You Are Here: Home » MỤC VỤ » Vô Cảm –Sự Trăn Trở Một Khúc Du Ca Tình Yêu

Vô Cảm –Sự Trăn Trở Một Khúc Du Ca Tình Yêu

maxresdefaultGiuse Nguyễn Minh Quân, K.13 – ĐCV Vinh Thanh

 Trong chuyến tông du của Đức Giáo Hoàng Phanxicô tại Philippines giữa tháng 01 năm 2015, khoảnh khắc khiến lòng người rung động với một câu hỏi bất ngờ được cất lên từ miệng của một em bé: “Tại sao Chúa lại để xảy ra như vậy?” [1]. Đó là lời bé gái Glyzelle Iris Palomar 12 tuổi, hỏi Đức Giáo Hoàng. Em cùng một bé trai 14 tuổi là Juan Chura, đại diện những trẻ bụi đời đang được viện Tulayng Kabataan nuôi dưỡng, và là một trong nhiều nhân chứng được chọn để trình bày những hiện trạng và thách đố của xã hội lên Đức Phanxicô, trong buổi gặp gỡ dành riêng cho thanh thiếu niên, tổ chức tại Giáo hoàng Học viện Santo Tomas. Đang phát biểu chào mừng Đức Thánh Cha, – sau khi kể hoàn cảnh mình là một bé gái bị bỏ rơi, bị vất ra ngoài lề xã hội; từng sống lang thang như bao nhiêu trẻ bụi đời; quá nhiều lần chứng kiến đồng bạn bị cha mẹ bỏ rơi, rồi sa vào cạm bẫy của sự dữ: nghiện ngập, mãi dâm, cướp bóc, tù tội, bị giết hại, bị mọi người lên án, bị chà đạp nhân phẩm, bị chà đạp quyền sống… – em đã không thể đọc tiếp bài dọn sẵn. Em nhìn lên Đức Thánh Cha, bất ngờ đặt câu hỏi như trên, rồi nhắm nghiền mắt và nức nở khóc. Cố gắng lắm, em kết thúc được bằng một câu hỏi khác: “Và tại sao lại ít có người giúp chúng con như thế?” Người ta đã phải dỗ em trước khi đưa em lên bắt tay Đức Giáo Hoàng. Ngài đã đứng dậy, bước xuống nửa đường để ôm em vào lòng. Hình ảnh một vị Giáo Hoàng rưng rưng nước mắt và bé Palomar gục mặt mình vào lòng của ngài, là hình ảnh đẹp không thể nói hết.

“Tại sao Chúa lại để xảy ra như vậy?” Đó là câu hỏi của một em bé. Từ câu hỏi ‘đắng lòng’ ấy, ta phải thấy những câu hỏi khác: Tại sao một trẻ thơ, một chồi non của thế giới phải ngậm ngùi cất lên câu hỏi đầy thương đau? Thế giới đã làm gì, con người đã làm gì, Giáo hội đã làm gì cho những kẻ ngày đêm sống trong đau khổ? Đặc biệt, tất cả chúng ta có thấy trách nhiệm của mình trước đau khổ của con người? Phải chăng câu hỏi của em bé cũng chính là tiếng kêu của thời đại, đang thúc dục Giáo hội và mỗi người chúng ta phải hành động?

Vô cảm – căn bệnh trầm kha của thời đại

Nhân loại đã bước vào kỷ nguyên mới, một kỷ nguyên với rất nhiều thuận lợi và tiện ích cho con người, đặc biệt là giới trẻ có điều kiện học hỏi, trau dồi và tiếp cận với nhiều phương tiện hiện đại. Tiếc thay, giá trị đạo đức lại bị xói mòn bởi chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cá nhân, mà ‘bệnh vô cảm’ là một biểu hiện. Khi nói tới văn hóa, chúng ta nghĩ tới những điều tốt đẹp. Văn hóa cần thiết cho cuộc sống, xã hội, quốc gia, kể cả Giáo hội. Nhưng ngày nay còn có những loại văn hóa độc hại: Văn hóa sự chết và văn hóa thờ ơ vô cảm. Đối với văn hóa sự chết, chúng ta dễ nhận thấy sự nguy hiểm, nhưng với văn hóa vô cảm, có thể chúng ta cho đó là ‘chuyện nhỏ’, bình thường thôi. Nhưng thật ra, nó vô cùng nguy hại và là mối đe dọa lớn nhất đối với con người. Người ta vì ích kỷ mà có thái độ ‘bất cần’, bàng quan, từ đó dẫn tới thờ ơ với mọi thứ, sự thờ ơ khiến người ta lãnh đạm, cuối cùng là vô cảm. Sự vô cảm ngày nay đã trở thành hội chứng, và người ta gọi là ‘bệnh vô cảm’. Bệnh này không ‘nhẹ’ như chúng ta tưởng, mà nó đã trở thành chứng ‘nan y’ như một loại ung thư bất trị; nó không làm người ta chết về thể lý, nhưng nó làm người ta chết về tinh thần. Đó là sự chai lì cảm xúc, xơ cứng tâm hồn, sống dửng dưng với những gì xảy ra trong xã hội chung quanh mình.

Helen Adams Keller (1880-1968), nhà văn, nhà chính trị và giảng viên người Mỹ, đã nhận xét: “Chúng ta có thể đã chữa trị được hầu hết thói xấu xa, nhưng chúng ta vẫn chưa tìm ra liều thuốc cho thói xấu tồi tệ nhất, đó là sự vô cảm của con người”. Chính khách Bob Riley (1944, Hoa Kỳ) nói: “Khoan dung cho cái ác chỉ dẫn tới thêm nhiều điều ác. Khi người tốt đứng nhìn và chẳng làm gì trong sự thống trị của cái ác, cộng đồng của họ sẽ bị nuốt trọn”. Đó là sự bàng quan, chính sự bàng quan là một dạng thờ ơ, vô cảm đối với tha nhân. Nhà bác học Albert Einstein (1879-1955) xác định: “Thế giới sẽ bị hủy diệt không phải bởi những người làm điều ác, mà bởi những người đứng nhìn mà không làm gì cả”[2]. Cách so sánh thật đáng giật mình. Thật vậy, mọi thứ, kể cả tội lỗi, đều có tính dây chuyền như hiệu ứng Domino, đó chính là tính liên đới.

Có rất nhiều lý do để giải thích cho thái độ dửng dưng vô cảm, mà một trong những lý do của căn bệnh này xuất phát từ tâm lý ‘sợ’. Sợ cái ác, sợ kẻ gian, sợ trách nhiệm, sợ liên lụy đến bản thân, sợ bị lừa đảo… Vô cảm còn là hậu quả của lối sống thực dụng, đề cao chủ nghĩa vật chất và lợi ích cá nhân theo kiểu ‘không phải chuyện của tôi’ ngày càng bám rễ sâu vào hệ tư tưởng của con người ngày nay. Nhưng thật ra, mầm mống sâu sa của căn bệnh vô cảm chính là cách giáo dục từ trong gia đình. Không ít bậc cha mẹ dạy con theo kiểu triết lý makeno (mặc kệ nó) để tránh dính dáng đến người khác, tránh liên lụy bản thân. Triết lý sống này cũng được người lớn áp dụng trong cách cư xử với nhau để được an toàn, thậm chí còn tồn tại thứ ‘vô cảm thấp hèn’ lợi dụng tai họa của người khác để trục lợi cho bản thân. 

Ngoài ra, bệnh vô cảm còn xuất phát từ nhiều nguyên nhân tương tác lẫn nhau trong xã hội. Trong xã hội hiện đại con người sống duy lý, tương quan giữa người với người ngày càng được chuẩn hoá, mọi vấn đề phải được giải quyết rõ ràng, nhưng đôi khi cái lý có thể lấn át cả cái tình. Mặt khác, nếu con người sống trong một xã hội không có một trật tự đúng đắn, họ nhận thấy sự hiện diện cũng như công việc của mình có thể bị đe doạ, thì mỗi cá nhân sẽ hình thành bản lĩnh đối phó và bộc lộ khuynh hướng ích kỷ tiềm tàng. Từ đó tạo điều kiện dung dưỡng căn bệnh vô cảm.

 Tâm tình Đức Thánh Cha Phanxicô

Lối sống ích kỷ đã lan rộng khắp mọi nơi đến nỗi Đức Thánh Cha Phanxicô gọi đó là sự “thờ ơ toàn cầu hóa”[3]. Thế giới này đang muốn thu nhỏ lại và đóng cánh cửa liên lạc giữa Thiên Chúa và loài người “dửng dưng với đồng loại và với Thiên Chúa cũng là một sự cám dỗ đối với Kitô hữu chúng ta”. Sự thờ ơ mang tính toàn cầu nằm ở cấp độ cơ cấu, trong một trật tự thế giới mà ngẫu tượng tiền bạc được cổ võ bất chấp nhân phẩm con người. Tuy nhiên, sự thờ ấy có lẽ cũng không xa lạ trong xã hội mà chúng ta đang sống. Sự ác ngày càng ngang nhiên, xấc xược; sự vô cảm ngày một thêm báo động… Đạo đức xã hội xuống cấp, thể hiện sự lạc hướng trong việc định hình một triết lý nhân sinh chuẩn mực cho xã hội.

Lý giải hiện tượng vô cảm mang tính toàn cầu trên đây, Đức Thánh Cha nhận định rằng: Chúng ta đang sống trong nền văn hóa dễ dãi, thoải mái, khiến chúng ta trở nên câm điếc trước những tiếng kêu của những ai đang đau khổ và cần đến tình thương và sự chăm sóc. Hiện tượng toàn cầu hóa về kinh tế đã thúc đẩy sự phát triển của các quốc gia, các nền kinh tế yếu kém năng động được hưởng lợi, cùng cả sự bất lợi từ hiện tượng này. Nhưng như nhận định trong tông huấn Niềm Vui Tin Mừng: chúng ta phải nói không với một nền kinh tế loại trừ và bất bình đẳng xã hội[4]. Tại sao tin tức về việc chứng khoán hạ 2 điểm lại được chú ý hơn, so với tin tức của một bà cụ vô gia cư, bị chết cóng vì lạnh bên lề đường? Trong nền kinh tế loại trừ, người ta sẵn sàng coi con người chỉ là phương tiện để thúc đẩy nền kinh tế, mà đa phần lợi nhuận lại rơi vào tay một thiểu số giàu có, lũng đoạn. Một dạng ngẫu tượng giữa thế giới là việc tôn thờ tiền bạc, như là hình thức mới của việc thờ Con Bò Vàng xưa. Đó chính là việc tôn thờ tiền bạc trong một nền kinh tế đa diện, không hề có một mục đích nhân bản. Hậu quả của sự loại trừ, bóc lột và việc tôn thờ tiền bạc này đẩy con người đến chỗ thờ ơ với những nỗi đau, những mất mát và thống khổ của đồng loại. Họ gồm tóm con người vào một định nghĩa: tiêu thụ, sử dụng và sẵn sàng loại bỏ khi hết giá trị sử dụng.

“Chúa không dửng dưng với chúng ta. Mỗi người trong chúng ta đều có chỗ trong lòng của Ngài, Ngài biết đích danh chúng ta, chăm sóc và đi tìm chúng ta mỗi khi chúng ta bỏ Ngài. Chúa quan tâm đến mỗi người chúng ta; tình yêu không cho phép Chúa dửng dưng với những gì xảy đến với chúng ta” Đó là lời trong phần đầu của sứ điệp “Anh em hãy vững lòng” (Gc 5,8), mùa Chay 2015 của Đức Phanxicô. Dựa trên Lời Chúa, Đức Thánh Cha cho thấy sự ray rứt của mình về thái độ vô cảm đang diễn ra trên toàn thế giới. Với khẳng định, Thiên Chúa là Đấng không vô cảm, “Thiên Chúa không dửng dưng với chúng ta”, Đức Thánh Cha không dấu được nỗi đau thắt, khi đứng trước “hiện tượng toàn cầu hóa thói vô cảm” (Sứ điệp mùa Chay 2015). Như tiếng kêu cứu thay những phận người xấu số, Đức Thánh Cha đòi cả Giáo hội, đòi từng giáo xứ, từng cộng đoàn dòng tu, từng Kitô hữu hãy dấn thân, hãy hy sinh, hãy làm một điều gì cụ thể cho mọi người đau khổ; cho các nạn nhân của bạo quyền, bạo lực; cho việc đẩy lùi thói vô cảm, đẩy lùi sự an thân một cách độc ác của một phần lớn nhân loại. Đức Thánh Cha thẳng thắn nói lên khao khát của mình: “Tôi mong muốn biết bao rằng nơi nào Giáo hội hiện diện, đặc biệt là các giáo xứ và các cộng đoàn của chúng ta, nơi ấy sẽ trở thành những hải đảo giữa lòng đại dương vô cảm!” (Sứ điệp mùa Chay 2015).

Dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu – nguồn gợi hứng cho đời thánh hiến

Khi nhân loại đang chìm trong cơn đói hạnh phúc, khi con người đang khao khát đến cháy bỏng những cơn khát tình yêu, những vẻ đẹp chân thực, những giá trị đạo đức, những mối tương giao thân thương không đố kỵ, hận thù, những khoảng trời bình an, thì thế giới vẫn nhận ra một vẻ đẹp thanh thoát, thánh thiện của Giáo hội qua nhịp đời của những người thánh hiến. Họ nhìn thấy những người lội ngược dòng mà vẫn an nhiên, mạnh mẽ. Họ nghe được những giai điệu, âm hưởng của bản trường ca tình yêu nơi những tu sĩ. Tuy nhiên, linh mục – tu sĩ là người được tuyển chọn, nhưng không phải là những con người siêu phàm xuất chúng. Họ cũng có những khuyết điểm, cũng hỉ, nộ, ái… cũng tham, sân, si. Nhưng nhờ ơn Chúa, họ sẽ vượt lên tất cả những tình cảm, những quyền lợi mang tính nhân loại đó để vươn tới một tình cảm, một quyền lợi cao hơn để trở thành Bí Tích về sự hiện diện của Thiên Chúa. Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã chọn năm 2015 là năm Đời Sống Thánh Hiến (khai mạc 30.11.2014 và bế mạc ngày 02.2.2016). Thiết nghĩ, hình ảnh tư tế, Lêvi trong dụ ngôn “người Samaritanô nhân hậu” đáng để chúng ta suy nghĩ về sứ vụ dấn thân và ‘đánh thức’ tình yêu dâng hiến theo trái tim vị Mục Tử Nhân Lành.

Kể câu chuyện người Samaritanô nhân hậu, Chúa ‘lật đổ’ thái độ vô cảm của hàng giáo sĩ trong Giáo hội. Hãy nghe Chúa nói về hàng giáo sĩ của Chúa qua Tin Mừng thánh Luca chương 10, câu 25 đến 37: “Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêricô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống, nửa chết. Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy nạn nhân, ông tránh qua bên kia mà đi. Rồi một thầy Lêvi tới chỗ ấy, thấy thế, cũng tránh qua một bên mà đi…”.

Tư tế là ai? Lêvi là ai? Đó là những người tương đương bậc ‘chân tu’ thời đại. Họ là giám mục, linh mục của Chúa. Hình ảnh tư tế, Lêvi, đã làm ngơ, đã thể hiện sự vô cảm đến độ ‘độc ác’ trước thực trạng của người bị cướp đánh có nguy cơ mất mạng sống, trở thành một gương mù, một phản chứng lớn vô cùng đối với chính đời dâng hiến của họ. Mặc dù Chúa không trực tiếp kết tội, nhưng trong mấy từ “tránh qua bên kia mà đi”, cho thấy Chúa không bằng lòng. Tại sao lại tránh? “Tránh qua bên kia” nghĩa là người bị tấn công đang bất động ngay dưới chân mình, cản bước mình, nên mới phải “tránh” mà đi. Họ đã bước vào đời hiến dâng, họ dạy người khác phải hy sinh, phải hướng thiện, phải chấp nhận bỏ mình vì tha nhân, sao chính họ lại không hiến thân? Họ dạy phải nhân từ, phải yêu thương, sao họ vô cảm trước nỗi đau của đồng loại? Thôi thì hãy cố tìm lý lẽ tốt để biện minh giúp những người đang bị ‘kết tội’: Họ sợ hãi! Bởi sợ nên vô tâm. Tư tế và Lêvi vô tâm đối với người bị cướp vì họ sợ nhiễm ô uế. Luật Do thái quy định, ai đụng chạm vào người ngoại giáo, nhất là đụng chạm vào xác chết sẽ bị nhiễm ô uế. Cứ cho rằng, người bị cướp có thể là người ngoại, lại còn sắp chết. Vì thế, để khỏi nhiễm ô uế, tư tế và Lêvi trong dụ ngôn đã “tránh qua bên kia mà đi”. Dù vậy, sự ‘kết tội’ Chúa quy cho những nhà ‘chân tu’ của dụ ngôn, khó có ngôn từ khả dĩ giúp họ có thể ‘chạy tội’ [5].

Mặt khác, vì lời Chúa dạy: “Các con đừng sợ những kẻ giết được thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng ra, các con phải sợ Đấng có thể tiêu diệt cả xác lẫn hồn trong hỏa ngục” (Mt 10,28), và các tư tế, Lêvi xưa không được phép sợ mà “tránh sang bên kia”, thì những nhà chân tu ngày nay càng không được phép vô cảm. Thế nhưng, đâu đó vẫn còn những nhà lãnh đạo trong Giáo hội sống trong sự nơm nớp lo sợ tương tự như thế. Chẳng hạn như sợ không được xây nhà thờ mà đành nhắm mắt làm ngơ trước cảnh bất công của giới cầm quyến; hoặc vì quyền lợi tư riêng mà lặng thinh trước cảnh người nghèo bị áp bức; hoặc vì để dễ sống, để yên thân sống mà không thèm đếm xỉa gì đến những anh chị em đang bị đố kỵ, bị rẻ rúng, bị chà đạp quyền sống…

Thế giới quanh ta vẫn còn đó, rất nhiều những người bị ‘cướp’ như hình ảnh người bị cướp trong dụ ngôn Người Samaritanô nhân hậu. Đó là những bào thai vô phương tự vệ vẫn bị giết, bị trục xuất ra khỏi lòng mẹ không thương tiếc. Ngày nay Việt Nam đã ‘được nâng lên’ hàng “top” thế giới về phá thai. Thật mỉa mai! Thật chua xót! Một quốc gia nghèo, lạc hậu, không phải vươn lên hết nghèo, hết lạc hậu, mà lại ‘vươn lên’ hàng đầu về thảm trạng phá thai.

Đó là những trẻ em bị cướp mất tuổi thơ khi người ta buộc các em phải lao động nặng nhọc, phải tham gia vào con đường tội ác, phải đem chính giá trị tuổi thơ của mình phục vụ những kẻ mang hình người nhưng lương tâm thú tính trong các nhà chứa, trong các đường dây tình dục… Và còn biết bao nhiêu mảnh đời trẻ thơ phải chấp nhận sống chui rúc ở bãi rác, gầm cầu, phố chợ… Đó còn là những mảnh đời ngụp lặn trong dòng đời nhầy nhụa, mất định hướng sống, mất niềm hy vọng sống. Cũng có thể họ là những người sống lương thiện, nhưng bị nghi ngờ, bị hiểu lầm, bị chèn ép, bị bóc lột, bị hiếp đáp… Đó còn là những cụ già bị bỏ quên trên góc phố, bị mất tất cả sức lao động, nhưng vẫn phải lê thân từng ngày đội nắng, đội mưa bán vé số, lượm ve chai, ngửa tay xin lòng trắc ẩn của mọi người…

Tất cả những người ấy, đều rất cần chúng ta, những bàn tay của người Samaritanô thời đại. Chúng ta hãy dẹp bỏ thái độ vô tâm của tư tế, Lêvi để cúi xuống trên những anh chị em đau khổ của mình. Hãy nhớ rằng, chỉ khi trở thành người Samaritanô, ta mới thật sự là anh em của những người bị cướp ấy. Lẽ ra chúng ta phải mang trong mình, khắc sâu trong nội tâm mình tình yêu của Thiên Chúa, thái độ âu yếm, cảm thông của Thiên Chúa. Lời Thiên Chúa dạy yêu thương để sống nhân ái hơn, quan tâm hơn, gần cận anh chị em của mình hơn… Trong khi đó, nhiều người không đứng trong hàng ngũ ‘chân tu’ như chúng ta, thậm chí họ chỉ là người ngoại giáo như người Samari ngoại giáo, lại sống đức tin, sống lời của Chúa, sống phù hợp thánh ý Chúa, sống đúng theo lề luật Chúa.

Thật trớ trêu, thật mâu thuẫn cho những người sống đời thánh hiến có thói vô cảm của tư tế, Lêvi trong dụ ngôn: Bởi họ luôn là biểu tượng của những người sống gần Thiên Chúa, nhưng hình như lòng họ không có Chúa bao nhiêu. Còn những người Samaritanô giữa đời, cứ tưởng nơi lòng họ ‘chất đời’ nhiều hơn ‘chất Chúa’, thì hành động của họ lại cho thấy lòng họ ‘đầy Chúa’. Chúng ta hãy mang hình ảnh người ngoại giáo Samaritanô hiên ngang sống cho đức tin, hiên ngang lao vào mọi mặt trận của đời sống con người để đánh phá mọi thứ ‘cướp’, trả lại cho con người cuộc sống yên bình, hạnh phúc. Bất cứ khi nào ý thức mình là người sống trong đời tu, ý thức mình đã hiến dâng cho Chúa, thì càng can đảm bênh vực sự thật, công lý, tình yêu, con người… Hãy loại trừ hình ảnh tư tế, Lêvi ích kỷ, chỉ tìm vinh thân mà bỏ qua mọi điều tốt phải thực thi, không hề đoái hoài đến những con người bất hạnh, dù họ có ở ngay trước mắt mình.

Tất cả chúng ta, dù là tu sĩ, linh mục, hay bất kỳ ai, khi đã mang danh kitô hữu, thì hãy đào tạo lương tâm nhạy bén trước Thiên Chúa và cuộc đời. Hãy biết sống có tâm, biết chạnh lòng thương, biết nhìn đến nhu cầu của con người, không sống vô tâm, không sợ hãi bất cứ điều gì. Bởi khi sống vì hạnh phúc của người khác, ta sẽ bắt gặp hạnh phúc của chính mình. Chúng ta hãy luôn nhớ lời Chúa kết luận cho dụ ngôn Người Samaritanô nhân hậu: “Hãy đi, và làm như vậy” (Lc 10,37), để dấn thân, để can đảm, để ra khỏi chính mình, để sáng danh Chúa, để làm cho không còn tình trạng ‘cướp’.

Một vài đúc kết

Một xã hội vô cảm là một xã hội chết! Một cuộc sống vô vị và tẻ nhạt của một cỗ máy vô tri, chắc hẳn chẳng ai muốn như vậy. Đại văn hào M.Gorki đã từng nói: “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc cực mà là nơi không có tình thương” [6]. Con người sống mà không có tình thương thì chẳng khác chi con vật, chẳng khác chi cái xác không hồn, tồn tại giữa dòng đời một cách vô nghĩa, và sẽ chết dần mòn trong cô đơn, lạnh lẽo. Thế nên, chúng ta hãy tích cực chống lại ‘bệnh vô cảm’, phải sống có tình thương, có trách nhiệm với cộng đồng và đặc biệt là phải mở lòng mình ra với cuộc sống. Chúng ta nên có một ‘trái tim nóng’ để biết khóc, biết cười, biết lắng nghe, biết yêu thương, biết rung cảm với mọi người. Hãy phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp: “Lá lành đùm lá rách”, “Thương người như thể thương thân”; phải yêu thương, kính trọng và sống hết lòng với mọi người chung quanh; phải biết: “Vui cùng người vui, khóc cùng kẻ khóc (Rm 12,14). Đó là liều thuốc đặc hiệu để chữa ‘bệnh vô cảm’.

Lời nhắn nhủ của Mẹ Têrêxa Cancuta như một thông điệp sâu sắc: “Sự nghèo đói khủng khiếp nhất chính là sự cô đơn, bị bỏ rơi và cảm nhận không được yêu thương”. Có thể chúng ta không xóa được nỗi thống khổ của người ta, nhưng chính sự hiện diện của chúng ta trong nỗi thống khổ của họ sẽ đem lại cho họ niềm hy vọng và sự chữa trị. Chúng ta không thể bù đắp cho họ hết những thiếu thốn và mất mát do những bất công xã hội gây ra, nhưng sự chia sẻ của chúng ta sẽ làm vơi đi những tủi nhục và cay đắng trong đời họ. Chúng ta không thể tạo cho họ một tâm hồn tươi mới, nhưng sự đồng hành gần gũi với họ trong cuộc sống sẽ làm cho họ phai nhạt dần những mặc cảm, u uất, có khi là những căm phẫn, hận thù. Có ai sống mà lại không có khổ đau, không có thập giá, thế nhưng sức nặng của thập giá sẽ vơi nhẹ nếu như chúng ta biết ra khỏi chính mình để đến với tha nhân, giúp đỡ và xoa dịu nỗi khổ đau của người khác. Không ai quá nghèo để không thể cho đi. Một nụ cười cảm thông, một ánh mắt khích lệ, một bàn tay nâng đỡ, một chén cơm nhỏ bé được chia sẻ với tất cả tấm lòng yêu thương, phải chăng đó là những cái chúng ta có thể cho đi, phải chăng đó là những cái mà nhiều người đang mong đợi nơi chúng ta. Cánh cửa thời đại hôm nay đang đợi chờ, có một bàn tay đang chìa ra cho chúng ta nắm đầy ấm áp và yêu thương, có những điều tuyệt vời ẩn sau những khó khăn trắc trở. Giữa những đau khổ muôn trùng đang trải qua, chúng ta hãy tiếp tục ca ngợi tình yêu Chúa. Giữa biết bao người đang quằn quại rên xiết trong bệnh tật, xin cho sự hiện diện của chúng ta trở nên dấu chứng cho tình yêu Thiên Chúa đối với con người, xin cho mỗi người chúng ta trở thành bàn tay đưa ra nối kết con người với Thiên Chúa.

Từ trong gia đình trong giáo xứ và trong những mối quan hệ đời thường, mỗi người biết tôn trọng phẩm giá, tôn trọng thân xác và tinh thần con người hơn các giá trị vật chất khác. Cần một nền giáo dục mang tính nhân bản toàn diện, khơi gợi nơi con người những giá trị yêu thương, sống quảng đại, và có tinh thần sống liên đới với tha nhân. Mỗi người biết rung động trước những nghĩa cử đẹp, và biết xót xa trước những bất hạnh trái ngang, tất sẽ biết sống cho đi và hy sinh cho người khác để tạo nên những sắc màu tuyệt đẹp của đức ái Công giáo. Người viết xin mượn mấy câu thơ để tạm kết:

“…Vẫn phẳng lì xanh rêu

Lòng người lạnh tanh, những trái tim hóa đá

Ngủ vùi trong giấc mơ buốt giá

Sự giả dối được ngụy trang

bằng ngôn ngữ thánh thần

Tình yêu ngổn ngang bàn cân

Hạnh phúc được chạm khắc          

trên hoa văn của đồng tiền rực rỡ

Nheo nhóc, mốc meo

những thân phận gầm cầu xó chợ

Khắc khoải, đớn đau, rã rượi chốn phong cùi.

Bản hợp xướng cuộc đời

Réo rắt những cung bậc u trầm hoang lạnh

Những mảng tối luênh loang bức tranh ám ảnh

Gam màu nào sẽ sưởi ấm con đường ?

Trong miên man cuộc đời

Khe khẽ một hồi chuông…” [7]

[1] Vũ Văn An, Giây phút cảm động nhất cuộc Tông Du của ĐGH Phanxicô tại Philippines, báo điện tử WHĐ, 18.1.2015

[2] Vương Trung Hiếu, Từ điển danh ngôn thế giới, NXB Mỹ Thuật, 2010, tr 97

[3] ĐTC Phanxicô, Sứ điệp mùa chay 2015, Ðức Thành dịch theo bản tiếng Anh của vatican.va

[4] ĐTC Phanxicô, Tông huấn “Niềm vui Tin Mừng”, Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ từ Evangelii Gaudium, 24.11.2013

[5] Nguyễn Minh Hùng, Hãy thắng thói vô cảm, báo điện tử VietCatholic, 19.3.2015

[6] Sđd, 122

[7] G. Phú Yên, Niệm khúc vô thường, 1997

(Trích từ tập san “Đức Tin và Văn Hoá”, số 5, ĐCV Vinh Thanh)

About The Author

Number of Entries : 573

© TRANG THÔNG TIN CHÍNH THỨC CỦA ĐẠI CHỦNG VIỆN VINH THANH

Scroll to top