) vốn thực ra tạo nên một cuộc hôn nhân.

Chương này kết thúc bằng một suy tư quan trọng về “sự biến đổi của tình yêu” bởi vì “Đời sống thọ hơn hiện đang mở ra có nghĩa là các mối quan hệ gần gũi và đặc biệt phải tồn tại đến bốn, năm, hay sáu thập kỷ; kết quả là, quyết địh ban đầu cần phải được canh tân thường xuyên” (AL 163). Khi vẻ bề ngoài thể lý trở nên già nua, thì sự hấp dẫn yêu thương không suy giảm mà thay đổi vì lòng muốn tình dục có thể được biến đổi qua thời gian trở thành lòng muốn ở cùng nhau và bên nhau: “Không có sự đảm bảo nào là chúng ta sẽ cảm thấy y chang nhau trong suốt cuộc đời. Tuy nhiên, nếu một đôi bạn có thể theo kiép với một dự án cùng nhau và cả đời, thì họ có thể yêu thương nhau và sống nên một cho đến khi sự chết chia rẽ chính họ, vui hưởng một sự gần gũi làm cho phong phú” (AL 163).

 Chương 5: “Tình yêu sinh hoa trái” (165 – 198)

Chương 5 hoàn toàn tập trung vào hoa trái và sự sản sinh hoa trái của tình yêu. Chương này nói theo một cách thiêng liêng và tâm lý học sâu sắc về việc đón nhận sự sống mới, về việc đợi chời thời kỳ mang thai, về tình yêu của một người mẹ và một người cha. Chương này cũng nói về hoa trái mở rộng của việc nuôi dạy, của việc đón nhận sự đóng góp của các gia đình để cổ võ một “nền văn hoá gặp gỡ”, và về đời sống gia đình theo nghĩa rộng vốn bao gồm cả cô dì chú bác, anh chị em họ, họ hàng của họ hàng, bạn hữu. Tông Huấn Amoris Laetitia không tập trung vào cái gọi là “đại gia đình” bởi vì tông huấn biết về một gia đình như là mạng lưới mở rộng hơn của nhiều mối quan hệ. Linh đạo của bi tích hôn nhân có một tính cách xã hội sâu sắc (x. AL 187). Và bên trong chiều kích xã hội này Đức Giáo Hoàng đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò cụ thể của mối quan hệ giữa người trẻ và người già, cũng như là mối quan hệ giữa anh chị em với nhau như là một nền tảng đào luyện cho việc tạo quan hệ với người khác.

Chương 6: “Một số cách tiếp cận mang tính mục vụ” (199 – 258)

Trong Chương 6 Đức Giáo Hoàng nói đến nhiều cách tiếp cận mục vụ nhằm mục đích tạo nên những gia đình bền vững và sinh hoa trái theo kế hoạch của Thiên Chúa. Chương này dùng các Báo Cáo Cuối Cùng của hai Thượng Hội Đồng và các bài giáo lý của Đức Giáo Hoàng Phanxicô và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II một cách đặc biệt. Chương này nhắc lại rằng gia đình không chỉ cần được truyền giáo, gia đình còn phải truyền giáo. Đức Giáo Hoàng tiếc “rằng những thừa tác viên được thụ phong thường thiếu sự đào luyện cần thiết để giải quyết những vấ đề phức tạp mà các gia đình hiện đang đối diện” (AL 202). Mặt khác, việc đào luyện tâm lý – tình cảm của các chủng sinh cũng cần phải được cải thiện, và các gia đình cần được liên hệ hơn nữa vào việc đào luyện cho sứ vụ (x. AL 203); và mặt khác, “người ta cũng cần học từ kinh nghiệm về truyền thống định hướng rộng của một giáo sĩ đã kết hôn” (AL 202).

Sau đó, Đức Giáo Hoàng đề cập đế việc chuẩn bị cho đôi bạn đính hôn để kết hôn; với sự đồng hành của đôi bạn trong những năm đầu đời kết hôn, bao gồm vấn đề về việc làm cha mẹ có trách nhiệm; và cũng như với những hoàn cảnh và những cuộc khủng hoảng phức tạp, biết rằng “mỗi cuộc khủng hoảng có một bài học để dạy cho chúng ta; chúng ta cần phải học cách lắng nghe bài học ấy bằng đôi tai của con tim” (AL 232). Một số nguyên nhân của cuộc khủng hoảng được phân tích, trong số đó là một sự trì hoãn trong việc trưởng thành về mặt tình cảm” (x. AL 239).

Việc đề cập xa hơn nữa được thực hiện về sự đồng hành với người bị bỏ, bị chia tay hoặc ly dị. Tông Huấn nhấn mạnh tầm quan trọng của cuộc cải tổ gần đây về thủ tục tiêu hôn. Tông Huấn nhấn mạnh đến nỗi đau khổ của con cái trong các hoàn cảnh mâu thuẫn và kết luận:“Ly hôn là một sự dữ và sự gia tăng con số các vụ ly hôn là rất rắc rối. Do đó, nhiệm vụ mục vụ quan trọng nhất của chúng ta khi nói đến các gia đình là củng cố tình yêu của họ, giúp chữa lành các vết thương và làm việc để ngăn ngừa sự lan rộng của bi kịch này của thời đại chúng ta” (AL 246). Kế đến, tông huấn đề cập đến các hoàn cảnh của hôn nhân giữa một người Công Giáo và một người Tin Lành và một số người thuộc nhánh khác (hôn nhân hỗn tạp), và giữa một người Công Giáo và một người thuộc tôn giáo khác (khác tôn giáo). Nói đến các gia đình với các thành viên có khuynh hướng đồng tính, tông huấn tái khẳng định sự cần thiết phải tôn trọng họ và tránh khỏi bất kì một sự kì thị thiếu công bằng nào và mọi hình thức gây hấn hoặc bạo lực. Sau cùng, phần chua chát mang tính mục vụ của chương, “Khi sự chết làm cho chúng ta cảm thấy bị dính bén”, là về chủ đề về sự mất mát của những người thân yêu và của người goá bụa.

Chương 7: “Hướng đến việc giáo dục tốt hơn cho con cái” (259 – 290)

Chương 7 được dành cho việc giáo dục con cái: việc giáo dục đạo đức, việc học tính kỷ luật vốn có thể bao gồm cả hình phạt, chủ nghĩa hiện thực kiên nhẫn, giáo dục giới tính, thông truyền đức tin và, tổng quát hơn, đời sống gia đình như một môi trường giáo dục. Sự khôn ngoan thực tế trình bày trong mỗi đoạn là đáng chú ý, trên hết là sự chú ý dành cho những bước nhỏ, tiệm tiến này “vốn có thể được hiểu, chấp nhận và trân trọng” (AL 271).

Có một đoạn thú vị đặc biệt và mang tính nền tảng sư phạm mà trong đó Đức Giáo HoàngPhanxicô nói rõ ràng rằng “tuy nhiên, sự ám ảnh không phải là giáo dục. Chúng ta không thể kiểm soát mọi hoàn cảnh mà một đứa trẻ có thể trải qua…Nếu các bậc cha mẹ bị ám ảnh với việc luôn biết con mình đang ở đâu và kiểm soát hết mọi hoạt động của chúng, thì họ  sẽ chỉ tìm cách thống trị không gian. Nhưng đây không phải là một cách giáo dục, củng hố và chuẩn bị cho con cái họ đối diện với các thử thách. Điều quan trọng hơn là khả năng giúp chúng cách đầy yêu thương lớn lên trong sự tự do, trưởng thành, hoàn toàn kỷ luật và sự chủ động thực sự” (AL 260).

Phần đáng chú ý về giáo dục tính dục là có chủ đề rất ấn tượng: “Nói Có với giáo dục giới tính”. Có một sự cần thiết, và chúng ta phải hỏi “liệu các tổ chức giáo dục của chúng ta có mang lấy thách đố này hay không…trong một thời đại khi mà tình dục có xu hướng bị thách đố hoá và khánh kiệt”. Nền giáo dục có ý nghĩa cần phải được thực thi “bên trong một khuôn khổ rộng hơn về một nền giáo dục dành cho tình yêu, cho việc trao ban chính bản thân cho nhau” (AL 280). Văn kiện cảnh báo rằng lối diễn tả “tình dục an toàn” truyền tải “một thái độ tiêu cực hướng đến tính chung cuộc mang tính sinh sản tự nhiên của tình dục, như thể là một đứa trẻ cuối cùng là một kẻ thù cần phải chống lại. Lối tư duy này cổ võ chủ nghĩa tự yêu mình và sự gây hấn trong vị thế chấp nhận” (AL 283).

Chương 8: “Hướng dẫn, biện phân và hoà nhập với sự yếu đuối” (291-312)

Chương 8 là một lời mời gọi đến với lòng thương xót và sự biện phân mục vụ trong các hoàn cảnh không hoàn toàn phù hợp với điều mà Thiên Chúa đưa ra. Đức Giáo Hoàng sử dụng ba động từ rất quan trọng: hướng dẫn, biện phân và hoà nhập, vốn là nền tảng trong việc nói đến các hoàn cảnh mỏng manh, phức tạp hay bất thường. Chương này có các phần về sự cần thiết đối với tính tiệm tiến trong việc chăm sóc mục vụ; tầm quan trọng của sự biện phân; các qui chuẩn và các hoàn cảnh giảm nhẹ trong sự biện phân mục vụ; và cuối cùng điều Đức Giáo Hoàng gọi là “luận lý của lòng thương xót mục vụ”. Chương tám rất nhạy cảm. Trong khi đọc chương này thì người đọc phải nhớ rằng “nhiệm vụ của Giáo Hội thường giống như nhiệm vụ của một bệnh viện công” (AL 291). Ở đây, Đức Thánh Cha bám vào các phát hiện của các Thượng Hội Đồng về các vấn đề gây tranh cãi. Ngài tái khẳng định điều mà hôn nhân Kitô Giáo là và thêm rằng “một số hình thức hiệp nhất hoàn toàn trái ngược với lý tưởng này, trong khi các hình thức khác thì nhận biết lý tưởng này ít nhất là một nửa và theo cách giống nhau”. Do đó, Giáo Hội “không coi thường những yếu tố mà trong các hoàn cảnh này vốn chưa hoặc không còn phù hợp với giáo huấn của Giáo Hội về hôn nhân” (AL 292).

Cho đến khi sự biện phân khi nói đến các hoàn cảnh “bất thường” được kết nối, Đức Giáo Hoàng nói: “Có một sự cần thiết ‘để tránh những phán xét vốn không suy xét đến tính phức tạp của nhiều hoàn cảnh khác nhau’ và ‘biết chú ý, bằng sự cần thiết, đến cách mà người ta kinh qua sự đau khổ vì hoàn cảnh của họ’” (AL 296). Và Ngài tiếp tục: “Đó là một vấn đề về việc đến với mọi người, việc cần giúp đỡ mỗi người tìm ra cách thế phù hợp đối với việc dự phần vào đời sống cộng đồng giáo hội, và do đó kinh nghiệm được việc được chạm đến bởi một lòng thương xót ‘không do công đức, vô điều kiện, và nhưng không” (AL 297). Và hơn nữa: “Người đã ly hôn vốn đã đi vào trong một sự hiệp thông mới, chẳng hạn, có thể tìm thấy chính mình trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, vốn không bị đóng khung hay phù hợp với việc phân loại quá sơ cứng không chừa chỗ cho một sự biện phân mục vụ và cá nhân” (AL 298).

Theo dòng này, thu thập các quan sát từ nhiều Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, Đức Giáo Hoàngnói rằng “người đã chịu phép rửa đã ly dị hoặc đã tái hôn dân sự cần được tháp nhập cách đầy đủ vào trong các cộng đoàn Kitô Giáo theo nhiều cách khác nhau có thể, trong khi tránh bất cứ một cớ gây vấp ngã nào”. “Sự dự phần của họ có thể được diễn tả trong nhiều phục vụ hội thánh khác nhau… Những người như thế cần phải cảm thấy không phải là các thành viên bị vạ tuyệt thông của Giáo Hội, nhưng là các thành viên sống động, có thể sống và lớn lên trong Giáo Hội…Sự tháp nhập này cũng cần thiện trong sự chăm sóc và nuôi dưỡng Kitô Giáo các con cái của họ” (AL 299).

Trong một mạch bao quát hơn, Đức Giáo Hoàng đưa ra một lời cực kỳ quan trọng để hiểu được sự định hướng và ý nghĩa của Tông Huấn: “Nếu chúng ta suy xét đến sự đa dạng bao la của các hoàn cảnh cụ thể,…thì thật có thể hiểu được là kể cả Thượng Hội Đồng cũng như Tông Huấn này không được mong đợi để mang lại một loạt các luật lệ chung mới, mang tính giáo luật về bản chất và áp dụng cho hết mọi trường hợp. Điều cần thiết đơn giản chi là một sự khích lệ đổi mới để đưa ra một sự biện phân cho những trường hợp cụ thể, một trường hợp nhận biết rằng, bởi vì ‘mức độ trách nhiệm không phải như nhau trong tất cả mọi trường hợp” (AL 300). Đức Giáo Hoàng triển khai sâu những cần thiết và những đặc trưng của cuộc hành trình đồng hành và biện phân cần thiết cho một cuộc đối thoại sâu sắc giữa người tín hữu và các mục tử của họ.

Vì mục đích này mà Đức Thánh Cha gợi nhắc lại suy tư của Giáo Hội về “những tình tiết và hoàn cảnh giảm bớt” khi nói đến thuộc tính của trách nhiệm và tính đang tin cậy đối với các hành động; và dựa vào Thánh Tôma Aquinô, Ngài tập trung vào mối quan hệ giữa luật lệ và sự biện phân bằng việc nói rằng: “Đúng thật là các luật lệ tổng quát đặt ra một điều tốt vốn không bao giờ có thể bị xem thường hay phớt lờ, nhưng trong việc hình thành chúng thì chúng không thể mang lại một cách tuyệt đối cho tất cả mọi hoàn cảnh cụ thể. Đồng thời, cần phải nói rằng, rõ ràng vì lý do đó, điều vốn là một phần của một sự biện phân cụ thể trong những hoàn cảnh cụ thể không thể được nâng lên đến mức độ của một lề luật” (AL 304).

Phần cuối cùng của chương nói đến “Luận lý của lòng thương xót mục vụ”. Để tránh những hiểu lầm, Đức Giáo Hoàng mạnh mẽ nhắc lại: “Để thể hiện sự hiểu biết trong khi đối diện với các hoàn cảnh ngoại thường không bao giờ hàm chứa một ánh sáng lu mờ của một lý tưởng tròn đầy hơn, hay đưa ra ít hơn điều mà Chúa Giêsu mang lại cho con người. Ngày nay, quan trọng hơn cả việc chăm sóc mục vụ cho những thất bại là những nỗ lực mục vụ để củng cố hôn nhân và do đó ngăn chặn được sự đổ vỡ của hôn nhân” (AL 307).

Cảm nhận chung về chương này và tinh thần mà Đức Giáo Hoàng Phanxicô muốn đưa ra cho công việc mục vụ của Giáo Hội được tóm gọn rất tốt trong những lời kết: “Tôi khích lệ người tín hữu đang ở trong những hoàn cảnh phức tạp hãy chia sẻ cách tự tin với các mục tử của họ hoặc người giáo dân khá mà cuộc sống của họ là đang dấn thân cho Thiên Chúa. Họ có lẽ thường không hay gặp ở ở nơi họ một sự xác định về những ý tưởng hay mong muốn của riêng họ, nhưng họ sẽ nhận được một ánh sáng giúp họ hiểu hơn hoàn cảnh của mình và khám phá ra con đường cho sự phát triển cá nhân. Tôi cũng khích lệ các vị mục tử trong Giáo Hội hãy lắng nghe những người này bằng tất cả sự nhạy bén và an bình, bằng lòng muốn chân thành để hiểu tình thế của họ và quan điểm của họ, để giúp họ sống tốt hơn cuộc sống và nhận ra được vị trí đúng đắn của họ trong Giáo Hội” (AL 312).

Về “luận lý của lòng thương xót mục vụ”, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh: “Đôi khi chúng ta thấy thật khó để tạo ra một chỗ cho tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa trong hoạt động mục vụ của chúng ta. Chúng ta đặt ra quá nhiều điều kiện về lòng thương xót mà chúng ta làm trống rỗng lòng thương xót ấy về ý nghĩa cụ thể và tầm quan trọng thực sự của nó. Đây là cách tồi tệ nhất của việc tưới gội Tin Mừng” (AL 311).

Chương 9: “Linh đạo của hôn nhân và gia đình” (313 – 325)

Chương 9 được dành cho linh đạo về hôn nhân và gia đình, vốn “được hình thành bởi hàng ngàn cử chỉ nhỏ bé nhưng thực” (AL 315). Đức Giáo Hoàng nói cách rõ ràng rằng “những người có những động lực thiêng liêng sâu sắc sẽ không cảm thấy rằng gia đình tách ra khỏi sự phát triển của họ trong đời sống của Thần Khí, nhưng hơn thế lại thấy đó như một con đường mà Thiên Chúa sử dụng để dẫn dắt họ đến các chiều cao của sự hiệp nhất nhiệm mầu” (AL 316). Mọi thứ, “những giây phút vui vầy, thư giãn, tiệc tùng, ngay cả tình dục có thểđược inh nghiệm như là một sự chia sẻ trong đời sống tròn đầy của sự phục sinh” (A 317). Rồi Ngài nói về việc cầu nguyện dưới ánh sáng Phục Sinh, của nền linh đạo của một tình yêuđặc biệt và nhưng không trong sự thử thách và lòng khao khát để già nua cùngn hau, suy tư về lòng trung thành của Thiên Chúa (x. AL 319). Và sau cùng nền linh đạo của sự chăm sóc, ủi an, và khích lệ: Đức Giáo Hoàng dạy rằng “tất cả đời sống gia đình là một ‘sự chăn dắt’ trong lòng thương xót. Mỗi người chúng ta, bằng tình yêu và sự chăm sóc, để lại một dấu vết trên đời sống của người khác” (AL 322). Đó là một “kinh nghiệm thiêng liêng sâu sắc để chiêm ngắm những người thân yêu của chúng ta bằng đôi mắt của Thiên Chúa và thấy ĐứcKitô nơi họ” (AL 323).

Trong đoạn cuối Đức Giáo Hoàng khẳng định: “Không một gia đình nào rơi từ trên trời xuống được hình thành cách hoàn hảo cả; các gia đình cần liên lỉ lớn lên và trưởng thành trong khả năng yêu thương…Tất cả chúng ta đều được mời gọi để nỗ lực tiến đến một điều gì đó cao cả hơn chính bản thân chúng ta và gia đình chúng ta, và mọi gia đình phải cảm thấy động lực liên lỉ này. Chúng ta hãy thực hiện cuộc hành trình này như một gia đình, chúng ta hãy bước đi cùng nhau. (…) Chớ gì chúng ta không bao giờ nản lòng vì những giới hạn của chúng ta, hoặc dừng lại việc tìm kiếm một sự tròn đầy của tình yêu và sự hiệp thông mà Thiên Chúađang đặt ra trước mắt chúng ta” (AL 325).

Tông Huấn kết thúc bằng một Lời Cầu Nguyện lên Thánh Gia Thất.

Khi đã có thể hiểu được từ một sự tóm lược nhanh về nội dung của nó, Tông Huấn Amoris Laetitia tìm kiếm cách mạnh mẽ để khẳng định không phải là “gia đình lý tưởng” mà là thực tại rất phong phú và phức tạp của đời sống gia đình. Các trang của tông huấn mang lại một cái nhìn mở, tích cực sâu sắc, vốn được nuôi dưỡng không phải bởi những sự trừu tượng hay những phóng chiếu lý tưởng, mà là bằng sự chú tâm mục vụ đến thực tại. Văn kiện là một việc đọc gần gũi của đời sống gia đình, với những hiểu biết thiêng liêng và sự khôn ngoan thực tế rất hữu ích cho đôi bạn hoặc cho những người muốn xây dựng gia đình. Trên hết, tông huấn rõ ràng là một kết quả của sự chú ý đến điều mà người ta đã sống trong nhiều năm. Tông Huấn Amoris Laetitia: Về Tình Yêu trong Gia Đình thực ra nói về ngôn ngữ của kinh nghiệm và hy vọng.

Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ Vatican Radio)

(Nguồn: http://www.simonhoadalat.com)

 

About The Author

Number of Entries : 526

© TRANG THÔNG TIN CHÍNH THỨC CỦA ĐẠI CHỦNG VIỆN VINH THANH

Scroll to top