You Are Here: Home » THƯ VIỆN » Tu Luật của Thánh Biển Đức

Tu Luật của Thánh Biển Đức

                                    TU LUẬT THÁNH BIỂN ĐỨC

Ngày 1 tháng 1

 1 Con ơi, lắng nghe lời thầy dạy, ghé tai lòng con mà thuận tình đón nhận lời cha hiền khuyên nhủ và thực hiện cho bằng được, 2 để nhờ gắng công vâng phục, con trở về với Ðấng con đã xa lìa vì ươn lười bất tuân. 3 Vậy giờ đây Cha nói con nghe, dù con là ai, mà đã đoạn tuyệt với ý riêng, mang lấy khí giới mạnh mẽ oai hùng của đức vâng phục, để chiến đâu cho Chúa Kitô, Vua chân thật.

4 Trước tiên, khi con khởi công làm việc lành nào, con hãy tha thiết cầu nguyện, xin Ngài giúp con thành tựu, 5 hầu Ðấng đã đoái nhận chúng ta vào số con cải, sẽ không bao giờ phải buồn phiền vì những hành vi bất chính của chúng ta. 6 Bởi thế, trong mọi lúc chúng ta phải dùng các ơn lành Chúa ban mà vâng phục Ngài, để một ngày kia Ngài không như người cha nổi giận truất quyền thừa tự của con cải, 7 hay như ông chủ đáng sợ nổi lôi đình vì những hành vi bất chính của chúng ta, rồi đẩy chúng ta như đầy tớ xấu xa vào chốn cực hình muốn kiếp, vì đã không muốn theo Ngài vào chốn vinh quang.

1.Cứ ngày đầu tiên mỗi năm thánh Biển Đức lại mời gọi chúng ta bước vào năm mới bằng một lời thật giản dị: “Hãy lắng nghe”. Trong tiếng la tinh “obscultare” (theo ngôn ngữ bình dân) hay “auscultare” có nghĩa là lắng nghe với hàm ý đem ra thực hành điều đã nghe.

Như vậy, đối với thánh Biển Đức lắng nghe có tương quan  rất mật thiết với vâng phục (obscultareoboedientia có cùng một nguồn gốc). Ở c.2, vâng phục được định nghĩa như một việc phải làm để trở về với Thiên Chúa: “Nhờ gắng công vâng phục con trở về với Đấng con đã lìa bỏ vì ươn lười bất tuân”.

2. Nhưng vâng phục như thế nào? Phải chăng là vâng phục cách dường như máy móc theo kiểu nhà binh? Ở c.6 thánh Biển Đức xác định phải vâng phục như thế nào khi ngài nói: “Trong mọi lúc, chúng ta phải dùng những ơn lành Chúa ban mà vâng phục Ngài”.

3. Khi nói như thế, thánh Biển Đức mời gọi chúng ta vượt qua thái độ vụ luật, vì để vâng lời cách chủ động, chúng ta phải vận dụng mọi ơn lành Chúa đã ban. Nhưng chúng ta lại thường không biết tới những ơn lành ấy đã được dấu ẩn nơi chúng ta. Thực vậy, đó không phải là những đức tính nhân bản mà ta thường gọi là ơn lành. Tuy rằng những đức tính ấy rất hữu ích cho ta, nhưng thánh Biển Đức còn muốn đi xa hơn nữa, vì dầu sao chúng cũng rất hạn hẹp.

4. Vậy đâu là những ơn lành Chúa đã ban cho ta? Làm sao nhận biết được? Thánh Biển Đức đề nghị một cách khai thác những ơn lành ấy khi cảnh báo ta về điều cản trở ta nhận ra chúng, đó là ý riêng (c.3). Vì, nói cho cùng, kẻ thù lớn nhất của ta chính là bản thân ta, với một hình ảnh sai lạc chúng ta tự tạo ra về mình.

5. Đối với thánh Biển Đức, vâng phục là con đường trở về với Thiên Chúa. Vì trước hết đó là con đường dẫn tới tự do nội tâm đích thực, bắt đầu bằng việc giải thoát ta khỏi chính mình, khỏi những sợ hãi, những hoài nghi, và cả những ảo tưởng cũng như sự phóng đại quá đáng về mình.

6. Đó là con đường ta phải đi vào theo chân Chúa Kitô, và chỉ bằng đức tin mà thôi. Phải tin để thấy, chứ không thấy để rồi mới tin. Vì trong khi cậy trông luôn luôn dựa vào kinh nghiệm, thì như thánh Phaolô nói, đức tin hy vọng điều chưa bao giờ thấy. Và chính đức tin mới cứu được chúng ta.


Ngày 2 tháng 1

 8 Vậy chúng ta hãy chỗi dậy theo lời Thánh Kinh giục bảo: “Đã đến giờ chúng ta phải tỉnh giấc”. 9 Và một khi đã mở mắt nhìn ánh quang thần hoá, chúng ta hãy lắng nghe tiếng Chúa ngày ngày văng vẳng bên tai: 10Hôm nay nếu  các con nghe tiếng Người, các con đừng cứng lòng nữa” 11 Lại rằng: “Ai có tai, hãy lắng nghe lời Thánh Linh phán dạy các giáo đoàn”. 12 Và Ngài phán gì? “Hỡi các con hãy đến nghe Ta, Ta dạy các con biết kinh sợ Chúa”. 13 “Hãy chạy khi còn ánh sáng sự sống, kẻo bóng tối sự chết chộp lấy các con”.

                

1. Hãy lắng nghe! Trong đoạn rất ngắn này của Lời mở đầu Tu luật, từ latinh “audire” (lắng nghe) được lặp đi lặp lại năm lần. Thánh Biển Đức mô tả nơi đây cả một khoa sư phạm về việc lắng nghe. Tìm hiểu qua từng câu một hẳn cũng là điều hữu ích.

2. Ở c.9: “Chúng ta hãy lắng nghe tiếng Chúa ngày ngày văng vẳng bên tai”. Lắng nghe đòi phải chăm chú, không phải chỉ chăm chú tùy lúc hay trong trường hợp đặc biệt, nhưng mọi giây mọi phút. Vì Chúa nói mỗi ngày, chỉ có ta mới không còn biết nghe nữa thôi.

3. Thánh Biển Đức nói ở c.10: “Hôm nay, nếu anh em nghe tiếng Chúa, anh em đừng cứng lòng”. Trở ngại lớn cho việc lắng nghe là sự cứng lòng. Thiên Chúa nói, nhưng chỉ con tim tan vỡ, con tim bị nghiền nát, khiêm tốn mà theo Thánh Kinh là con tim ngược với con tim chai cứng, kiêu căng, ngang bướng, cứng đầu cứng cổ, chỉ con tim ấy mới có thể nghe được. Thói quen phạm tội sẽ làm suy yếu khả năng yêu mến nơi ta.

 4. Ở c.11: “Ai có tai để nghe, hãy lắng nghe điều Thần Khí nói với các Giáo hội”. Đó là lắng nghe tiếng thì thầm của Thần Khí, tiếng gió nhẹ thổi tới nơi chẳng có ai nghe. Nhưng trong Giáo hội ta có thể nghe thấy được. Khi nhắc lại đoạn sách Khải huyền, thánh Biển Đức nhấn mạnh rằng ta lắng nghe trong cộng đoàn hiệp thông huynh đệ, nơi có hai hay ba người họp nhau nhân Danh Chúa.

5. Sau cùng c.12: “Hỡi các con, hãy đến mà nghe, Ta sẽ dậy cho biết kính sợ Chúa”. Như vậy lắng nghe sinh ra sự kính sợ, một diễn ngữ của Cựu ước nói lên sự kính trọng, tình yêu con thảo. Kính sợ khác hẳn sợ hãi. Kính sợ là ý thức mình ở trước một Đấng cao cả hơn mình.

Như vậy, trong bốn câu, thánh Biển Đức cho ta những qui luật căn bản của việc lắng nghe đích thực: chăm chú, khiêm nhường, hiệp thông và ý thức về đấng khác.


Ngày 3 tháng 1

 14 Đang khi tìm giữa đãm đông người thợ mà Người muốn gọi, Chúa tiếp: 15 Ai muốn sống đời đời và mong thấy ngày hồng phúc”. 16 Khi nghe lời ấy, nếu con thưa : “Dạ, con đây”;  Chúa sẽ phán: 17 “Nếu con muốn hưởng sự sống đích thực và vĩnh cứu, thì lưỡi con chở nói điều xằng bậy và môi con chớ thốt lời gian dối; con hãy làm lành lánh dữ, hãy tìm kiếm và theo đuổi sự bình an”. 18 Khi các con đã thực thi những điều ấy, thì mắt Ta hằng theo dõi các con, tai Ta hằng lắng nghe các con khấn nguyện, và ngay khi các con chưa kịp kêu cầu thì Ta đã bảo: “Có Cha đây”. 19 Anh em rất thân mến, còn gì ngọt ngào hơn lời Chúa mời gọi chúng ta như thế? 20 Này đây với tất cả lòng ưu ái, Chúa đã chỉ cho chúng ta con đường dẫn tới sự sống.

1. Nếu chúng ta lắng nghe, như lời đầu tiên của Tu Luật mời gọi, một ngày nào đó chúng ta sẽ nghe Chúa nói với ta qua Thánh Kinh. Đối với thánh Biển Đức, đó là cốt lõi của ơn gọi đan tu đích thực: cảm nghiệm được rằng Lời Chúa là lời dành cho tôi.

2. Lời mà Thiên Chúa nói với ai đến xin vào đan viện mang hai sắc thái khác nhau. Ở c.15, lời ấy là tiếng mời gọi đến hạnh phúc: “Ai là người muốn sống và ước ao thấy những ngày hạnh phúc?” Ở c.17, lời ấy trở thành lời mời gọi hoán cải: “Lưỡi con chớ nói điều xấu xa và môi con chớ thốt lời gian dối: con hãy làm lành lánh dữ, hãy tìm kiếm và theo đuổi sự bình an”.

3. Trước hết đó là lời mời gọi đến hạnh phúc. Để trở thành đan sĩ, cần phải yêu thích sự sống. Nếu chúng ta từ bỏ bao nhiêu chuyện thì không phải vì chúng ta không thích sống. Trái lại là khác. Chính lòng yêu thích sự sống thúc đẩy chúng ta ước ao điều gì còn quí hơn, đẹp hơn, thật hơn, tốt hơn. Đó là chính Thiên Chúa.

4. Nhưng đúng vậy, muốn tìm ra con đường dẫn tới Thiên Chúa, cần phải dứt bỏ nhiều chuyện: sự dữ, dối trá, tất cả những gì chỉ làm ta hài lòng trong chốc lát. Đối với thánh Biển Đức, từ bỏ chỉ là hiệu quả của lòng yêu thích sự sống và là một điều kiện để có thể đạt tới sự sống được. Có những con đường xem ra hấp dẫn hơn, dễ dàng hơn, rộng rãi hơn. Chúng ta có thể nghĩ như thế khi nhìn vào cuộc sống của người khác. Nhưng các anh em có nhiệm vụ tiếp đón khách đều biết rằng đó chỉ là ảo tưởng. Chẳng có con đường nào là dễ dãi cho người đi tìm hạnh phúc đích thực.


Ngày 4 tháng 1

 2l Vậy chúng ta hãy lấy đức tin và sự thực tài các việc lành như đai nịt lưng, rồi dưới sự hưởng dẫn của Tin Mừng, chúng ta tiến bước theo đường của Chúa, để đáng được xem thấy Ðấng đã gọi chúng ta vào Vương quốc của Ngài. 22 Nếu chúng ta muốn cư ngụ trong Vương quốc của Ngài mà không chạy mau trên đường hành thiện, thì không tài nào tới được. 23 Cùng với vị ngôn sứ chúng ta hãy thưa với Chúa: “Lạy Chúa, ai sẽ được ở trong cung điện Chúa và ai sẽ được nghỉ ngơi trên Núi Thánh Ngài?”

 24 Thưa anh em, thỉnh vấn xong, chúng ta hãy lắng nghe Chúa trả lời và bày tỏ cho chúng ta con đường dẫn tới cung điện: 25 “Đó kẻ bước vào mà lòng trong sạch và biết thực thi sự công chính, 26 đó là kẻ nói sự thật phát xuất tự lòng mình và không ăn gian nói dối, 27 không làm hại và cũng không nhục mạ người thân cận”. 28 Đó là kẻ biết đấy lui tà thần cùng mọi âm mưu quyến rũ của nó ra khỏi lòng mình mà tiêu dĩệt đi, và chộp ngay các tà ý vừa nảy sinh mà đập tan vào Chúa Kitô. 29 Đó là kẻ kinh sợ Thiên Chúa, không kiêu căng vì đã giữ luật cách trọn hảo, trái lại chân nhận rằng những gì tốt lành nơi mình không do tự sức mình nhưng do ơn Chúa. 30 Họ chúc tụng Chúa, Ðấng hoạt động nơi mình, và cùng tuyên xưng với vị ngôn sứ: “Không phải cho chúng con, lạy Chúa, không phải cho chúng con, nhưng cho danh Chúa được vinh hiển”.


1. Một trong những khó khăn thường gặp nơi cuộc sống, một trong những vỡ mộng lớn đó là khoảng cách chúng ta nhận thấy giữa điều mình nói và việc mình làm, giữa những lời hay ý đẹp và cách thức chúng ta ăn ở. Làm như thể chỉ cần nói những điều hay ho, có những ý tưởng đẹp đẽ hoặc những lý thuyết lớn lao là đủ để chuyển hướng được mọi sự, thay đổi được ý nghĩa cuộc đời.

2. Vì thế, ở đầu đoạn văn này, trong câu 21, thánh Biển Đức đề nghị ba điều thiết yếu cho cả đời chúng ta và giúp ta nhận biết thực trạng của mình: “Vậy, thắt đai lưng bằng đức tin và sự thực thi các việc lành, rồi nhờ Phúc âm hướng dẫn, chúng ta hãy đi theo đường Ngài vạch cho”. Ta phân biệt ba yếu tố: đức tin, sự thực thi, Phúc âm.

3. Điều thú vị là thánh Biển Đức không lấy lại hình ảnh người lính trong thư Ephêsô (6,14-17) được trang bị để ra chiến trường, nhưng lại ưa chuộng hình ảnh người tôi tớ trong Phúc âm chuẩn bị lên đường. Để tiến lên đường Chúa vạch cho, chúng ta cần có đức tin, hành động và có Phúc âm như người hướng dẫn.

4. Đó chính xác là ba cột trụ của đời sống đan tu: -Đức tin, đưa chúng ta vào dòng dõi tổ phụ Abraham, Isaac và Giacob, vào dòng dõi những người đã tin mặc dầu không còn chút hy vọng nào. -Hành động, đặt chúng ta trong hàng ngũ các tiên tri, những vị không ngừng nhắc nhở dân phải sống bằng đức tin. -Phúc âm, dẫn chúng ta theo chân Chúa Kitô, trên những nẻo đường chưa khi nào biết tới và đầy bất ngờ, chẳng hề giống với những nẻo đường chúng ta vẫn quen đi.

Ngày 5 tháng 1

 3l Hay như thánh Phaolô Tông đồ đã không coi thành quả việc loan giảng là do sức mình, khi Ngài nói: “Tôi được thế nào là nhờ  ơn Chúa”. 32 Ngài còn thêm: “Ai tự hào hãy tự hào trong Chúa”. 33 Bởi đó Chúa đã phán trong Tin Mừng: “Ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá; 34 dù mưa xa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đã”.

35 Nói thế rồi, hằng ngày Chúa chờ chúng ta lấy việc làm đáp lại giáo huấn thánh thiện của Người. 36 Vì thế nếu Chúa còn gia hạn cho chúng ta sống thêm ngày nào, là để chúng ta sửa chữa lỗi lầm, 37 như lời thánh Tông đồ: “Bạn không biết rằng lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa thúc giục bạn hối cải đó sao?”. 38 Vì Chúa nhân từ phán : “Ta không muốn tội  nhân phải chết, nhưng muốn nó hoán cải và được sống”.

1.Thiên Chúa không chờ đợi nơi chúng ta những lời hứa suông, những mỹ từ, nhưng ngài mong chúng ta hành động. Thánh Biển Đức nhấn mạnh điều đó và còn coi hành động như tiêu chuẩn của một cuộc hoán cải chân chính, nghĩa là cuộc hoán cải đưa tới sự sống. Như vậy, chọn sự sống tức là chọn thực hiện điều được yêu cầu, bằng cách làm như người khôn trong Phúc âm xây nhà trên tảng đá.

2. Với thánh Biển Đức, xây nhà trên đá tức là thực hành điều Phúc âm yêu cầu và được Tu luật áp dụng vào từng trường hợp cụ thể. Đúng như lời Chúa Giêsu dậy: “Ai nghe những lời Ta vừa nói mà đem ra thực hành thì giống như người khôn xây nhà mình trên tảng đá” (Mt 7,24).

3. Đem ra thực hành là xây nhà trên tảng đá. Chỉ nghe suông hay chỉ ước muốn mơ hồ là xây trên cát. Linh đạo thánh Biển Đức là linh đạo thực hành, linh đạo của hành động. Có lẽ chúng ta hơi ngạc nhiên vì đã thường quen phân biệt lãnh vực thiêng liêng với những gì thuộc về hành động, về những việc cụ thể phải làm.

4. Với thánh Biển Đức, đan sĩ là con người hành động, và nhờ hành động mà được biến đổi. Chính khi làm điều thiện, đôi khi khó khăn vất vả, mà đan sĩ trở nên tốt hơn. Chính khi phục vụ anh em mình cách cụ thể, mà dần dần đan sĩ biết yêu thương họ. Chính khi hát thần tụng, mà đan sĩ trở thành con người đáng  khen. Xem ra khó chấp nhận cách nghĩ đề cao hành động như thế. Tuy nhiên, cách nghĩ đó lại rất hợp với tinh thần Phúc âm.


Ngày 6 tháng 1

 39 Thưa anh em, khi  hỏi Chúa về kẻ được ở trong cung điện Người, chúng ta đã nghe huấn lệnh Người đặt ra. Vậy chở gì chúng ta chu toàn bổn phận của kẻ ở trong nhà Chúa, chúng ta sẽ được thừa hưởng Nước Trời. 40 Thế nên chúng ta hãy chuẩn bị tâm hồn và thể xác để phấn đâu tuân giữ các giởi răn. 4l Còn điều gì tính tự nhiên lấy làm khó, chúng ta hãy cầu xin Chúa ban ơn giúp sức. 42 Nếu chúng ta muốn thoát khỏi hình khổ hoả ngục và đạt tới sự sống vĩnh cửu, 43 thì bao lâu còn thời gian sống trong thân xác và còn lợi dụng được ánh sáng đời này để chu toàn những điều vừa nghe, 44 chúng ta phải chạy mau và thi hành ngay những gì mưu ích đời đời cho chúng ta. 

1. “Chúng ta hãy chuẩn bị tâm hồn và thân xác để chiến đấu trong đức vâng phục thánh thiện”. Với thánh Biển Đức, đan sĩ thực hiện điều được yêu cầu vẫn chưa đủ, mà tâm hồn cũng phải thuận theo nữa. Và không đương nhiên có được như vậy. Quả thực, ta có thể cố gắng vượt qua cái mình không ưa không thích để thực hiện điều được yêu cầu, nhưng làm sao mà yêu thích cái mình không thể yêu thích.

2. Thánh Biển Đức đề nghị hai phương thế giúp cảm hóa tâm hồn: -Cầu nguyện, ở c.41: “Điều gì tính tự nhiên lấy làm khó, chúng ta hãy cầu xin Chúa ban ơn giúp sức”. -Sợ hãi, ở c.42: “Nếu chúng ta muốn tránh hình khổ hỏa ngục và đạt tới sự sống đời đời”.

4. Phương thế thứ nhất là chính đáng và hiển nhiên rồi, trái lại phương thế thứ hai khiến ta bị dội. Tuy nhiên, sợ hãi có giá trị giáo dục của nó. Phải chăng vì sợ bị cháy mà đứa trẻ không dám thò tay vào lửa, phải chăng vì sợ rớt mà người trèo núi phải cẩn thận để trèo lên tới đỉnh? Tất nhiên, như thánh Gioan nói, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi. Nhưng ai dám cho rằng mình đã yêu cách hoàn hảo?

5. Nếu có thứ sợ hãi làm ta bị tê liệt, thì cũng có thứ sợ hãi khiến ta lánh xa tội lỗi, vì ý thức sự yếu đuối và những giới hạn của mình. Quả thực, sợ hãi là một trong những hoa trái của lòng khiêm tốn, của người biết mình thiếu thốn mọi sự. Vâng phục vì sợ có thể là dấu chỉ cho thấy mức trưởng thành cao của người ý thức được những giới hạn, những yếu đuối của mình.


Ngày 7 tháng 1

 45 Chính vì mục đích ấy cha phải thiết lập trường học phụng sự Chúa, 46 trong đó cha hy vọng chẳng thiết định điều gì khắt khe, nặng nề. 47 Nhưng nếu theo lẽ phải mà quy định điều gì hơi nghiêm nhặt hầu giúp sửa chữa nết xấu và bảo toàn đức ái 48 thì con chớ vội hoảng sợ mà trốn xa con đường cứu độ vì vạn sự khởi đầu nan. 49 Nhưng một khi đã tiến bộ trong đời tu và đức tin, một khi lòng phấn khởi và nếm được sự ngọt ngào khôn tả của tình yêu, chúng ta sẽ chạy trên đường giới răn Chúa, 50 đến nỗi không bao giờ chúng ta lìa xa giáo huấn Người, trái lại chúng ta kiên trì trong giáo lý của Người nơi đan viện cho đến chết, kiên nhẫn chia sẻ các đau khổ của Đức Kitô để đáng được dự phần trong Nước Người. Amen.

1. Với thánh Biển Đức, trong đời sống đan tu nếu có điều gì trái tính tự nhiên, thì trước hết là để sửa nết xấu và sau đó giúp ta kiên trì trong tình yêu. Sửa nết xấu là đương nhiên rồi, nhưng làm sao những trái ý lại có thể bảo vệ đức ái, phục vụ tình yêu.

2. Quả thực, trong một cộng đoàn, đức ái là điều thật mong manh. Một cộng đoàn có thể đổ vỡ bất cứ lúc nào, vì thiếu quan tâm đến người khác, khi chúng ta quên mất rằng mình là thành phần của một thân thể. Nhưng người ta có thể ép ta yêu không? 

3. Người ta có thể ép ta yêu không? Người ta có thể học cho biết yêu không? Như thế thì tình yêu có còn là tình yêu không? Ta thắc mắc là do quan niệm của ta về tình yêu. Ta cho rằng tình yêu là một tình cảm trào ra từ thẳm cung tâm hồn và ta không thể kiểm soát được. Người ta sa vào tình yêu cũng như thể người ta ngã bệnh. Ta lại chẳng nói tới thứ bệnh yêu đương đó sao?

4. Trái lại, Phúc âm mời gọi chúng ta đi xa hơn tình cảm, vì tình cảm sẽ mau qua. Tình yêu cốt ở điều này là chính Người đã yêu thương chúng ta trước. Như vậy, khám phá ra tình yêu trong ngôi trường dậy yêu thương là cộng đoàn, chính là khám phá ra rằng tình yêu luôn luôn đi trước chúng ta, tình yêu có nguồn gốc ở bên ngoài chúng ta. Và phải lâu dài đào bới nơi mình, bên kia mọi tình cảm, để khám phá được nguồn mạch sâu xa của tình yêu. Hẳn phải là vì thế mà thánh Biển Đức thiết lập một ngôi trường, bởi lẽ chúng ta phải tái học hỏi dưới cái nhìn của Chúa tất cả mọi chiều kích nơi thiên chức làm người của chúng ta.


Ngày 8 tháng 1

 Đã rõ có bốn loại Đan sĩ. 2 Loại thứ nhất là các đan sĩ cộng tu, đó là những người sống trong đan viện, chiến đấu theo một tu luật và dưới quyền viện phụ.

3 Thứ đến là loại đan sĩ biệt tu hay ẩn tu. Họ không phải hạng người sống theo lòng sốt sắng ban đầu, nhưng đã được thử thách lâu dài trong đan viện. 4 Nhờ sự nâng đỡ của nhiều người, họ đã học biết cách chiến đâu với ma quỷ. 5 Họ đã được huấn luyện nghiêm túc trong hàng ngũ anh em, rồi mới xuất thân chiến đấu một mình trong sa mạc. Từ đây họ đã đủ mạnh, không cần đến người khác hỗ trợ nữa, nhờ ơn Chúa giúp, họ tự sức mình vững vâng chiến đâu tay đôi với tính mê xác thịt và tư tưởng xấu.

1. Có lẽ ta có khuynh hướng muốn đọc chương thứ nhất này cách chiếu lệ vậy thôi. Có thể với cảm tưởng là nó không còn liên can đến ta nữa. Vì chúng ta xác tín mình là đan sĩ cộng tu và chẳng liên hệ gì tới những loại đan sĩ khác: ẩn tu, tự tu hay du tu. Nhưng ta cũng có thể giải thích chương này theo một hướng khác khi tự hỏi liệu xét cho cùng thì cả bốn loại đan sĩ này lại không tồn tại trong cùng một đan viện sao. Và đi xa hơn nữa, liệu một lúc nào đó, ở mức độ riêng của mỗi người, chúng ta lại không sống theo một trong những cách sống đó sao.

2. Thực vậy, ta cũng có thể thấy trong bốn loại đan sĩ này những nét đặc biệt giúp nhận ra sự tiến bộ hay trái lại sự sa sút trong cuộc sống của mỗi người.

3. Theo cái nhìn của thánh Biển Đức, ta thử nêu lên nét đặc trưng của mỗi giai đoạn trên đường thiêng liêng: -Người cộng tu sống trong đan viện, dưới sự hướng dẫn của tu luật và viện phụ. Thánh Biển Đức cho rằng điểm đặc biệt của cách sống này là sự nâng đỡ của số đông (c.4), hàng ngũ anh em (c.5) sẽ hỗ trợ (c.5) ta trong cuộc chiến. -Còn các ẩn sĩ là những người không cần đến lòng nhiệt thành sốt sắng như tập sinh nữa, các ngài là những người thiện chiến, đã học biết chiến đấu với ma quỉ, nhờ ơn trợ lực của Chúa các ngài chiến đấu một mình mà không cần ai giúp nữa. Như vậy, hai mẫu đan sĩ này là những chiến binh, những người sống một mình hay sống thành nhóm, với ơn Chúa giúp họ là những tâm hồn hùng mạnh trên đường thiêng liêng. Điều đó phân biệt họ với hai loại đan sĩ khác mà ở đoạn sau ta sẽ nói tới.


Ngày 9 tháng 1

6 Loại thứ ba thật đáng ghét, đó là các đan sĩ tự tu. Họ không được một tu luật nào là bậc thầy kinh nghiệm tôi luyện như vàng được tinh luyện trong lò, nên tính nết vẫn còn ủy mị như chì; 7 qua cách sống, họ chứng tỏ còn mê theo thói đời. Hiển nhiên là họ lấy việc cắt tỏc đi tu mà dối Chúa. 8 Họ sống từng hai, từng ba, hoặc một mình, không có chủ chăn. Họ không thuộc đàn chiên Chúa, nhưng sống một đàn riêng. Lề luật của họ là thỏa mãn các dục vọng! 9 Hễ điều gì họ nghĩ hoặc ưa thích thì họ cho là thánh thiện. Còn điều gì không vừa ý, họ cho là không nên.

10 Còn loại thứ tư gọi là đan sĩ du tu, suốt đời họ lang thang từ miền này sang xứ nọ, trọ mỗi nhà ba bốn hôm, 11 nay đây mai đó, không khi nào chịu ở yên một chỗ. Họ quả là nô lệ ý riêng và ham mê ăn uống. Xét mọi mặt họ còn tệ hơn cả loại đan sĩ tự tu.

12 Về nếp sống khốn nạn của tất cả các loại đan sĩ này thà im đi còn hơn là nói đến. 13 Vậy bỏ qua các loại đó, nhờ ơn Chúa giúp chúng ta hãy bắt tay vào việc tổ chức đan sĩ cộng tu, là loại anh dũng nhất.

1. Đặc điểm của các đan sĩ tự tu là không có tu luật cũng không có viện phụ, hay đúng hơn tu luật là những ước muốn riêng của họ và viện phụ là chính bản thân họ. Xét cho cùng, đặc điểm của đan sĩ tự tu đó là chỉ sống theo ý muốn riêng, quan điểm riêng, cách nhìn riêng về thực tại.

2. Còn đặc điểm của các đan sĩ du tu là không thể ở yên một chỗ nào. Điều đó khiến họ liên tục đi lang thang khắp nơi vì cứ tưởng rằng nơi họ sắp đến sẽ khá hơn những nơi khác. Người du tu sẽ chẳng bao giờ mãn nguyện, họ cứ mê mải đi tìm bên ngoài thay vì đi sâu vào nội tâm.

3. Với thánh Biển Đức, hai loại đan sĩ này, hay đúng hơn hai loại đan sĩ thoái hóa này, mà nhiều ít chúng ta cũng thuộc về một trong hai, là hai thứ cạm bẫy có thể làm chúng ta vấp ngã vào một lúc nào đó.

4. Cái bẫy thứ  nhất là tưởng rằng mình biết những điều gì là tốt cho mình, còn hơn cả mọi người, nhất là hơn cả tu luật và các bề trên nữa. Và những điều đó thường mang dáng vẻ là những ước muốn thiêng liêng cao vời. Cái bẫy thứ hai là đi tìm một cộng đoàn hoàn hảo, một viện phụ hoàn hảo v.v. và quên rằng đời sống đan tu trước hết là một cuộc hoán cải bản thân. Cả hai lối ứng xử trên đây đều là cách từ chối nhìn thẳng vào thân phận cùng khốn của mình.



                      Chương 2

VIỆN PHỤ PHẢI THẾ NÀO

Ngày 10 tháng 1

 l Viện phụ, người được coi là xứng đáng lãnh đạo đan viện, phải luôn luôn nhớ đến danh hiệu bề trên của mình và hành động sao cho xứng với danh hiệu ấy. 2 Quả thực, người ta tin tưởng ngài thế vị Chúa Kitô trong đan viện, nên gọi ngài bằng chính danh xưng dành cho Chúa, 3 theo lời thánh Tông đồ : “Anh em đã nhận lấy Thần Khí nghĩa tử, nhờ  đó chúng ta kêu lên Abba, Cha ơi”. 4 Viện phụ không được dạy dỗ, thiết định hay truyền khiến điều gì ngoài huấn lệnh Chúa; 5 trái lại lệnh truyền và giáo lý của ngài phải như men công chính của Chúa gieo vào tâm trí môn đệ. 6 Viện phụ phải luôn luôn tâm niệm rằng giáo lý ngài dạy và sự vâng phục của môn đệ là hai điều ngài sẽ chịu tra vấn trong ngày công phán kinh khủng của Thiên Chúa. 7 Viện phụ phải ý thức rằng điều gì gia chủ thấy kém lợi nơi đoàn chiên thì sẽ quy trách cho chủ chăn. 8 Trái lại một khi chủ chăn đã tận lực săn sóc đoàn chiên ngỗ nghịch và cứng cổ hay đã dùng mọi phương dược cứu chữa bịnh tật chúng, 9 lúc đó chủ chăn mới hết trách nhiệm trước toà Chúa. Ngài có thể cùng ngôn sứ tuyên xưng : “Đức công chính của Chúa, con chẳng giấu nơi đáy lòng con, chân lý và ơn cứu hộ của Chúa con đã nói lên”. “Nhưng chúng cứ coi thường và khinh miệt con ”. 10 Kết cục, khi ấy án tử hình sẽ giáng xuống trên bầy chiên bất phục trước sự săn sóc của chủ chăn

1.Chương hai này không chỉ nói về viện phụ. Quả thực, nếu đọc kỹ chúng ta sẽ thấy ngay viện phụ được đặt trong một trương qua ba chiều: -Viện phụ mang danh hiệu bề trên và đại diện Chúa Kitô (c.1 và 2). -Viện phụ sẽ phải trả lẽ với một đấng khác, là Cha của gia đình (c.7). -Viện phụ phải dậy dỗ và điều khiển các môn đệ (c.6).

2. Như vậy, với thánh Biển Đức, viện phụ không phải là thứ nhất trong những người ngang hàng nhau. Điều ấy có thể gây khó chịu cho não trạng dân chủ của thời đại chúng ta, nhưng đúng là như vậy. Để nói về viện phụ, thánh Biển Đức dùng một so sánh ưu thế: lớn hơn. Viện phụ không phải là lớn nhất, ngài không thể tự coi mình như Thiên Chúa được, nhưng ngài cũng không phải là người thứ nhất trong những người bằng vai với nhau.

3. Điều đó dẫn tới hai hậu quả: Viện phụ phải giảng dậy và điều khiển, vì đó là nhiệm vụ của ngài, bằng lời nói và nhất là bằng việc làm. Ngài không được lẩn tránh và để mặc cho người khác lo giảng dậy và điều khiển. Vì nếu ngài không làm thì có những người khác sẽ đứng ra làm và khi đó cộng đoàn sẽ tan rã. Viện phụ phải dám đảm nhận và giữ vững vị trí của mình, bởi vì quyền bính là cần thiết cho việc phục vụ mà ngài phải thực thi dù không muốn.

4. Điều ấy cũng phát sinh một hậu quả từ phía cộng đoàn. Đó là mỗi đan sĩ phải đặt mình vào vị trí của người môn đệ. Nghĩa là chấp nhận rằng mình vẫn còn điều gì đó để học hỏi, rằng mình chưa biết hết mọi sự. Nhưng đan sĩ cũng tin rằng điều được ban truyền cho mình sẽ chỉ cho mình thấy con đường Thiên Chúa muốn dẫn mình đi. Và như chúng ta đều biết, tất cả là vấn đề đức tin. Chúng ta sống đời sống cộng đoàn như một trò chơi của quyền lực, của những sức mạnh đối nghịch nhau, hay chúng ta sống đời sống cộng đoàn như là nơi Thiên Chúa nói với chúng ta, với mỗi người chúng ta? Đó là câu hỏi thánh Biển Đức gửi đến chúng ta qua chương 2 này.


Ngày 11 tháng 1

 11 Thế nên, ai đã nhận danh hiệu viện phụ, phải biết hưởng dẫn môn đệ bằng hai hình thức giáo hoá: 12 nghĩa là lấy việc làm hơn là lời nói mà chỉ cho họ tất cả những gì lành thánh. Vậy với những môn đệ có khả năng nhận thức, ngài dùng lời nói mà giảng dạy lề luật Chúa; còn đối với những môn đệ cũng lòng hoặc chất phác, ngài hãy lấy việc làm mà bày tỏ huấn lệnh Chúa. 13 Tất cả những gì ngài dạy cho môn đệ biết là trái, ngài hãy lấy việc làm mà chỉ cho họ là không được làm, kẻo giảng cho người mà chính ngài lại bị luận phạt, 14 sợ rằng có ngày Thiên Chúa sẽ khiển trách ngài như một tội nhân : “Giới luật của Ta, sao ngươi hằng nhắc nhớ. Miệng  ngươi công bố lời giao ước của Ta mà chính ngươi lại chán ghét điều sửa dạy, lời Ta truyền đem vứt bỏ sau lưng”? 15 Lại rằng : “Sao anh thấy cải rác trong con mắt của người anh em, còn cải xà trong con mắt mình thì lại không để ý tới?

1. Với thánh Biển Đức, viện phụ không chỉ giảng dậy bằng lời nói, nhưng bằng cả lời nói lẫn việc làm. Thánh Biển Đức hy vọng rằng ai không chịu nghe lời sẽ được cảm hóa nhờ gương sáng. Nhưng phải làm sao đây khi một đan sĩ không muốn nghe cũng chẳng muốn nhìn? Vì trong một cộng đoàn lúc nào cũng có thể có những đan sĩ không chịu nghe cũng chẳng chịu nhìn. Họ cứ sống theo cách của họ, bất chấp cộng đoàn nơi họ đang ở.

2. Người ta có thể nhắc nhở, dù xem ra như quá khắt khe, vậy mà ngay sau đó họ vẫn cứ như thường. Trái lại, có những người khác do óc chống đối mà làm ngược lại điều được yêu cầu, giống như con trẻ mới lớn muốn chứng tỏ mình khi đập phá đồ đạc. Khi ấy viện phụ có thể trở nên cứng cỏi, như một thứ cảnh sát, hoặc ngược lại, chán nản, buông xuôi và bỏ mặc.

3. Thánh Biển Đức mở ra cho ta một nhãn giới khác qua trích dẫn Thánh Kinh ở c.15: đó là bản văn Mt 7,3 trong dụ ngôn cọng rơm và cái xà. Chúa Giêsu không nói: con không thể làm gì được cho người anh em vì con chưa hoàn hảo. Vì như thế sẽ mâu thuẫn với đoạn Phúc âm khác khi ngài bảo nhắc nhở người anh em có lỗi, trước hết riêng mình với họ rồi có thêm người làm chứng. Không, Chúa Giêsu không bảo cứ để mặc, nhưng ngài lưu ý tới thái độ tâm hồn của người có trách nhiệm nhắc nhở. Phải chăng họ sẽ làm như người pharisiêu muốn bắt kẻ khác giữ luật? Hay như người môn đệ Chúa muốn cho anh em mình thăng tiến, muốn cho cộng đoàn nên hoàn hảo hơn? Yêu thương vẫn khó hơn là áp dụng kỷ luật. Nhưng tình yêu cũng không kém đòi hỏi. Trái lại, như chúng ta biết, vấn đề thực sự là vấn đề con tim. Vì chỉ con tim mới có thể nói với con tim và đánh động được con tim người khác.


Ngày 12 tháng 1

 16 Trong đan viện, viện phụ đừng thiên vị ai. 17 Đừng thương người này hơn người nọ, trừ khi nhận thấy kẻ ấy trội hơn về các việc lành và sự vâng phục. 18 Không được ưu đãi người tự do hơn người xuất thân từ giai cấp nô lệ, trừ khi có lý do chính đáng. 19 Nhưng nếu vì lẽ công bằng mà viện phụ xét là cần phân biệt như thế thì ngài cứ việc làm, bất kể người được ưu đãi thuộc giai cấp nào; ngoài ra, ai nấy cứ giữ thứ vị của mình. 20 Vì dù nô lệ hay tự do, tất cả chúng ta là một trong Chúa Kitô, cùng chiến đấu để phụng sự một Chúa, vì Thiên Chúa không thiên vị ai. 21 Mà nếu nơi Chúa có sự phân bịệt nào, thì duy ở chỗ chúng ta hơn nhau về việc lành và lòng khiêm tốn. 22 Vì thế, viện phụ phải thương yêu mọi người như nhau, áp dụng một quy tắc chung cho mọi người, tùy theo công trạng của họ.

1. “Ngài hãy yêu thương mọi anh em và xử với mọi người như nhau”. Chỉ thị này ở c.22 xem ra khó mà dung hòa được với điều thánh Biển Đức nói ở c.32: “ngài sẽ thích ứng với mọi anh em tùy theo cá tính và tâm thức của mỗi người”. Làm sao xử với mọi người như nhau mà vẫn thích ứng được với từng người? Làm sao giữ được sự công bằng trong khi vẫn quan tâm tới sự khác biệt về tính khí? Viện phụ phải làm một điều không thể thực hiện được sao?

2. Khi Thánh Biển Đức bảo phải âu yếm với người này và dùng đòn vọt với người kia thì thoạt tiên có vẻ như ngài bỏ qua nguyên tắc về công bằng tuyệt đối. Nhưng có đúng vậy không? Khi tôi hoán cải trở về với đời sống đạo, để ôn lại đức tin, tôi đã dậy giáo lý trong vòng một năm cho bọn trẻ hay phá phách thuộc các thành phổ mỏ. Trong các học trò của tôi có một đứa rất ngỗ nghịch, nó không bao giờ học bài và phá tới độ thường bị phạt ngồi góc nhà hay ngoài cửa lớp. Thế mà vào ngày sau cùng khi tôi kết thúc khóa học thì em ấy là người duy nhất đã đến tặng quà cho tôi. 

3. Thực ra thánh Biển Đức có lý. Có những người cần xử mạnh tay, có những người lại phải êm ái nhẹ nhàng, nhưng luôn luôn vẫn chỉ bằng cùng một tình yêu thương. Sửa dậy, khiển trách, khích lệ, như thánh Phaolô nói, là dấu chỉ của tình thương, dấu chỉ cho thấy rằng mỗi người đều có giá trị của họ, rằng mọi người đều đáng giá như nhau. Cách làm có thể khác nhau, nhưng tình thương vẫn chỉ là một. Đôi khi, nhìn những cách xử sự khác nhau như thế người ta có thể hoài nghi. Nhưng có lẽ phải cần đến một trái tim con trẻ để nhận ra được tình thương đích thực.


Ngày 13 tháng 1

 23 Trong việc giáo huấn, viện phụ phải luôn luôn theo mẫu mực thánh Tông đồ đề ra : “Hãy bịện bác, ngăm đe, khuyên nhủ ”. 24 Nghĩa là phải tùy cơ ứng biến : dung hoà lời dịu dàng với giọng răn đe, khi tỏ vẻ như thầy nghiêm nghị, lúc lại  âu yếm như cha hiền. 25 Nghĩa là với những người vô kỷ luật và khuấy rồi, ngài phải nặng lời khiển trách; còn với những kẻ vâng phục, nhu mì, nhẫn nhục, ngài hãy khuyến khích họ tiến tới; còn những kẻ ươn lười ngạo mạn, cha khuyên ngài hãy quở phạt, sửa chữa.

26 Ngài chớ bao che tội lỗi của phạm nhân, nhưng vừa khi thấy chớm mọc, ngài phải hết sức tiêu diệt tận căn. Ngài hãy nhớ đến thảm họa cho tư tế Hêli tại Silô. 27 Với những ai tế nhị và thông minh, ngài chỉ cần nhắn nhủ một hai lần là đủ. 28 Nhưng với những kẻ xấu nết ngoan cố, kiêu căng bất phục, ngài hãy dùng roi vọt mà trừng trị, hoặc những hình phạt thể xác mà trấn át ngay lúc tật xấu vừa phát sinh, vì có lời chép : “Người ngu không thể lấy lời nói mà sửa dạy được”. 29 Lại rằng : “Hãy dùng roi mà sửa phạt con cái ngươi, để cứu linh hồn nó khỏi chết”.

1. “Con sẽ cứu linh hồn nó khỏi chết” (Cn 23,14). Khi trích dẫn lời sách Châm ngôn để kết thúc đoạn Tu luật chúng ta vừa đọc, thánh Biển Đức đưa ra định hướng cho hành động của viện phụ. Nếu viện phụ khiển trách, khích lệ, răn đe, tỏ ra vừa dịu dàng vừa nghiêm khắc, sửa phạt người chểnh mảng và quanh co, thì không phải vì sự ổn định của đan viện, cũng không vì muốn duy trì kỷ cương, nhưng để làm nảy sinh và tuôn trào sự sống đích thực.

2. Vì có một con đường dẫn tới cái chết, và một con đường dẫn tới hạnh phúc cũng như tới sự sống. Đó là hai con đường Thiên Chúa đã truyền cho Môsê loan báo cho dân: sự sống và hạnh phúc, sự chết và bất hạnh. Chỉ có một con đường dẫn tới sự sống, và theo cách của mình, thánh Biển Đức hiện thực hóa kinh nghiệm trải dài qua toàn bộ Thánh Kinh. Con đường ấy ta không dễ dàng nhận ra được, chính vì vậy mà phải khuyến khích, nhắc nhở, sửa dậy, bởi lẽ yêu thích sự sống không phải là điều đơn giản.

3. Những nẻo đường dẫn tới cái chết thì dễ đi và rộng rãi. Và đôi khi chúng ta bị lôi cuốn bởi một thứ bản năng muốn chết. Lời mắng nhiếc của bà vợ ông Gióp là một thí dụ: “Hãy nguyền rủa Thiên Chúa rồi chết đi!” Nhưng ông Gióp chọn sự sống, ông chọn đối diện với Thiên Chúa, ông muốn trở thành một người sống khi thân thưa với Thiên Chúa của những người sống, Thiên Chúa của các tổ phụ Abraham, Isaác, Giacóp. Vì Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống. Con đường dẫn tới sự sống đòi ta phải chịu nhiều đau khổ, nhưng Thiên Chúa lại chờ đợi ta trên con đường này để ta trở nên những kẻ sống.


Ngày 14 tháng 1

 30 Viện phụ hãy luôn nhớ mình là ai, mang danh hiệu gì. Ngài phải biết rằng kẻ được ủy thác nhiều sẽ bị đòi hỏi nhiều. 31 Ngài hãy nhận thức rằng ngài đã lãnh nhận một nhiệm vụ khó khăn và cam go biết bao, tức là việc hướng dẫn các linh hồn và phục vụ bá tính. Quả thế, phải dịu dàng với người này, khiển trách người nọ, thuyết phục người kia. 32 Ngài phải tùy theo tính tình và trình độ hiểu biết của họ mà thích ứng sao cho phù hợp với mọi người, để không những khỏi phải buồn vì đoàn chiên được ủy thác bị thiệt thòi, mà còn vui mừng vì đoàn chiên lành tăng số.[Download not found]

1. Thánh Biển Đức nhắc lại câu ngài đã nói ở đầu chương 2 này: “Viện phụ phải luôn luôn nhớ mình là ai”. Động từ “nhớ” sẽ còn trở lại một lần nữa ở cuối chương.

2. Ta có thể tự hỏi tại sao thánh Biển Đức lại nhấn mạnh nhiều như thế đến việc viện phụ phải nhớ đến danh hiệu của mình. Như chúng ta đã biết, danh hiệu ấy nói lên một ơn gọi mà thánh Biển Đức xác định bằng hai động từ trong bản văn tiếp theo: -viện phụ phải “quản trị” (bản latinh là “regere”, từ này có gốc là “rex” nghĩa là vua); -viện phụ phải “phục vụ” (bản latinh là “servire”, có gốc là “servus” nghĩa là nô lệ, tôi tớ).

3. Hai từ này, vua và tôi tớ, diễn dịch hoàn hảo ý tưởng được khi triển ở đầu chương: “Trong đan viện, người ta tin ngài đại diện Chúa Kitô, đấng mà ngài mang danh hiệu”. Danh hiệu này chính là “vua và tôi tớ”.

4. Ở đây ta thấy có sự mâu thuẫn giữa hai từ này. Ta dễ hình dung được thế nào là một ông vua và thế nào là một người tôi tớ. Nhưng một ông vua tôi tớ của mọi người? Sự mâu thuẫn này nhắc ta nhớ đến Chúa Kitô, chỉ duy mình ngài là Vua và Tôi Tớ đích thực.

5. Khi tỏ mình ra là tôi tớ hơn cả chính là lúc Chúa Kitô  mạc khải cho chúng ta vương quyền của ngài. Đó là nghịch lý lớn lao của Mạc khải: vinh quang và thập giá. Nơi nghịch lý này ta thấy được trọn vẹn quyền bính trong Giáo hội. Trái với quyền bính trong thế gian, được xây dựng trên sức mạnh, uy thế và giầu sang, quyền bính trong Giáo hội xây dựng trên việc từ bỏ chính mình. Thánh Phaolô diễn tả điều đó khi quả quyết: “Chính khi tôi yếu là lúc tôi mạnh”. Như vậy là “quản trị” và “phục vụ” đã trở nên đồng nghĩa với nhau.


Ngày 15 tháng 1

 33 Trước hết, ngài đừng sao lãng hoặc coi nhẹ phần rỗi các linh hồn Chúa ủy thác mà quá bận tâm đến của cải phù vân thế tục và chóng tàn. 34 Nhưng ngài phải xác tín ngài đã nhận việc hướng dẫn các linh hồn, thì tất nhiên phải trả lẽ về các linh hồn ấy. 35 Để khỏi phải vịn cớ tài chính eo hẹp, ngài hãy nhớ lời Thánh Kinh: “Trước hết, hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ khác, Người sẽ thêm cho”. 36 Và có lời: “Kẻ kính sợ Người chẳng thiếu thốn chi”.

37 Ngài nên biết rằng ai đã nhận hưởng dẫn các linh hồn, phải sẵn sàng trả lẽ. 38 Số anh em thuộc quyền ngài săn sóc, dù là bao nhiêu, ngài hãy nhận thức chắc chắn rằng đến ngày công phán ngài sẽ phải trả lẽ với Chúa về các linh hồn ấy và dĩ nhiên cả linh hồn mình nữa. 39 Vì trong khi ngài sợ Chúa sẽ tra vấn chủ chăn về các con chiên đã được ủy thác, trong khi lo trả lẽ về người khác thì ngài cũng biết lo cho chính mình. 40 Và trong khi khuyên người khác tu sửa, thì chính ngài cũng tự sửa mình.


1. Trong đoạn ngắn này bốn lần thánh Biển Đức nhắc nhở viện phụ trước hết phải quan tâm đến “phần rỗi các linh hồn” (c.33,34,37,38), kể cả linh hồn mình. Với thánh Biển Đức, trong cuộc sống thường nhật, phần rỗi các linh hồn phải được chăm lo hơn mọi thứ bận tâm khác.

2. Mối bận tâm đầu tiên liên quan tới “những sự mau qua, trần tục và tạm thời” (c.33). Thánh Biển Đức nhắc nhở rằng trong cuộc sống đan viện có một trật tự về các giá trị khác nhau. Và ngài bảo viện phụ phải cẩn thận kẻo lại đảo lộn trật tự đó mà thực tình chẳng hay biết. Có thể xẩy ra thảm trạng là trong đan viện người ta sao lãng điều cốt yếu: tìm Chúa, để bận tâm đến cái phụ thuộc: tìm của cải trần gian và những thực tại đời này. Như thế, trong những điều phải lựa chọn, thuộc lãnh vực cộng đoàn hay cá nhân, điều phải chọn trước hết là lợi ích các linh hồn.

3. Mối bận tâm thứ hai có thể gây tổn hại cho lợi ích các linh hồn không thuộc phạm vi vật chất nữa nhưng thuộc cách sống. Viện phụ không mong gì sửa dậy được người khác nếu ngài không tự sửa mình (c.39-40). Và đó là một điểm cốt yếu khác trong trách nhiệm của viện phụ: ngài không mong dẫn dắt anh em mình trên đường ngay nẻo chính được nếu ngài lại không đi vào đó.

4. Như vậy, trong việc hướng dẫn cộng đoàn, viện phụ phải làm hai điều. Trước hết là chú tâm tới trật tự các giá trị trong cuộc sống cụ thể hằng ngày của cộng đoàn, sau đó chính ngài phải đi vào con đường ngài muốn dẫn anh em đi. Nói về cầu nguyện, về việc đọc sách thiêng liêng, về khó nghèo, thinh lặng v.v mà chính mình lại không thực hiện thì đó là cái bẫy nguy hiểm nhất cho một cộng đoàn đan tu. Muốn nâng đỡ anh em thì trước hết phải coi xem mình có sống như mình nói không.


Chương 3

VIỆC HỘI Ý ANH EM

 

Ngày 16 tháng 1

 l Trong đan viện mỗi khi có việc quan trọng cần giải quyết, viện phụ sẽ triệu tập toàn thể cộng đoàn và tuyên bố lý do. 2 Sau khi lắng nghe ý kiến anh em, chính ngài sẽ tự cân nhắc, rồi thực hiện điều ngài xét là ích lợi hơn. 3 Sở dĩ cha truyền phải hội ý mọi người, vì Chúa thường tỏ cho kẻ ít tuổi những ý kiến hay hơn. 4 Anh em hãy góp ý với tất cả lòng khiêm tốn tùng phục, chứ đừng cố chấp bênh vực quan điểm của mình. 5 Việc quyết định thuộc quyền viện phụ. Điều ngài xét là hay hơn, thì mọi người phải vâng theo. 6 Nhưng nếu môn đệ có bổn phận vâng lời thì thầy có nghĩa vụ sắp đặt mọi việc cho sáng suốt và công bình.

                         

 1. Dưới cái nhìn của thánh Biển Đức, cuộc nhóm họp của cộng đoàn đan viện không hề giống với một hội nghị dân chủ dựa trên nguyên tắc mỗi người một lá phiếu. Nhưng theo ngài, đây là một tiến trình phân định, trong đó mỗi người đi tìm để nhận ra ý Chúa.

2. Để nhận ra ý Chúa, cần có một số điều kiện: a) Phải triệu tập toàn thể cộng đoàn (c.1), cả những anh em nhỏ nhất (c.3). b) Mỗi người phải nêu ý kiến, nhưng với lòng khiêm tốn và tùng phục, không bảo thủ ý mình (c.4). Vì đây không phải là lúc để áp đặt ý kiến riêng, nhưng để cộng đoàn cùng nhau suy tư, nhờ thế mà trong suốt cuộc trao đổi các ý kiến sẽ phát sinh, sẽ thay qua đổi lại và làm phong phú cho nhau.

3. Tiến trình này đòi hỏi nơi anh em cũng như nơi viện phụ một khả năng cốt yếu, tức là khả năng tìm kiếm điều tốt nhất, như c.3 nói, và để được vậy thì phải cùng nhau đi tìm, phải chấp nhận rằng mình chưa biết được điều gì là tốt nhất. 

4. Vai trò của viện phụ là hỗ trợ tiến trình tìm kiếm, hướng nó tới đích, cho đến khi có được quyết định sau cùng. Tức là mang tới cho kinh nghiệm thuộc lãnh vực tinh thần của cộng đoàn một bộ mặt, một nội dung xác định. Mỗi người không còn dè giữ nữa nhưng mạnh bạo đi tìm điều tốt nhất mà Thiên Chúa muốn cho chúng ta. Đó thực là công việc của Giáo hội, chứ không của riêng ai.


Ngày 17 tháng 1

 7 Vậy, trong mọi trường hợp, tất cả phải theo Tu luật là thầy, chớ ai cả gan sai lệch ra ngoài. 8 Trong đan viện không ai được theo ý muốn của lòng mình. 9 Cũng đừng ai táo bạo tranh cãi với viện phụ một cách hỗn xược, dù ngoài đan viện cũng vậy. 10 Nếu ai cố phạm, hãy chiếu Tu luật mà trừng phạt. 11 Tuy nhiên, chính viện phụ phải thi hành mọi sự với lòng kinh sợ Chúa, và tôn trọng Tu luật. Ngài hãy biết không chút nghi ngờ rằng ngài sẽ phải trả lẽ cùng Thiên Chúa, Ðấng Thẩm Phán chí công về mọi quyết định của mình. 12 Còn những việc ít quan trọng, nhưng hữu ích cho đan viện, ngài chỉ cần tham khảo ý kiến các vị lão thành, 13 như lời chép: “Làm gì con cũng nên bàn hỏi, để xong việc, con sẽ khỏi hối hận”.

 

1. “Trong đan viện không ai được làm theo ước muốn của lòng mình”. Nếu chúng ta không làm chủ được những ước muốn nảy sinh và trào ra trong ta, thì có thể chúng ta sẽ chiều theo những ước muốn đó. Thánh Biển Đức biết rõ lòng người, và ở đây ngài chỉ lặp lại kiểu nói đã được sử dụng lâu đời trong truyền thống đan tu: “ý riêng”.

2. Đây không phải chỉ là vấn đề của đan sĩ mà của cả viện phụ nữa. Nếu những c.7,8,9 bảo đan sĩ không được sống ngoài Tu luật (7), làm theo ý muốn của lòng mình (8) và phản kháng (9), thì những câu tiếp theo nhắc nhở viện phụ phải tuân theo Tu luật, kính sợ Chúa (11) và tham khảo ý kiến anh em (12). Đây không phải là vấn đề kỷ cương như thoạt tiên ta có thể nghĩ, nhưng đây là vấn đề thực sự thiêng liêng. Dù ở vị trí nào trong đan viện, đan sĩ không được chiều theo ý muốn của lòng mình.

3. Công việc phân định mà thánh Biển Đức đòi chúng ta thực hiện thật không hề đơn giản. Chúng ta thường lẫn lộn ước muốn riêng của mình với điều gì tốt cho chúng ta và cho người khác, và chỉ nghe theo lời khuyên khi hợp với khuynh hướng của mình. Vậy bước đầu tiên là chấp nhận rằng mình không thấy. Cần điều trị cái nhìn để có thể thấy được. Việc điều trị này là một đề tài trọng yếu nơi các linh phụ. Nếu Thiên Chúa đã làm người là để chúng ta có thể nhìn thấy ngài, và khi nhìn ngài cái nhìn của chúng ta dần dần được biến đổi, vì sau cùng ta sẽ nên giống như đấng mà ta mến yêu ngắm nhìn. Chính khi nhìn ngắm Chúa Giêsu mà chúng ta sẽ dần dần được giải thoát khỏi ý riêng hằng gây trở ngại cho ta, nhờ thế ta nhận ra được ý ngài.


Chương 4

NHŨNG KHÍ CỤ LÀM VIỆC LÀNH

 Ngày 18 tháng 1

 l Trước hết, hãy kinh mến Chúa là Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực. 2 Thứ đến, hãy thương yêu người lân cận như chính mình. 3 Đừng giết người. 4 Chớ ngoại tình. 5 Đừng trộm cắp. 6 Chớ tham lam. 7 Đừng làm chứng gian. 8 Hãy tôn trọng mọi người. 9 Điều ta không muốn người khác làm cho mình thì đừng làm cho người ta. 10 Hãy bỏ mình để theo Chúa Ki tô. 11 Sửa trị thân xác. 12 Không ham mê khoái lạc. 13 Yêu thích chay tịnh. 14 Nâng đỡ người nghèo. 15 Mặc cho người không áo. 16 Thăm viếng bịnh nhân. 17 Chôn cất kẻ chết. 18 Cứu trợ kẻ hoạn nạn. 19 An ủi người sầu khổ. 20 Xa lánh việc đời. 21 Không quý gì hơn lòng mến Chúa Kitô.


1. Sách Sáng thế nói: “Thiên Chúa phán… và đã xẩy ra như vậy” (St 1,11). Nơi Thiên Chúa không có ngắt quãng giữa lời nói và hiệu quả. Nói tức là làm, cả hai chỉ là một. Khi đọc lại toàn bộ Thánh Kinh ta có thể nhận thấy khoảng cách ngày càng xa nơi con người giữa lời Chúa nói và việc họ làm.

2. Mọi xung đột giữa Chúa Giêsu và những người pharisiêu có thể tóm lại trong câu ngài bảo: “Họ nói mà không làm”. Thánh Phaolô lặp lại nhận xét đó trong thư Rôma: “Thật vậy, tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu, vì điều tôi muốn thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, tôi lại cứ làm” (Rm 7,15). Như thế, cái khổ thực sự của con người hệ tại ở sự mất cân đối giữa lời nói và hành động. Đó là nguồn gốc của nỗi khắc khoải sâu xa nhất nơi chúng ta.

3. Chính trong bối cảnh này mà chúng ta phải đọc và suy tư về chương 4 của Tu Luật. Trước hết không phải như một bản liệt kê các điều luật để tuân giữ, nhưng như lời nhắc nhở về sự xâu xé làm biến dạng cuộc sống chúng ta: chúng ta nói nhưng lại không làm. Vì từ kinh nghiệm ban đầu của kitô giáo con người vừa ý thức được sự mỏng dòn và nỗi cùng khổ của thân phận mình vừa cảm nhận được bàn tay Chúa Kitô đưa ra để cứu thoát mình.

4. Ai không còn nhận ra được sự chênh lệch giữa lời nói và việc làm của mình, hay viện lẽ là Thiên Chúa nhân từ, sẽ không hiểu được điều thánh Biển Đức muốn nói ở đây. Thực vậy, chính ý thức về sự chênh lệch đó trong cuộc sống chúng ta sẽ là nguồn phát sinh và động lực cho mọi ơn gọi đan tu. Các linh phụ sa mạc đã hiểu như thế, và những cách ngôn của các ngài là giải đáp cho yêu cầu của người môn đệ: “Thưa viện phụ, xin nói cho con một lời để con được cứu” khi thực hành lời đó.


Ngày 19 tháng 1

 22 Đừng thỏa cơn giận. 23 Đừng tích lòng thù oán. 24 Đừng thủ mưu gian. 25 Đừng chúc bình an giả dối. 26 Đừng mất lòng bác ái. 27 Đừng thề kẻo bội thề. 28 Nói thật trong lòng cũng như ngoài miệng. 29 Đừng lấy ác báo ác. 30 Đừng lăng nhục ai. Còn điều người ta lặng nhục mình hãy kiên nhẫn chịu dựng. 31 Yêu thương thù địch. 32 Đừng nguyền rủa kẻ nguyền rủa ta, nhưng tốt hơn hãy chúc lành cho họ. 33 Vui chịu bách hại vì công lý. 34 Đừng kiêu căng. 35 Đừng rượu chè. 36 Đừng mê ăn. 37 Đừng mê ngủ. 38 Đừng bịếng nhác. 39 Không lẩm bẩm kêu ca. 40 Không gièm pha. 41 Hãy đặt hy vọng nơi Thiên Chúa. 42 Thấy gì tốt nơi mình, hãy quy về Chúa, chứ đừng gán cho mình. 43 Còn điều gì xấu, hãy luôn nhìn nhận là do mình làm và quy trách cho mình.

   

1. Đối với Thiên Chúa, nói và làm chỉ là một. Với chúng ta thì không phải thế. Như chúng ta đã lưu ý ở đoạn Tu luật của ngày hôm qua, Thánh Kinh là biên bản ghi nhận sự chênh lệch càng ngày càng lớn giữa lời nói và việc làm. Tu luật thánh Biển Đức hướng ta đến việc phục hồi hình ảnh Thiên Chúa nơi ta, được thể hiện bằng cách thực thì Lời Chúa.

2. Nhưng đối thánh Biển Đức, con đường trở về với Thiên Chúa khởi đầu bằng việc giữ mình cho khỏi điều xấu. Trước khi bước vào con đường hành thiện: “làm cho người khác điều mình muốn họ làm cho mình”, thánh Biển Đức yêu cầu đan sĩ “đừng làm cho người khác điều ta không muốn họ làm cho ta” (c.9). Như vậy, con đường tình yêu, con đường trở về với Thiên Chúa khởi đầu bằng việc giữ mình cho khỏi điều dữ, như ta nhận thấy trong đoạn luật này.

3. Nếu sự dữ là vắng bóng sự thiện, một sự khiếm khuyết, thì con đường trở về với sự thiện phải đi qua việc kiêng giữ mình khỏi những gì hủy hoại, những sai lạc và khiến cho cuộc sống con người trở nên cằn cỗi. Làm điều tốt khởi đầu bằng cách tránh làm điều xấu.

4. Điều đó xem ra quá sơ đẳng khiến ta tự hỏi tại sao thánh Biển Đức còn phải nhắc lại trong một bản luật dành cho các đan sĩ. Có thực sự đáng ngạc nhiên không? Chỉ cần đọc tiểu sử thánh Biển Đức do thánh Grêgôriô viết ta sẽ hiểu. Một số đan sĩ không những chỉ lăng mạ ngài mà còn tìm cách đầu độc ngài nữa. Thánh Biển Đức cũng đã phải giáp mặt với mầu nhiệm của Giuđa, của phản bội. Ngài biết rằng điều đáng ngạc nhiên không phải là sự dữ nhưng là sự lành. Ngài biết rằng điều làm nên phép lạ đó là “người không lỗi lời hứa và cho vay không đặt lãi”, như Thánh vịnh nói, chứ không phải ngược lại. Ngài hiểu rằng tình thương và lòng trung tín là phép lạ đích thực. Chính điều đó làm chúng ta phải ngạc nhiên.


Ngày 20 tháng 1

 44 Sợ ngày phán xét. 45 Kinh khiếp hoả ngục. 46 Hết lòng khao khát sự sống vĩnh cứu. 47 Ngày ngày đinh ninh mình sẽ chết. 48 Canh chừng hành động của mình trong từng giây phút. 49 Hãy xác tín Chúa nhìn ta mọi nơi. 50  Những tà ý phát khởi trong lòng, hãy vội đập tan vào Chúa Kitô, và hãy bộc lộ với vị linh hướng. 51 Hãy canh giữ miệng khỏi lời xấu xa hay ác độc. 52 Đừng ham nói nhiều. 53 Đừng nói chuyện phù phiếm diễu cợt. 54 Đừng ham cười nhiều hoặc cười ầm ĩ. 55 Thích nghe đọc sách thánh. 56 Siêng năng cầu nguyện. 57 Hằng ngày trong giờ cầu nguyện hãy khóc lóc than van, xưng thú cùng Chúa mọi lỗi lầm  quá khứ. 58 Rồi sửa chữa những lỗi lầm ấy. 59 Đừng thỏa mãn những ham muốn xác thịt. 60 Gớm ghét ý riêng. 61 Vâng lời viện phụ trong mọi điều, cho dù Ngài có ngôn hành bất nhất – mong đừng có như thế – lúc ấy hãy nhớ lệnh Chúa truyền: “Điều họ nói, các ngươi hãy làm; còn điều họ làm, các ngươi chớ theo”. 62 Khi chưa thánh đừng muốn người ta gọi mình là thánh; nhưng hãy thánh trước đi để lời người ta nói được xác thực.

                     

1. Sợ hãi, ước mong. Có lẽ hai từ đó đã tóm lược cả đoạn luật này. Hẳn là tình yêu xua đuổi sợ hãi, như thánh Gioan nói. Nhưng ai trong chúng ta dám cho rằng mình đã yêu cách hoàn hảo? Có thứ sợ rất lành mạnh, đôi khi lúc đầu có thể giống như nhút nhát hay quị lụy, nhưng sẽ mau chóng trở thành nỗi sợ vì yêu mến.

2. Thoạt tiên, nỗi sợ ấy giống như là sợ làm sai, sợ bị bắt, sợ bị lừa. Một nỗi sợ có tính cách nô lệ. Nhưng nếu có thêm tình yêu, nỗi sợ ấy sẽ dần dần nhường chỗ cho một nỗi sợ khác, sợ không biết hiến mình trọn vẹn, sợ không biết phải nói sao cho đúng, sợ không yêu thương cách chân thành.

3. Bước chuyển biến từ nỗi sợ cách nô lệ sang nỗi sợ vì yêu mến không xẩy ra tức khắc. Đôi khi, nếu chỉ nhìn từ bên ngoài, cả hai giống nhau tới độ ta không thấy được sự khác biệt giữa chúng. Tuy nhiên, chúng ta đều có thể quan sát thấy nơi anh em mình, nhất là nơi các vị cao niên, bước chuyển biến đó đang hình thành, dù đương sự không nhận ra.

4. Điều gì đã giúp cho sự biến chuyển ấy, tác động ấy của ơn thánh xẩy ra trong tâm hồn con người? Có lẽ chỉ là một điều rất đơn giản, rất nhỏ bé, nhưng lại đảo lộn cái nhìn của chúng ta. Người trong cuộc không nhận thấy. Điều đó diễn ra qua những cái nhỏ mọn nhất của cuộc sống hằng ngày. Có thể nói rằng ơn thánh hoạt động khi mà, trước một yêu cầu  nào đó, điều ta nghĩ đến trước hết không còn phải là bản thân mình nữa, nhưng là lợi ích, nhu cầu, nỗi khổ hay niềm vui của người khác. Tóm lại, khi ta từ bỏ chính mình là lúc bắt đầu có nỗi sợ vì yêu mến.


Ngày 21 tháng 1

 63 Hằng ngày hãy lấy việc làm mà chu toàn huấn lệnh Chúa. 64 Yêu thích khiết tịnh. 65 Đừng ghét ai. 66 Không ghen tương, 67 không phân bì. 68 Đừng ưa tranh tụng. 69 Tránh tự kiêu. 70 Kính trọng người già, 71 yêu thương người trẻ. 72 Vì lòng mến Chúa Kitô, hãy cầu nguyện cho kẻ thù nghịch. 73 Làm hoà với người bất thuận trước khi mặt trời lặn. 74 Và chớ bao giờ thất vọng về lòng thương xót Chúa.

75 Đó là những dụng cụ trong nghệ thuật thiêng liêng. 76 Nếu ngày đêm chúng ta không ngừng đem ra sử dụng, và đến ngày chung thẩm chúng ta hoàn lại cho Chúa, thì Chúa sẽ ban cho chúng ta phần thưởng chính Người đã hứa: 77 “Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người”. 78 Còn xưởng thợ nơi chúng ta cần mẫn sử dụng các dụng cụ ấy, chính là nội vi đan viện và lời khấn bền đỗ trong cộng đoàn .


1.Có thể có nhiều động lực thúc đẩy chúng ta trong suốt cuộc đời đan tu, nhưng chỉ có một động lực duy nhất có khả năng giúp chúng ta “cầu nguyện cho kẻ thù” như thánh Biển Đức nói ở c.72, đó là “lòng yêu mến Chúa Kitô”. Quả thực, có một làn ranh, qua làn ranh đó thì thiện chí cao nhất, nhẫn nại kiên cường nhất, lòng thương cảm tha thiết nhất cũng vẫn không đủ. Bên kia làn ranh đó chỉ có tình yêu mới đáng kể mà thôi.

2. Đạt tới được tình yêu này đôi khi giống như là đi vào hỏa ngục vậy. Vì đó là con đương từ bỏ thực sự mà những lý lẽ dù hay tới đâu, những tình cảm dù cao thượng chừng nào cũng không đứng vững được. Cái đầu và con tim không còn tác dụng gì, mà chỉ là trống rỗng, có cũng như không. Sau cùng thì chúng ta sẽ mỏi mòn kiệt quệ và chịu đựng hết nổi. Nhưng cũng nhờ vậy mà chúng ta nhận ra được thực tế. Tất cả đều sụp đổ.

3. Tất cả chăng? Không hẳn vậy, vì khi Thiên Chúa cho chúng ta cảm nghiệm được sự sụp đổ nơi mình, thì không phải là để khiến chúng ta hóa thành tro bụi. Cái đổ vỡ ấy thực ra chỉ là cái vỏ bọc ngoài, có nguy cơ khiến chúng ta náu ẩn yên hàn trong đó mà không còn muốn đi xa hơn nữa. Origênê nói rằng mối nguy lớn nhất rình rập cuộc sống thiêng liêng của ta đó là sự thỏa mãn, sự đầy đủ. Đó là cảm giác mình đã đạt ý nguyện, đã có được địa vị vững chắc, có chỗ đứng yên ổn dưới ánh mặt trời.

4. Rủi thay, hoặc phúc thay cho chúng ta, Thiên Chúa không bằng lòng với điều đó. Ngài biết chúng ta lớn hơn lòng chúng ta. Vì thế ngài đẩy chúng ta vào cảnh rối loạn để nếu chúng ta chấp nhận bị rơi vào, chúng ta có thể cảm nghiệm được thế nào là sống vì yêu mến Chúa Kitô. Trong tình trạng trái ngược ấy tất cả đều có thể, ngay cả cầu nguyện cho kẻ thù.


Chương 5

ĐỨC VÂNG PHỤC


Ngày 22 tháng 1

1 Vâng phục không chậm trễ là bước đầu của đức khiêm tốn. 2 Đó là nhân đức của những người không quý chuộng gì hơn Chúa Kitô. 3 Vì nghĩa vụ thánh mà họ đã khấn hứa, hay vì sợ hoả ngục hoặc mong ước sự sống muôn đời, 4 nên lệnh trên vừa ban ra, họ coi như từ Thiên Chúa, và thi hành tức khắc không chút do dự . 5 Chính vì thế mà Chúa đã phán: “Tai vừa nghe, chúng đã vâng lời Ta”. 6 Với những người giảng dạy Chúa còn phán : “Ai nghe các con là nghe Thầy”. 7 Những người như thế họ bỏ ngay công việc cá nhân và từ khước ý riêng, 8 lập tức những gì đang cầm trong tay và công việc còn đang dở họ cũng bỏ để nhanh chân thi hành lệnh trên, 9 đến nỗi lệnh thầy truyền và việc môn đệ thi hành đều hoàn tất mau lẹ như cả hai cùng xong một trật, vì cả thầy lẫn môn đệ cùng có lòng kinh sợ Chúa.

10 Đó là những kẻ đang hăm hở tiến vào sự sống muôn đời. 11 Vì thế họ dành lấy con đường hẹp mà Chúa đã nói : “Đường dẫn đến sự sống là đường hẹp”. 12 Bởi lẽ họ không còn sống theo ý mình, hay chiều theo dục vọng và sở thích riêng, nhưng bước đi theo phán quyết và mệnh lệnh người khác. Sống trong đan viện, họ chỉ mong tùng phục viện phụ. 13 Những người như thế, chắc chắn đã theo đúng lời Chúa dạy: “Tôi không đến để làm theo ý Tôi, nhưng là theo ý Đấng đã sai Tôi”.


1. Cấu trúc của đoạn văn này rất hay. Thánh Biển Đức bắt đầu bằng cách nêu lên một châm ngôn, ở c.1: “bậc thứ nhất đức khiêm nhường là vâng lời không chậm trễ”. Rồi trong các câu 2 và 3 ngài đưa ra lý do. Sau cùng, từ c.4 đến c.9, thánh Biển Đức mô tả thế nào là vâng lời không chậm trễ, và sau cùng, từ c.10 đến c.13, ngài nhắc lại những lý do của việc vâng lời này.

2. Điều đáng ngạc nhiên là thánh Biển Đức chỉ giữ lại một trong những lý do ngài đã nêu ra. Thực vậy, nếu từ ban đầu ngài nói: “Không quí gì hơn Chúa Kitô” (c.2), thì điều đó là do “nghĩa vụ thánh đã khấn hứa”, do “sợ hỏa ngục” hay vì “vinh quang trong cuộc sống vĩnh cửu” (c.3). Ở cuối đoạn này ngài chỉ còn giữ lại “lòng khao khát ước muốn sống đời đời” khiến ta “noi gương Chúa” (c.10 và c.13). “Sự sợ hỏa ngục” hay những nghĩa vụ do lời khấn đan tu đã tác động ta một lúc nào đó thì nay không còn nữa.

3. Như vậy, việc vâng lời bắt nguồn từ khát vọng sâu xa muốn được vào Nước Thiên Chúa, một khát vọng đã đưa tất cả vào trật tự. Điều giúp ta vâng lời, điều khiến ta dễ dàng vâng lời và muốn vâng lời đó là thang giá trị đã thay đổi, lòng chúng ta đã thay đổi cách sâu xa nhất. Nếu không, chúng ta sẽ luôn luôn tìm được lý do để làm điều mình muốn và để khỏi phải vâng lời.

4. Vậy là vâng lời trở thành vâng lời thực sự. Không phải là suy phục ý muốn của con người, nhưng là noi gương Chúa Kitô, là đi theo Chúa Kitô. Trong đời sống đan tu, ta không vâng lời vì sợ hay vì tư lợi hoặc để được yên thân, nhưng để trở nên như Chúa Kitô, để được biến đổi nên giống ngài.


Ngày 23 tháng 1

14 Nhưng đức vâng phục này chỉ được Chúa vui nhận và vừa lòng mọi người, khi lệnh truyền được thi hành một cách điềm tĩnh, không chậm trễ, không lãnh đạm, hoặc cằn nhằn phản đối. 15 Vì vâng lời bề trên là vâng lời Thiên Chúa. Bởi chính Người đã phán : “Ai nghe các con là nghe Thầy”. 16 Vậy môn đệ phải vâng lời với lất cả hảo tâm, “vì ai vui vẻ dâng hiến thì được Thiên Chúa yêu thương”. 17 Còn nếu môn đệ vâng lời miễn cưỡng và phàn nàn, không những ngoài miệng mà cả trong lòng, 18 thì dù có làm đúng lệnh truyền vẫn không thể đẹp lòng Chúa, vì Người thấu suốt tận đáy lòng kẻ kêu trách. 19 Vâng lời như thế không được ơn ích gì, lại liều mình chuốc lấy hình phạt dành cho hạng người kêu trách, nếu không sửa mình và đền tội.


1. Với thánh Biển Đức, vâng lời thôi chưa đủ, nhưng còn phải vâng lời cách vui vẻ. Đó là một đòi hỏi vượt quá sức chúng ta. Thực vậy, vui thế nào được khi điều người ta bảo làm chúng ta lại không thích? Làm sao cho người khác vui vẻ mà vâng lời?

2. Trước hết phải vượt qua được hai cái bẫy của việc vâng lời. Cái bẫy thứ nhất là vâng lời vì không thể làm cách khác được, vì từ chối thì không an tâm. Vâng lời như thế phần nào có tính cách hình thức để cho được yên thân, nhưng chẳng giúp ta nên tốt lành hơn. Ngược lại, cái bẫy thứ hai là vâng lời cách miễn cưỡng. Có những người hóa bệnh vì phải vâng lời, và luôn làm trái với lệnh truyền, hay ít là tỏ ra cực chẳng đã thì phải vâng khi không thực hiện lệnh truyền đến nơi đến chốn.

3. Chúng ta đều đã có kinh nghiệm về một trong những kiểu vâng lời bệnh hoạn này. Đó là một kinh nghiệm cần phải có trước khi khám phá thế nào là vâng lời vui vẻ như thánh Biển Đức nói, nghĩa là vâng lời mà không phải vì sợ bề trên buồn hay vì muốn làm vui lòng bề trên. Những làm sao để có thể vui vẻ mà vâng lời được?

4. Thánh Biển Đức trả lời cho ta bằng những trích dẫn rất ngắn từ Tân ước: Lc 10,16: “Ai nghe các con là nghe Thầy”, và 2 Cr 9,7: “Thiên Chúa yêu thích người nào vui vẻ mà cho”. Với thánh Biển Đức thì, một cách nào đó, vui vẻ mà cho bao giờ cũng là một việc tạ ơn vì điều mình đã lãnh nhận, như lãnh nhận lời Chúa Kitô (ai nghe các con là nghe Thầy), lãnh nhận được tình yêu của Thiên Chúa (Thiên Chúa yêu thích người nào vui vẻ mà cho). Chỉ ai biết lãnh nhận lời đó như lời Chúa Kitô sẽ  được tràn đầy tình yêu Thiên Chúa và sẽ có thể vui vẻ mà cho. Với thánh Biển Đức, vâng lời là lắng nghe Chúa Kitô suốt cả cuộc đời.


Chương 6

SỰ NÍN LẶNG

 

Ngày 24 tháng 1

 1 Chúng ta hãy thi hành theo lời ngôn sứ : “Tôi đã nói mình phải giữ gìn trong nếp sống, để khi ăn nói khỏi lỗi lầm, nên miệng tôi quyết ngậm tăm, tôi câm lặng làm thinh chẳng hé môi, im lặng cả những điều hay điều tốt”. 2 Qua đó, vị ngôn sứ tỏ cho ta thấy, vì quí trọng sự nín lặng, mà đôi khi phải làm thinh cả những lời lành; phương chi đối với những chuyện hư từ, càng phải tránh để khỏi bị phạt vì tội.

3 Vì sự nín lặng quan trọng như thế, nên ngay cả những môn đệ trọn lành, cũng ít khi được phép nói những lời lành thánh và xây dựng, 4 vì có lời chép : “Nói nhiều không tránh khỏi tội”. 5 Và nơi khác : “Sống chết cả đầu lưỡi”. 6 Thực ra, nói năng dạy dỗ là việc của thầy, còn môn đệ thì im lặng mà nghe.

7 Bởi đó, nếu phải thưa trình bề trên việc gì, hãy trình bày với tất cả lòng khiêm tốn, kính cẩn và tùng phục. 8 Còn những chuyện bông dùa, những lời phù phiếm khôi hài, bất cứ ở đâu và lúc nào, cha đều lên án và cha không hề cho phép môn đệ mở miệng nói những lời như thế.


1. Với thánh Biển Đức, đây chưa phải là yêu thích nín lặng, nhưng là giữ miệng không nói. Ngài nhấn mạnh điều đó khi trích dẫn ba câu Thánh Kinh: Tv 38,2-3; Tv 10,19; Tv18,21. Ngài nêu rõ tương quan giữa lời nói và sự nín lặng bằng hai nhóm từ ở c.3: “sự quan trọng của nín lặng” và “được phép nói”. Và ở c.7, ngài không đặt lời nói đối nghịch với sự nín lặng nhưng với lòng khiêm tốn: “Nếu phải thưa trình bề trên việc gì, hãy trình bày với tất cả lòng khiêm tốn và kính cẩn tùng phục”.

2. Tôi muốn trở lại với sự đối nghịch cơ bản mà thánh Biển Đức diễn tả bằng những từ “sự quan trọng của nín lặng” và “được phép nói”. Từ “sự quan trọng” trong tiếng la tinh diễn tả sức nặng, đó là cái trọng tâm, cái mà hữu thể hướng chiều về. Còn từ “được phép” nêu lên ý tưởng về nhượng bộ.

3. Cơ bản thì tôi nghĩ rằng nín lặng, đúng ra là việc không nói trước, diễn tả thái độ của người môn đệ lắng nghe lời nội tâm. Đây là nói về chất lượng của chú ý, của sự thức tỉnh nơi trí năng nội tâm rộng mở để nghe mọi lời “từ miệng Thiên Chúa phán ra”.

4. Chính vì thế thánh Biển Đức không đặt lời nói đối nghịch với thinh lặng, nhưng với lòng khiêm tốn. Ta từ chối nghe, vì ta tưởng mình nắm được chân lý rồi, đó là kiêu ngạo; trong khi mà chân lý là một Đấng khác, là chính Chúa Kitô. Điều thánh Biển Đức không thể chấp nhận đó là từ chối nghe Lời.


Chương 7

ĐỨC KHIÊM NHƯỜNG

 

Ngày 25 tháng 1

 l Thưa anh em, Thánh Kinh kêu gọi chúng ta : “ Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”. 2 Nói thế, Thánh Kinh tỏ cho chúng ta thấy mọi cách đưa mình lên đều là một thứ kiêu ngạo. 3 Đó là điều ngôn sứ tuyên bố tự đề phòng, khi nói : “Lòng con không dám tự cao, mắt con không dám tự hào, Chúa ơi. Đường cao vọng chẳng đời nào bước. Việc diệu kỳ vượt sức chẳng cầu”. 4 Nếu con không tự khiêm, lại muốn tự cao tự đại, thì sẽ ra sao? Như đứa trẻ bị dứt ra khỏi dòng sữa mẹ, Thiên Chúa cũng sẽ xử với hồn con như thế.

                        

1. Cao và thấp là những chiều căn bản của khoa địa lý thiêng liêng, như ở trong và ở ngoài, đàng trước, đàng sau, hay bề sâu và bề mặt. Hành trình thiêng liêng cũng giống như một hải trình trong đó con tầu phải tìm ra đường khi nghiên cứu các hướng đi khác nhau. Bước tiến thiêng liêng diễn ra trong một loại không gian ba chiều, trong đó thời gian trở thành chiều thứ tư.

2. Nhưng khoa địa lý thiêng liêng có những qui luật riêng mà ta phải biết đến. Ở đầu chương 7 này, thánh Biển Đức nêu lên qui luật cơ bản: “Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống”. Qui luật này có thể làm ta ngạc nhiên, vì đời sống đan tu được coi là một cuộc tìm kiếm Thiên Chúa, tìm Đấng Tuyệt đối, một khát mong nên hoàn thiện. Như vậy rõ ràng là chúng ta phải vươn lên rồi.

3. Và quả thực là đúng như vậy. Trong đời sống đan tu, chúng ta bảo rằng mình đi tìm Chúa, nhưng chúng ta lại thấy mình đứng trước những giới hạn nhỏ hẹp của mình. Chúng ta tuyên bố những điều lớn lao lắm, nhưng lại vấp phải một chi tiết nhỏ nhặt trong đời sống chung. Cứ mỗi khi chúng ta tìm cách vươn lên cao là lại gặp phải toàn những điều tầm thường nhỏ mọn.

4. Đúng như vậy, và thật là hay. Điều đó chẳng vô ích tí nào. Mà hoàn toàn ngược lại. Vì cốt yếu là phải khám phá ra rằng những khát vọng lớn lao để dẫn đưa chúng ta tới Chúa luôn luôn phải trải qua một cuộc tự hủy. Những khát vọng ấy phải được thanh tẩy khỏi tất cả những gì thúc đẩy ta đi tìm mình, tìm hư danh, tự phụ. Chúng cần phải được thanh tẩy trong lò luyện cuộc đời, để trở nên vô cùng tốt đẹp hơn cho chúng ta. Điều đó không tùy thuộc ở ta, nhưng là hồng ân của Thiên Chúa. Vậy ta hãy khát vọng lên lao, nhưng bằng cách đi qua vực thẳm.


Ngày 26 tháng 1

 5 Vì vậy, thưa anh em, nếu muốn đạt đỉnh cao của đức khiêm nhường trọn hảo và mau vươn tới cõi trời cao bằng cuộc sống khiêm nhường ở đời này, 6 chúng ta hãy lấy việc làm dựng thành cái thang mà leo lên, như chiếc thang đã hiện ra cho ông Giacóp trong giấc mộng. Trên thang đó ông thấy các thiên thần lên lên xuống xuống. 7 Theo cha, lên xuống như thế chắc chắn phải hiểu: tự cao là đi xuống, tự hạ là đi lên. 8  Chiếc thang được dựng lên đó chính là đời tạm này. Nhờ lòng khiêm nhường, nó sẽ được Chúa nâng lên tận trời cao. 9 Hai đọc thang, theo cha hiểu chính là xác và hồn ta. Trên đó tiếng gọi thần linh đã sắp sẵn nhiều bậc khiêm nhường và kỷ luật để chúng ta leo lên.

                          

1. Hình ảnh thánh Biển Đức dùng để nói về cây thang có vẻ hơi đặc biệt. Hai thành của cây thang là xác và hồn, và những thanh ngang nối kết hai thành lại là những bậc khiêm nhường. Điếu ấy có nghĩa là khiêm nhường liên hệ đến tâm hồn, nhưng cũng liên hệ đến thân xác nữa.

2. Khi còn là đan sĩ trẻ, tôi nhớ ngày nọ thầy quản lý công việc tới sở làm phô mai. Thấy một anh em đang sơn cây thang đã bị mọt nhiều, thầy bắt anh đi lấy cưa rồi cưa bỏ hết các thanh ngang của cây thang. Sau cùng, cây thang không còn nữa nhưng chỉ còn hai khúc gỗ vô dụng.

3. Để giúp ta leo lên thang, các thanh ngang phải cùng nhau giữ chắc hai thành dọc của cây thang. Với thánh Biển Đức, lòng khiêm tốn hệ tại ở việc tìm lại được sự liên kết sâu xa giữa hồn và xác. Chỉ người nào đã tìm lại được sự thống nhất sâu xa nơi mình mới có thể đi lên với Chúa.

4. Như vậy, khiêm nhường là nơi chốn thiêng liêng, ở đó bản thân người đan sĩ dần dần trở nên thống nhất. Khiêm tốn liên hệ đến tâm hồn, trái tim, nhưng cũng đến cả thân xác cùng với những xúc cảm, ước muốn và nhận thức của nó nữa. Người khiêm tốn là người sẽ có khả năng nghe được lòng mình nhưng cũng có khả năng tôn trọng thân xác mình.

5. Tôi nghĩ rằng một trong những mâu thuẫn lớn của đời sống thiêng liêng đó là thay vì làm cho chúng ta thành thiên thần, những tạo vật phi thể xác, đời sống ấy dẫn đưa chúng ta tới chỗ trở nên trọn vẹn là những con người.


Ngày 27 tháng 1

 10 Vậy bậc khiêm nhường thứ nhất là luôn đặt trước mắt lòng kính sợ Chúa, chẳng bao giờ dám quên, 11 và hằng nhớ mọi điều Chúa truyền, không ngừng tâm niệm rằng những kẻ khinh thị Chúa sẽ bị phạt vì tội trong hoả ngục làm sao, còn kẻ kính sợ Chúa sẽ được phúc trường sinh Chúa sắm cho thế nào. 12 Trong mọi giây phút lo giữ mình khỏi tội lỗi và các nết hư do tư tưởng, miệng lưỡi, tay chân và ý riêng, cả đến những thèm muốn xác thịt. 13 Mỗi người hãy nên nhớ rằng từ trời cao Chúa luôn nhìn xem mình, và dù ở đâu, lúc nào và làm gì, Chúa đều nhìn thấy hết, lại có các thiên thần không ngừng tường trình lên Chúa. 14 Để chứng minh điều đó, vị ngôn sứ cho chúng ta hay lúc nào Thiên Chúa cũng hiện diện trong tư tưởng chúng ta. Ngài nói: “Chúa dò thấu lòng dạ chúng ta”. 15 Lại rằng: “Chúa biết rõ tư tưởng con người”. 16 Ngôn sứ lại nói: “Con nghĩ tưởng gì, Ngài thông suốt từ xa”. 17 Và “Tư tưởng phàm nhân sẽ phơi bày trước mắt Chúa”. 18 Muốn giữ mình khỏi những tư tưởng xấu xa, đan sĩ chân tu luôn tâm niệm : “Chỉ khi nào  giữ mình khỏi điều gian ác tôi mới được trong sạch trước nhan Ngài”.


1. Các bậc khiêm nhường không phải là những giai đoạn chúng ta đi qua một lần là xong, như thể đi từ bậc thứ nhất tới bậc thứ hai. Thực ra, một cách nào đó, chúng ta chẳng bao giờ đi hết được bậc thứ nhất. Nhưng chính khi sống bậc thứ nhất mà chúng ta sẽ dần dần khám phá ra chiều kích thứ hai, thứ ba và thứ mười hai của bậc thứ nhất này. Như thế, các bậc khiêm nhường cũng giống như các mặt của một viên đá quí, mặt nọ phải cần đến mặt kia.

2. Chính vì thế, thánh Biển Đức đặt bậc khiêm nhường thứ nhất ở chỗ đầu tiên, như cửa đi vào. Và chúng ta sẽ thấy bậc này vô cùng phong phú, vì được chia ra để đọc và giải thích trong ba buổi. Đoạn văn của ngày hôm nay nêu lên cội rễ, nền tảng của đức khiêm nhường, đó là “sống trước sự hiện diện của Chúa”.

3. Như vậy, lòng khiêm nhường được xây dựng trên ý thức về một Đấng Khác đang ở trong cuộc sống của tôi, ngài nghĩ đến tôi, ngài nhìn xem tôi mọi lúc, ngài yêu thương tôi. Một Đấng Khác không vô tình lãnh đạm với những gì xẩy đến cho tôi, những gì tôi làm, nhưng ngài tin tưởng nơi tôi. Tôi không ở một mình.

4. Thánh Biển Đức diễn tả thực tại này bằng nhiều trưng dẫn Thánh Kinh để cho thấy rằng khiêm nhường là thành phần của mạc khải kitô giáo. Khiêm nhường khiến tôi kinh nhạc nhận ra rằng tôi không đơn độc, rằng đời tôi có gía trị, rằng một Đấng Khác đang chờ đợi nơi tôi một điều gì đó. Hay đúng hơn, ngài chờ đợi tôi trở thành một ai đó khi thoát ra khỏi cái vỏ sò bản ngã nhỏ hẹp của tôi. Vì chỉ cái nhìn của một Đấng Khác mới có thể giúp tôi một ngày nào đó đạt tới được ơn gọi làm người của tôi.


Ngày 28 tháng 1

 19 Còn về ý riêng, cha cấm không được chiều theo. Vì Thánh Kinh dạy rằng: “Ý riêng con, con hãy từ bỏ”. 20 Vả lại trong Kinh Lạy Cha chúng ta vẫn xin Thiên Chúa cho ý Ngài thực hiện nơi ta. 21 Vì thế Thánh Kinh dạy chúng ta đừng theo ý riêng là rất có lý, nếu chúng ta lưu tâm đến lời Thánh Kinh: “Có những con đường người ta coi là ngay thẳng, mà cuối đường lại đưa xuống đây hỏa ngục”. 22 Lại nhờ đó, chúng ta tránh khỏi điều đã viết về những người chểnh mảng rằng: “Chúng đã ra đồi bại ghê tởm trong ước muốn của chúng”. 23 Còn về những ham muốn xác thịt ta hãy xác tín rằng Chúa hằng ở trước mặt ta như lời vị ngôn sứ đã thưa cùng Chúa: “Mọi ước muốn của con đều bày ra trước mắt Ngài”.


1. Trong đoạn này của bậc khiêm nhường thứ nhất, thánh Biển Đức bàn đặc biệt về điều mà truyền thống thiêng liêng gọi là ý riêng. Ngài thiết lập mối tương quan giữa ba yếu tố căn bản của tinh thần con người: ý chí (c.19), ước muốn (c.23) và óc phân định (c.21). Động lực của ý chí chính là ước muốn. Như vậy, vấn đề là mức độ phân định ước muốn.

2. Ai có thể cho rằng mình đủ khả năng phân định xem ước muốn của mình hướng mình về Chúa hay về sự dữ? Làm sao biết được ước muốn của ta hướng ta tới điều thiện hay điều ác? Mù tịt về bản thân mình, chúng ta không có khả năng thấy rõ được những chuyện đó. Chính vì vậy, noi theo truyền thống đan tu, thánh Biển Đức chọn sự từ bỏ chính mình như giai đoạn thứ nhất trong việc trở về với Thiên Chúa, bằng cách xa lánh ý riêng để đi vào đường vâng phục.

3.Vâng phục là tuyệt đối cần thiết, nếu chúng ta mong muốn một ngày kia nhìn thấy rõ được lòng mình. Những phản ứng, những kháng cự, những sợ hãi của chúng ta sẽ dậy chúng ta nhiều hơn gấp bội những lời biện bạch để được làm điều mình muốn. Khi nhận ra nơi lòng mình sự cứng cỏi như dấu chỉ cho thấy ta đang dính bén với ý riêng, thay vì tìm cách biện hộ cho mình hay tố cáo người khác, thì đó là lúc chúng ta dám nhìn vào điều đang xẩy ra, là lúc chúng ta trở nên sáng suốt hơn một chút về mình.

4. Theo nghĩa đó, vâng phục là một ơn đặc biệt, vì nó giúp ta mở mắt ra để nhìn thấy mình cách rõ ràng hơn mọi thứ phân tích nào khác. Mà biết mình là cơ sở của khiêm tốn, vì khiêm tốn là sự thật. Có lẽ tôi phải theo ý nghĩa này khi giải thích chương 2, khi thánh Biển Đức nhắc cho viện phụ rằng ngài phải trả lẽ về sự vâng phục của những ai đã được giao phó cho ngài. Đôi khi thật là dễ dàng nếu để anh em làm theo ý riêng của họ. Điều đó tránh được những xung đột, nhưng lại chẳng giúp ích gì cho ai.


Ngày 29 tháng 1

 24 Thế nên ta phải cảnh giác những ước muốn xấu xa, vì cái chết rình chờ bên cửa lạc thú. 25 Bởi vậy, Thánh Kinh dạy rằng: “Con đừng chạy theo nhục dục”. 26 Vậy nếu con mắt Chúa hằng theo dõi người lành kẻ dữ 27 và từ trên cao, Chúa hằng quan sát con cái loài người xem có ai hiểu biết và tìm kiếm Chúa, 28 nếu các thiên thần được ủy thác coi sóc chúng ta ngày đêm tường trình lên Chúa mọi công việc ta làm, 29 thì, thưa anh em, mọi giờ phút chúng ta phải cảnh giác, như ngôn sứ nói trong Thánh vịnh, kẻo có lúc nào Chúa bắt gặp chúng ta đang chiều theo sự dữ và trở thành vô dụng. 30 Giờ đây Chúa còn dung thứ vì Ngài nhân từ và chờ ta hoán cải nên tốt hơn, kẻo mai ngày Chúa sẽ bảo ta: “Ngươi sống như thế mà Ta đã làm thinh”.


1. Đoạn này tóm kết bậc thứ nhất đức khiêm nhường. Bậc thứ nhất này có hai mặt được thánh Biển Đức quảng diễn như sau: Trước hết đặt trước mắt lòng kính sợ Chúa và đừng bao giờ quên (c.10-18). Thứ hai là tránh theo ý riêng (c.19-23), điều này đã nói ở chương 5 về đức vâng lời. Phần tóm kết này nhắc lại điểm thứ nhất trong khi liên kết với điểm thứ hai, vì có mối liên hệ giữa việc tưởng nhớ đến Chúa và việc từ bỏ ý riêng, từ bỏ những ước muốn lôi kéo lòng người.

2. Trong việc đó, thánh Biển Đức theo giáo thuyết của Cassianô về linh hồn con người. Cassianô so sánh linh hồn con người với một cái cối xay lúa không thể ngừng quay. Nếu không cho nó những tư tưởng tốt để nó xay, nó sẽ xay tất cả những gì thâm nhập vào nó, những ham muốn xác thịt, những tư tưởng về hư danh, về ý riêng.

3. Đó là bậc thứ nhất, là thách đố thứ nhất trên đường về với Chúa. Đây là lúc phải xay những thứ hạt tốt. Đó là lý do khiến  các linh phụ và sau là Cassianô nghĩ rằng phải cung cấp hạt tốt cho cái cối xay ấy, phải cho nó những thứ hạt tốt để nó xay.

4. Vì thế các ngài coi lectio divina là việc quan trọng theo hai hình thức: đọc Thánh Kinh, và đọc thuộc lòng các thánh vịnh, các lời kinh, như kinh Mân côi chẳng hạn, được dệt bằng những sự kiện trong Thánh Kinh. Điều này dần dần sẽ tạo nên trong ta một thói quen thầm thĩ đọc Lời Chúa, giúp cho tâm trí ta giữ được thinh lặng đích thực. Đó là một cuộc tái tạo mà ta được dự phần, và một ngày nào đấy, ơn Chúa sẽ soi chiếu và biến đổi, bằng cách thu hút chúng ta từ trong nơi sâu thẳm nhất của bản thân chúng ta và mặc khải cho chúng ta những mầu nhiệm dấu ẩn của Kinh Thánh.


Ngày 30 tháng 1

 3l Bậc khiêm nhường thứ hai là không yêu thích ý riêng, không tìm thỏa mãn ước muốn của mình, 32 nhưng mọi hành động hãy theo Lời Chúa: “Tôi không đến để làm theo ý Tôi mà là ý Ðấng đã sai Tôi”. 33 Thánh Kinh cũng nói rằng: “Lạc thú chuốc lấy hình phạt, phấn đấu tạo kết  triều Thiên”.

                          

1. Trong tiếng la tinh, từ “proprius” (riêng tư) có liên hệ gần với hai từ “prope” nghĩa là “ở bên”, “gần”, và từ “proprietas” nghĩa là “của riêng”. Như vậy, thành ngữ “ý riêng” bao hàm cả hai nghĩa này: cái gì gần ta nhất, cái làm cho ta thành một hữu thể đặc thù, cá biệt, và cái gì ta sở hữu, là của riêng ta.

2. Ta hiểu được tại sao tự do thường được liên kết với ý riêng. Khi ấy tự do sẽ là khả năng ở gần bên mình nhất, sống tính xác thực của bản thân mình, biểu lộ tính đặc thù, cá biệt của mình, khả năng có thể hưởng thụ lợi ích riêng, tài sản riêng.

3. Tuy nhiên, truyền thống thiêng liêng luôn luôn chiến đấu chống lại ý riêng, như thánh Biển Đức nói trong bậc khiêm nhường thứ hai này. Như vậy, phải chăng đời sống thiêng liêng là một hình thức áp chế đã lạc hậu, một kiểu nô lệ hóa và tước đoạt tự do của con người?

4. Vấn nạn ấy người ta rất thường nêu lên để chống Giáo hội. Nhưng phải nói ngược lại mới đúng. Quả thực, để giúp con người tìm lại được tự do, thoát khỏi dục vọng, tội lỗi, khỏi những ước muốn thác loạn và sự mù quáng, Thiên Chúa đã mở cho ta con đường vâng phục. Vâng phục không phải là đánh mất căn tính của mình, nhưng trái lại để gặp được căn tính đích thực khi xa tránh tất cả những cái “tôi” sai lạc ngăn cản ta trở nên chính mình. Vì cái tôi đích thực, ẩn khuất, dấu kín nơi chúng ta chính là căn tính đích thực của ta, tự do thật của ta. Mọi sự khác đều giả dối hết.


Ngày 31 tháng 1

 34 Bậc khiêm nhường thứ ba là vì yêu mến Chúa, ta hết lòng tùng phục người trên theo gương Chúa, như lời thánh Tông đồ nói về Người: “Người đã vâng phục cho đến chết”.

1.Với thánh Biển Đức, cũng như với tác giả Thư Êphêsô, khiêm nhường là dấu chỉ của sự lớn lao, là ấn tích của điều cao cả đích thực. Ở đây thánh Biển Đức nêu lên ba đặc điểm cơ bản của khiêm nhường, có thể áp dụng cho mỗi người chúng ta.

2. Trước hết khiêm nhường là vâng phục, nghĩa là khả năng coi người khác, bề trên cũng như anh em, mỗi người anh em, là người có thể nói với ta một lời đến từ Thiên Chúa. Đặc tính cơ bản của khiêm nhường là lắng nghe, mà không hề có thành kiến về người khác, chỉ vì họ khác với ta.

3. Đặc điểm thứ hai của khiêm nhường là ta không thể khiêm nhường nếu không yêu mến Chúa. Nếu ta lắng nghe chính là vì ta khao khát Lời đến với ta từ nơi khác, bên ngoài bản thân ta, vì ta khám phá ra rằng nguồn mạch sâu xa của hữu thể ta là ở nơi Đấng Khác.

4. Đặc điểm thứ ba được thánh Biển Đức đề cao là theo gương Chúa Kitô: trở nên hình ảnh Chúa Kitô và nên giống như ngài.

5. Lắng nghe, yêu mến, hình ảnh. Chỉ ba từ đó đã đủ để làm nên một cuộc đời mà tâm điểm được đặt nơi Thiên Chúa chứ không phải nơi mình nữa.



About The Author

Priest of Vinh Dioscese

Number of Entries : 1629

© TRANG THÔNG TIN CHÍNH THỨC CỦA ĐẠI CHỦNG VIỆN VINH THANH

Scroll to top